- Tranh chấp gì? án hình sự — "Bị cáo Nguyễn Văn B phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số đ…"
- Tòa quyết gì? 1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn B phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 251 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIA BÌNH, TỈNH BẮC NINH ––––––––––––––– | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 62/2019/HS-ST Ngày 20-9-2019 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIA BÌNH, TỈNH BẮC NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Tuyến.
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Trần Thị Lịch;
2. Bà Nguyễn Thị Thích.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Thế Cường – Thẩm tra viên Tòa án nhân dân huyện Gia Bình, tỉnh Bắc Ninh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Gia Bình, tỉnh Bắc Ninh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Tập - Kiểm sát viên.
Ngày 20 tháng 9 năm 2019, tại Nhà Văn hóa thôn Thủ Pháp, xã Quỳnh Phú, huyện Gia Bình, tỉnh Bắc Ninh xét xử sơ thẩm công khai lưu động vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 58/2019/TLST- HS ngày 03 tháng 9 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 58/2019/QĐXXST- HS ngày 05 tháng 9 năm 2019 đối với bị cáo:
Nguyễn Văn B, sinh năm 1973 tại Bắc Ninh;
Nơi cư trú: Thôn K, xã N, huyện G, tỉnh B; nghề nghiệp: Làm ruộng; trình độ văn hoá (học vấn): 6/10; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn A (đã chết) và bà Nguyễn Thị M, sinh năm 1927; có vợ là Nguyễn Thị N, sinh năm 1974 và 02 con, con lớn sinh năm 1995 và con nhỏ sinh năm 1997; tiền án: Có 01 tiền án là Bản án số 56/2016/HSST ngày 23/9/2016 của Tòa án nhân dân huyện Gia Bình xử phạt 30 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 03/10/2018; tiền sự: Có 01 tiền sự là ngày 20/7/2015 bị Công an huyện Gia Bình xử phạt vi phạm hành chính, hình thức phạt tiền 1.500.000 đồng về hành vi “Tàng trữ trái phép chất ma túy” (B chưa nộp tiền phạt); nhân thân: Bản án số 19/2006/HSST ngày 25/4/2006 của Tòa án nhân dân huyện Gia Bình xử phạt tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Chấp hành xong hình phạt tù, ra trại ngày 23/04/2008; Ngày 01/4/2010 bị Chủ tịch UBND huyện Gia Bình ra Quyết định đưa đối tượng nghiện ma túy vào trung tâm giáo dục- Dạy nghề- Hướng thiện tỉnh Bắc Ninh, thời hạn 12 tháng. Ngày 13/4/2011 chấp hành xong; Ngày 22/12/2011 bị Chủ tịch UBND huyện Gia Bình ra Quyết định đưa đối tượng nghiện ma túy vào trung tâm giáo dục- Dạy nghề- Hướng thiện tỉnh Bắc Ninh, thời hạn 24 tháng. Ngày 27/12/2013 chấp hành xong; và Ngày 10/4/2015, Công an huyện Gia Bình ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính, hình thức phạt tiền 1.500.000 đ về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Ngày 22/5/2015 B nộp phạt xong; bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 25/6/2019 đến nay, hiện đang bị tạm giam tại Trại giam Công an tỉnh Bắc Ninh; có mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Anh Nguyễn Chí C, sinh năm 1957, vắng mặt;
