- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Tấn M - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? I. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Tấn M phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 249 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VĨNH LONG TỈNH VĨNH LONG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 62/2019/HS-ST Ngày: 30-7-2019 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VĨNH LONG - TỈNH VĨNH LONG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Hải Châu
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Phạm Văn Tư
2. Bà Dương Thị Phụng
Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn An Phước - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Vĩnh Long, tỉnh Vĩnh Long
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vĩnh Long, tỉnh Vĩnh Long tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Lan Hương - Kiểm sát viên
Ngày 30 tháng 7 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Vĩnh Long xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 60/2019/TLST-HS ngày 21 tháng 6 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 65/2019/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 7 năm 2019 đối với bị cáo:
Họ và tên: Nguyễn Tấn M, sinh ngày 15/5/1997, nơi sinh: tỉnh Đồng Tháp; nơi cư trú: Tổ M, ấp T, xã N, huyện Châu Thành, tỉnh Đồng Tháp; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ học vấn: 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn T, sinh năm 1970 và bà Huỳnh Ngọc Y, sinh năm 1974; vợ con: Không có; tiền án: Không; tiền sự: 01 lần, ngày 22/02/2018 Công an huyện Châu Thành, tỉnh Đồng Tháp xử phạt 2.000.000 đồng về hành vi xâm hại sức khỏe người khác.
Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 16/3/2019 đến nay, có mặt tại phiên tòa.
- Người chứng kiến: Anh Nguyễn Vũ T, sinh năm: 1997; nơi cư trú: Ấp A, xã N, huyện Tam Bình, tỉnh Vĩnh Long (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Bị cáo Nguyễn Tấn M nghiện chất ma túy từ năm 2018, vì muốn sử dụng ma túy nên vào khoảng 09 giờ ngày 15/3/2019 M đón xe khách đi từ nhà ở ấp T, xã N, huyện Châu Thành, tỉnh Đồng Tháp đến khu vực đường Bàn Cờ, Quận 3, Thành phố Hồ Chí Minh gặp một người phụ nữ không rõ họ tên, địa chỉ mua 01 bịch ma túy đá với giá 1.600.000 đồng rồi bỏ bịch ma túy vào hộp thuốc lá hiệu Jet cất giữ trên người. Sau đó M đón xe quay về thuê nhà trọ Yên Bình thuộc xã N, thành phố Vĩnh Long để ngủ. Đến khoảng 18 giờ cùng ngày M mang theo toàn bộ số ma túy đã mua đi xuống khu vực bờ kè sông Cổ Chiên thuộc ấp A, xã N, thành phố Vĩnh Long lấy một phần ma túy ra sử dụng, số ma túy còn lại M cho vào vỏ hộp thuốc lá hiệu Jet để xuống nền đất tại vị trí bị cáo đứng. Đến khoảng 22 giờ 30 phút ngày 15/3/2019 lực lượng Công an thành phố Vĩnh Long trên đường tuần tra đến khu vực bờ kè sông Cổ Chiên thuộc ấp A, xã N, thành phố Vĩnh Long phát hiện M có biểu hiện tàng trữ, sử dụng trái phép chất ma túy nên tiến hành kiểm tra phát hiện thu giữ trên nền đất tại vị trí M đang đứng có 01 cuốn sổ hộ khẩu ghi tên chủ hộ là Nguyễn Văn T, bên trên cuốn sổ hộ khẩu có 01 vỏ hộp thuốc Jet bên trong hộp có 01 bịch nilon chứa nhiều tinh thể trong suốt; thu giữ 01 điện thoại di động hiệu itel màu đen. Qua làm việc M thừa nhận số tinh thể trong suốt công an thu giữ là ma túy đá M mua mục đích để sử dụng nên lực lượng Công an thành phố Vĩnh Long tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và thu giữ các vật chứng có liên quan.
