vanban.org

Bản án 62/2019/HSST — Hình sự

TAND huyện Sốp Cộp, tỉnh Sơn La Tuyên án 07/11/2019 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo: Quàng Văn T phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy.

Xử phạt bị cáo: Quàng Văn T 20 (Hai mươi) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ, tạm giam là ngày 16/7/2019. Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Quàng Văn T - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo: Quàng Văn T phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN SỐP CỘP
TỈNH SƠN LA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 62/2019/HS-ST
Ngày 07 tháng 11 năm 2019

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SỐP CỘP TỈNH SƠN LA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Ứng Văn Cường

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Dương Đình Nghị

2. Ông Vừ Bả Chứ

- Thư ký phiên toà: Ông Hà Văn Thiết – Thư ký Toà án nhân dân huyện Sốp Cộp, tỉnh Sơn La.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Sốp Cộp, tỉnh Sơn La tham gia phiên toà: Ông Mai Văn Quyết - Kiểm sát viên.

Ngày 07 tháng 11 năm 2019 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Sốp Cộp, tỉnh Sơn La, xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 63/2019/TLST-HS ngày 15 tháng 10 năm 2019, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 208/2019/QĐXXST-HS, ngày 25/10/2019 đối với bị cáo:

Họ và tên: Quàng Văn T - Sinh năm: 1975 tại: Huyện Sốp Cộp, tỉnh Sơn La.

Nơi cư trú: Bản N, xã P, huyện Sốp Cộp, Sơn La; Nghề nghiệp: trồng trọt; Trình độ văn hóa 5/12; Dân tộc:Thái; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Quàng Văn U (đã chết) và bà Quàng Thị T; Bị cáo có vợ và 02 con; Tiền án: Không; Tiền sự: 01; Nhân thân: Đã bị tòa án xét xử một lần về tội „Mua bán trái phép chất ma túy” , Xử lý hành chính tại Tòa án một lần “Đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc với thời gian 24 tháng”. Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 16/7/2019 cho đến nay; có mặt tại phiên tòa.

- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Quàng Văn V, sinh năm 1995

Trú tại: Bản N, xã P, huyện Sốp Cộp, tỉnh Sơn La

Uỷ quyền tham gia tố tụng cho anh Lò Văn B, sinh năm 1993

Trú tại: Bản P, xã P, huyện Sốp Cộp, tỉnh Sơn La, có mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 14 giờ 50 phút ngày 16/7/2019, tổ công tác Công an huyện Sốp Cộp phối hợp với Công an xã Sốp Cộp, huyện Sốp Cộp làm nhiệm vụ tại khu vực bản Nà Sài, xã Sốp Cộp, huyện Sốp Cộp phát hiện bắt quả tang Quàng Văn T về hành vi cất giấu trái phép chất ma túy. Vật chứng thu giữ thu trong đế cao su gác chân bên phải phía sau xe mô tô của T đang điều khiển 01 gói nilon màu hồng bên trong chứa 02 viên nén màu hồng (Nghi là ma túy tổng hợp); 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Wave ZX, màu tím đen số khung: 040444; số máy 5074248; biển kiểm soát: 26H1-4990. Tổ công tác đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, niêm phong vật chứng thu giữ và dẫn giải Quàng Văn T về Công an huyện Sốp Cộp để điều tra, xử lý theo quy định của pháp luật

Ngày 18/7/2019 tại Phòng Kỹ thuật hình sự- Công an tỉnh Sơn La đã tiến hành lập Hội đồng bóc mở niêm phong, cân tịnh, lấy mẫu giám định và niêm phong lại vật chứng thu giữ trên. Kết quả cân tịnh: Cân tách bì toàn bộ 02 viên nén màu hồng có khối lượng lượng 0,189 gam (không phẩy một trăm tám mươi chín gam), lấy hết 02 viên để giám định, ký hiệu T.