Địa chỉ: Thôn Đ, thị trấn G, huyện G, tỉnh Bắc Ninh.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 10 giờ 30 phút ngày 25/6/2019, tại đường tỉnh lộ 285 đoạn thuộc địa phận thôn Cầu Đào, xã Nhân Thắng, huyện Gia Bình, tỉnh Bắc Ninh tổ công tác Công an huyện Gia Bình phối hợp với Công an xã Nhân Thắng bắt quả tang Nguyễn Văn B đang có hành vi bán trái phép chất ma túy cho Nguyễn Chí C. Quá trình bắt quả tang, C tự giác giao nộp từ tay trái C đang cầm một gói nhỏ bọc ngoài bằng giấy bạc màu trắng mở ra bên trong có chất bột màu trắng. C khai nhận đó là số ma túy C vừa mua được của B với giá 200.000 đồng (niêm phong ký hiệu M2); Thu giữ tại túi quần bên trái, phía trước B đang mặc một tờ tiền Polyme mệnh giá 200.000 đồng, B khai đây là số tiền B vừa bán ma túy cho C mà có. Ngoài ra, B còn tự giác giao nộp từ túi quần bên phải, phía trước B đang mặc 02 gói nhỏ đều được bọc ngoài bằng giấy bạc màu trắng mở ra bên trong cả hai gói nhỏ đều chứa chất bột màu trắng. B khai đây là hai gói chứa chất ma túy, khi nào có người nghiện hỏi mua B sẽ bán kiếm lời (Niêm phong ký hiệu M1). Sau đó, tổ công tác đã yêu cầu B, C và người chứng kiến về ban Công an xã Nhân Thắng tiến hành lập biên bản bắt người có hành vi phạm tội quả tang, lập biên bản thu giữ và niêm phong vật chứng theo quy định.
Tại bản kết luận giám định số 532/KLGĐMT-PC09 ngày 25/6/2019 của Phòng Kỹ thuật hình sự – Công an tỉnh Bắc Ninh kết luận:
- Chất bột màu trắng bên trong phong bì thư ký hiệu M1 có khối lượng 0,0722 gam; Là ma túy; Loại: Heroine.
- Chất bột màu trắng bên trong phong bì thư ký hiệu M2 có khối lượng 0,0343 gam; Là ma túy; Loại: Heroine.
Heroine là chất ma túy được quy định tại Nghị định 73/2018/NĐ-CP ngày 15/5/2018 của Chính phủ ban hành các danh mục chất ma túy và tiền chất.
*. Tại cáo trạng số 59/CT-VKSGB ngày 30/8/2019 của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Gia Bình, tỉnh Bắc Ninh đã truy tố Nguyễn Văn B về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” theo quy định tại khoản 1 Điều 251 của Bộ luật hình sự.
*. Tại phiên toà hôm nay, bị cáo đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.
*. Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa, giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo. Luận tội và đề nghị như sau:
- Tuyên bố bị cáo B phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”;
- Áp dụng khoản 1 và khoản 5 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 và Điều 38 của Bộ luật hình sự.
Xử phạt bị cáo B từ 30 tháng đến 36 tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù, được tính từ ngày 25/6/2019.
Hình phạt bổ sung: Phạt bị cáo B từ 5.000.000 đồng đến 7.000.000 đồng để sung vào công quỹ Nhà nước.
- Về việc xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật hình sự; Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.
Tịch thu tiêu hủy Mẫu vật còn lại sau giám định được cho vào một phong bì thư được niêm phong, mặt trước có ghi: Mẫu vật còn lại sau giám định kèm KLGĐ số 532/KLGĐMT-PC09 ngày 25/6/2019 của PC09. Mặt sau có chữ ký của giám định viên và dấu đỏ của Phòng kỹ thuật hình sự, Công an tỉnh Bắc Ninh;
Tịch thu sung công quỹ nhà nước số tiền 200.000 đ đã thu giữ của bị cáo;
*. Sau khi nghe bản luận tội của Kiểm sát viên, bị cáo không có ý kiến tranh luận và bào chữa, mà thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình là đúng như bản luận tội đã nêu.