Kết luận giám định số 129/KLGĐ-PC09 ngày 18/3/2019 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Vĩnh Long kết luận số tinh thể trong suốt thu giữ của Nguyễn Tấn M là ma túy, có khối lượng 2,1961 gam, loại Methamphetamine.
Bản cáo trạng số: 63/CT-VKSND TPVL ngày 19/6/2019 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vĩnh Long truy tố bị cáo Nguyễn Tấn M về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vĩnh Long tham gia xét xử đã nêu quan điểm luận tội: Khẳng định cáo trạng truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội và đúng pháp luật. Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào các quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Tấn M từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù.
Đối với người phụ nữ bán ma túy cho bị cáo do không xác định được họ tên, địa chỉ cụ thể nên không làm việc được, khi nào làm việc được sẽ xử lý sau.
Về xử lý vật chứng: Đề nghị áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Đề nghị tịch thu tiêu hủy 01 gói niêm phong sau giám định có chữ ký của người chứng kiến Nguyễn Mai Định và chữ ký của giám định viên Phạm Thị Hồng Hạnh, có đóng dấu của Phòng Kỹ thuật Hình sự - Công an tỉnh Vĩnh Long; 01 (một) vỏ họp thuốc lá hiệu Jet.
Trả lại cho bị cáo Nguyễn Tấn M 01 (một) điện thoại Itel màu đen viền trắng đã qua sử dụng, nhưng cần giữ lại để đảm bảo thi hành án.
Án phí: Đề nghị áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về án phí, lệ phí Toà án. Buộc bị cáo Nguyễn Tấn M phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo Nguyễn Tấn M đã khai nhận toàn bộ hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy của mình đúng như cáo trạng đã nêu và đồng ý với tội danh mà bị cáo bị truy tố. Bị cáo không tham gia tranh luận, trong phần nói lời sau cùng xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Vĩnh Long, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vĩnh Long, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo và những người tham gia tố tụng không người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Bị cáo Nguyễn Tấn M khai nhận: Bị cáo là người nghiện ma túy từ năm 2018 nên vào khoảng 09 giờ ngày 15/3/2019 M đón xe khách đi từ nhà ở đến khu vực đường Bàn Cờ, Quận 3, Thành phố Hồ Chí Minh gặp một người phụ nữ không rõ họ tên, địa chỉ mua 01 bịch ma túy đá với giá 1.600.000 đồng. Sau đó bị cáo đón xe quay về thuê nhà trọ Yên Bình thuộc xã N, thành phố Vĩnh Long để ngủ. Đến khoảng 18 giờ cùng ngày bị cáo mang theo toàn bộ số ma túy đã mua đi xuống khu vực bờ kè sông Cổ Chiên thuộc ấp A, xã N, thành phố Vĩnh Long lấy một phần ma túy ra sử dụng, số ma túy còn lại bị cáo cho vào vỏ hộp thuốc lá hiệu Jet để xuống nền đất tại vị trí bị cáo đứng thì bị lực lượng Công an thành phố Vĩnh Long trên đường tuần tra phát hiện bị cáo tàng trữ, sử dụng trái phép chất ma túy nên Công an tiến hành kiểm tra và thu giữ các vật chứng có liên quan. Kết luận giám định số 129/KLGĐ-PC09 ngày 18/3/2019 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Vĩnh Long kết luận số tinh thể trong suốt thu giữ của bị cáo là ma túy, có khối lượng 2,1961 gam, loại Methamphetamine. Như vậy hành vi của bị cáo Nguyễn Tấn M đã cấu thành tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy", tội danh và hình phạt được được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự như Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vĩnh Long truy tố bị cáo là chính xác.