Kết luận giám định số 1291 ngày 22/7/2019 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Sơn La, kết luận: “Mẫu gửi giám định ký hiệu T là ma túy, loại Methamphetamine; tổng khối lượng của mẫu gửi giám định là 0,189 gam. Tổng khối lượng ma túy thu giữ là 0,189 gam, loại Methamphetamine”.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo Quàng Văn T khai nhận hành vi phạm tội như sau:

Khoảng 11 giờ ngày 16/7/2019 T điều khiển chiếc xe mô tô biển kiểm soát: 26H1-4990 chở vợ tên là Lường Thị D từ nhà tại bản N, xã P, huyện Sốp Cộp, tỉnh Sơn La ra bến xe khách huyện Sông Mã, tỉnh Sơn La bắt xe khách đi thăm người thân ở xã Mường Lầm, huyện Sông Mã, sau đó T một mình điều khiển xe quay về nhà. Khi về đến cầu Khua Họ, bản Khua Họ, xã Huổi Một, huyện Sông Mã, tỉnh Sơn La thì gặp một người đàn ông dân tộc Mông đang đi bộ trên cầu, do có nhu cầu sử dụng ma túy nên T lại gần làm quen, hỏi mua được 01 viên ma túy tổng hợp và một ít Heroine với giá 40.000 đồng, sau đó T và người đàn ông đó vào trong bụi cây ven đường sử dụng hết số ma túy vừa mua được. Khi sử dụng ma túy xong, T xin người đàn ông đó được 02 viên ma túy do đang say ma túy nên T bảo người đàn ông đó mang đi cất giấu trong xe của mình rồi điều khiển xe mô tô về nhà. Khi về đến bản Nà Sài, xã Sốp Cộp thì bị tổ công tác Công an huyện Sốp Cộp kiểm tra phát hiện bắt quả tăng, thu giữ vật chứng như đã nêu trên.

Cáo trạng số 63/CT – VKS, ngày 14 tháng 10 năm 2019 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Sốp Cộp đã truy tố ra trước Tòa án nhân dân huyện Sốp Cộp để xét xử bị cáo Quàng Văn T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015.

Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung bản Cáo trạng đã nêu, phù hợp với các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.

Kiểm sát viên thực hành quyền công tố tại phiên toà sau khi trình bày lời luận tội vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng như nội dung bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 xử phạt bị cáo: Quàng Văn T từ 24 đến 30 tháng tù, Trả lại chiếc xe mô tô cho chủ sở hữu hợp pháp là anh Quàng Văn V, xử lý vật chứng theo quy định của pháp luật. Đồng thời đề nghị miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo, bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Bị cáo nhất trí với quan điểm luận tội của Viện kiểm sát về tội danh, điều luật áp dụng, không có ý kiến gì tranh luận với đại diện Viện kiểm sát

Người đại diện theo ủy quyền cho người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan nhất trí không có ý kiến gì tranh luận với đại diện Viện kiểm sát

Bị cáo T nhận tội và xin Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất để sớm trở về với cộng đồng trở thành công dân có ích cho xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Sốp Cộp, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Sốp Cộp, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan xuất trình tài liệu, chứng cứ phù hợp với quy định của pháp luật và không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã được thực hiện đều hợp pháp.

Tại phiên tòa hôm nay bị cáo Quàng Văn T khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung bản Cáo trạng đã nêu. Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, biên bản bắt người phạm tội quả tang và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Bị cáo đã trực tiếp tàng trữ 0,189 gam Methamphetamine với mục đích để sử dụng cho bản thân, hành vi của bị cáo đã phạm vào tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội phạm được quy định tại Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015. Trong vụ án này số lượng ma túy bị cáo tàng trữ là không lớn; ngoài mục đích sử dụng ra bị cáo không còn mục đích nào khác do đó Viện kiểm sát nhân dân huyện Sốp Cộp truy tố bị cáo về tội “ Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 có khung hình phạt tù từ 01 đến 05 năm tù là có căn cứ đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, phạm tội thuộc trường hợp nghiêm trọng, trực tiếp xâm phạm chính sách độc quyền quản lý của nhà nước về các chất ma túy, gây mất trật tự trị an xã hội tại địa phương. Số lượng ma túy bị cáo tàng trữ tuy không lớn, nhưng nếu không được ngăn chặn kịp thời chất độc hại này sẽ được đưa vào cơ thể con người làm suy thoái giống loài, nếu để lây lan, trôi nổi trong xã hội làm cho tệ nạn ma túy tại địa phương ngày càng phức tạp. Do đó bị cáo cần phải bị trừng trị thích đáng nhằm cải tạo, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.

Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự; tại cơ quan điều tra và tại phiên toà bị cáo thành khẩn khai báo, bố đẻ của bị cáo là người có công với cách mạng được nhà nước tặng thưởng Huân chương kháng chiến hạng nhất do đó cần cho bị cáo hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015.

Xét về nhân thân của bị cáo: Bị cáo không có tiền án, tuy nhiên bị cáo đã từng bị Tòa án nhân dân huyện Sốp Cộp xét xử một lần về tội mua bán trái phép chất ma túy tại bản án số 38/2007/HSST ngày 24/8/2007 bị xử phạt 28 tháng tù. Tiền sự có 01, năm 2017 bị Tòa án nhân dân huyện Sốp Cộp quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án là Đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc với thời gian 24 tháng. Sau khi chấp hành xong hình phạt trở về địa phương bị cáo không tự rèn luyện bản thân, tu trí làm ăn và dạy bảo con cái, mà tiếp tục thực hiện hành vi vi phạm pháp luật dẫn đến phải đưa ra xét xử tại phiên tòa ngày hôm nay. Do đó để trừng trị đối với người đã thực hiện hành vi phạm tội, cũng như công tác đấu tranh phòng chống tội phạm về ma túy, cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội trong một thời gian nhất định mới đảm bảo cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành công dân có ích cho xã hội.

Đối với người đã trực tiếp bán ma túy cho bị cáo HĐXX xét thấy hành vi mua bán đó là hành vi nguy hiểm cho xã hội cần phải bị xử lý hình sự, nhưng quá trình điều tra không xác định được đối tượng nên không có căn cứ để xử lý ở vụ án này, đề nghị cơ quan điều tra tiếp tục điều tra làm rõ và xử lý ở vụ án khác.

Vật chứng thu giữ của vụ án: Đối với 0,189 gam, loại Methamphetamine quá trình giám định đã sử dụng hết; 01 phong bì thư niêm phong ban đầu cùng 01 mảnh giấy nilon màu hồng được cho vào 01 phong bì thư của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La niêm phong dán kín lại không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy. Đối với 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Wave ZX, màu tím đen số khung: 040444; số máy 5074248; biển kiểm soát: 26H1-4990 xác định đây là tài sản hợp pháp của anh Quàng Văn V, khi bị cáo sử dụng chiếc xe này phạm tội anh Vkhông biết, không liên quan. Ngày 01/09/2019 anh V có ủy quyền cho anh B làm đơn xin lại chiếc xe máy nói trên để làm phương tiện đi lại. Do đó cần trả lại chiếc xe máy nới trên cho anh Quàng Văn V là có căn cứ

Về hình phạt bổ sung: Bị cáo phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy lẽ ra ngoài hình phạt tù, bị cáo còn phải chịu hình phạt bổ sung là phạt tiền theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015; nhưng xét thấy bị cáo là người nghiện ma túy, tài sản không có gì nên không áp dụng hình pháp bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249, Điều 38, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015

1. Tuyên bố bị cáo: Quàng Văn T phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy.

2. Xử phạt bị cáo: Quàng Văn T 20 (Hai mươi) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ, tạm giam là ngày 16/7/2019.

Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

3. Áp dụng điểm c khoản 1, khoản 2 Điều 47 BLHS năm 2015, điểm c khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015: Tịch thu để tiêu huỷ 01 phong bì thư niêm phong ban đầu và 01 mảnh giấy nilon màu hồng; trả lại cho anh Quàng Văn V 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Wave ZX, màu tím đen số khung: 040444; số máy 5074248; biển kiểm soát: 26H1-4990 Vật chứng nêu trên được mô tả theo biên bản giao, nhận vật chứng lập ngày 16/10/2019 giữa Chi cục Thi hành án dân sự huyện Sốp Cộp và Công an huyện Sốp Cộp.

Áp dụng khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 BLTTHS năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30 tháng 12 năm 2016, buộc bị cáo Quàng Văn T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng)

Báo cho bị cáo, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan biết được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án là ngày 07/11/2019.

Cỡ chữ