Ma túy nói chung, ma túy loại Methamphetamine nói riêng là một trong những chất gây nghiện cho người sử dụng, khi sử dụng vào cơ thể sẽ gây ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe, tính mạng cho người sử dụng và cũng là nguyên nhân làm phát sinh nhiều loại tội phạm khác. Do có nhiều tác hại nên Nhà nước có chính sách quản lý độc quyền và nghiêm cấm mọi hành vi tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép đều bị pháp luật xử lý nghiêm khắc. Bản thân bị cáo là người có đủ khả năng nhận thức rõ hành vi của mình bị pháp luật cấm, thấy trước được tác hại nhưng vẫn thực hiện một cách cố ý tàng trữ ma túy để sử dụng cho bản thân điều đó thể hiện ý thức xem thường pháp luật bị cáo. Hiện nay loại tội phạm này trên địa bàn thành phố Vĩnh Long đang diễn biến hết sức phức tạp và có chiều hướng ngày càng gia tăng đã tác động xấu đến trật tự xã hội và gây tâm lý bất an trong quần chúng nhân dân. Vì vậy, cần phải xử lý bị cáo một mức án nghiêm khắc, phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới đủ tác dụng răn đe, giáo dục riêng đối với bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội.
Xét thấy trong quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay các bị cáo đã thật thà khai nhận hành vi phạm tội, ăn năn hối cải. Đây cũng là tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Do đó, cần xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.
Đây là loại tội phạm ngoài hình phạt chính còn có thể áp dụng hình phạt tiền bổ sung theo qui định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội hơn nữa bản thân bị cáo là người nghiện, không có nghề nghiệp ổn định nên không cần thiết áp dụng hình phạt tiền đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng: Đối với 01 (một) gói niêm phong sau giám định có chữ ký của người chứng kiến Nguyễn Mai Định và chữ ký của giám định viên Phạm Thị Hồng Hạnh, có đóng dấu của Phòng Kỹ thuật Hình sự Công an tỉnh Vĩnh Long; 01 (một) vỏ họp thuốc lá hiệu Jet là vật cấm tàng trữ không có giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.
Đối với 01 (một) điện thoại Itel màu đen viền trắng đã qua sử dụng là điện thoại bị cáo sử dụng để liên hệ với gia đình không liên quan đến việc phạm tội nên trả lại cho bị cáo, nhưng cần giữ lại để đảm bảo thi hành án.
Đối với người phụ nữ bán ma túy cho bị cáo do không xác định được họ tên, địa chỉ cụ thể nên không làm việc được, khi nào làm việc được sẽ xử lý sau.
Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
I. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Tấn M phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Tấn M 02 (hai) năm tù.
Thời hạn chấp hành hình phạt tù của bị cáo được tính từ ngày 16/3/2019.
II. Xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Các vật chứng theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 21/6/2019 giữa Công an thành phố Vĩnh Long và Chi cục thi hành án dân sự thành phố Vĩnh Long được xử lý như sau:
Tịch thu tiêu hủy 01 (một) gói niêm phong sau giám định có chữ ký của người chứng kiến Nguyễn Mai Định và chữ ký của giám định viên Phạm Thị Hồng Hạnh, có đóng dấu của Phòng Kỹ thuật Hình sự - Công an tỉnh Vĩnh Long; 01 (một) vỏ họp thuốc lá hiệu Jet.
Trả lại cho bị cáo 01 (một) điện thoại Itel màu đen viền trắng đã qua sử dụng, không kiểm tra bên trong máy có niêm phong chữ ký của Huỳnh Thị Yến Ngọc và Nguyễn Bảo Quốc, nhưng cần giữ lại để đảm bảo thi hành án.
III. Án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về án phí, lệ phí Toà án và danh mục ban hành kèm theo;
Buộc bị cáo Nguyễn Tấn M nộp 200.000 đồng (hai trăm ngàn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
| Nơi nhận: - Bị cáo và trại giam; - TAND tỉnh VL; - CA TPVL; - VKSND TPVL; - VKSND tỉnh VL; - CCTHADS TPVL; - Sở Tư pháp tỉnh VL; - Phòng HS CA tỉnh VL; - Lưu hồ sơ. | Phạm Hải Châu |