Lời nói sau cùng, bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ và miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra và tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1. Nhận thấy, tại phiên toà hôm nay bị cáo Nguyễn Văn B đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai của bị cáo hoàn toàn phù hợp với nội dung bản cáo trạng, lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, lời khai của người làm chứng, biên bản phạm pháp quả tang, vật chứng đã được thu hồi, kết luận giám định và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Đã có đủ cơ sở để xác định: Hồi 10 giờ 30 phút ngày 25/6/2019, tại đường tỉnh lộ 285 đoạn thuộc địa phận thôn Cầu Đào, xã Nhân Thắng, huyện Gia Bình, tỉnh Bắc Ninh khi Nguyễn Văn B đang có hành vi bán trái phép một gói ma túy có khối lượng 0,0343 gam Heroine cho Nguyễn Chí C với giá 200.000 đồng thì bị tổ công tác Công an huyện Gia Bình và Công an xã Nhân Thắng phát hiện, bắt quả tang. Ngoài ra, còn thu giữ trên người B được hai gói ma túy có khối lượng 0,0722 gam Heroine. B khai nhận đây là hai gói ma túy B cất giấu để khi có người hỏi mua B sẽ đem bán kiếm lời. Tổng khối lượng số ma túy mà B đã bán và tàng trữ để bán trái phép là 0,1065 gam Heroine. Hành vi của bị cáo đã trực tiếp xâm phạm đến chế độ quản lý độc quyền của Nhà nước về chất ma túy. Bị cáo đã cố ý thực hiện hành vi phạm tội, nhận thức rõ hành vi của mình bị pháp luật cấm, thấy trước được tác hại của hành vi mua bán trái phép chất ma túy nhưng vẫn thực hiện để nhằm mục đích hưởng lợi, chứng tỏ bị cáo thể hiện sự coi thường pháp luật. Khi thực hiện tội phạm, bị cáo có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, đạt độ tuổi theo luật định. Do đó hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 251 của Bộ luật hình sự đúng như cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Gia Bình đã truy tố]
[2. Về nhân thân, tính chất, mức độ của tội phạm, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo:
Xét thấy, bị cáo có một tiền án về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, chưa được xóa án tích nên lần phạm tội này của bị cáo thuộc trường hợp có 01 tình tiết tăng nặng là tái phạm theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự. Ngoài ra, xét tính chất và mức độ tội phạm của bị cáo gây ra là nguy hại lớn cho xã hội, ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự an toàn xã hội, gây bức xúc, phẫn nộ và hoang mang trong quần chúng nhân dân; hơn nữa, bị cáo còn có 01 tiền sự và nhân thân rất xấu. Do đó, cần phải có mức hình phạt thật nghiêm tương ứng, cho bị cáo cách ly xã hội một thời gian, để có tác dụng giáo dục bị cáo nói riêng, răn đe phòng ngừa chung, không tạo ra tiền lệ xấu, ngăn chặn sự gia tăng loại tội phạm nguy hiểm này và góp phần làm trong sạch, lành mạnh đời sống xã hội và niềm tin vào pháp luật của nhân dân.
Tuy nhiên, trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Do đó, khi lượng hình cũng cần xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.]
[3. Về hình phạt bổ sung: Để thực hiện tốt công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm về ma túy, cần phải áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo, với số tiền 5.000.000 đồng để sung vào công quỹ nhà nước theo quy định tại khoản 5 Điều 251 của Bộ luật hình sự là phù hợp.]
[4. Về việc xử lý vật chứng: Căn cứ vào Điều 47 của Bộ luật hình sự; Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự, xét thấy số vật chứng, là:
4.1. Mẫu vật còn lại sau giám định được cho vào một phong bì thư được niêm phong, mặt trước có ghi: Mẫu vật còn lại sau giám định kèm KLGĐ số 532/KLGĐMT-PC09 ngày 25/6/2019 của PC09. Mặt sau có chữ ký của giám định viên và dấu đỏ của Phòng kỹ thuật hình sự, Công an tỉnh Bắc Ninh là vật cấm tàng trữ, lưu hành nên cần tịch thu tiêu hủy;
4.2. Số tiền 200.000 đồng đã thu giữ của bị cáo là do phạm tội mà có (số tiền mua bán ma túy) nên cần tịch thu sung công quỹ Nhà nước.]
[5. Về các vấn đề khác:
5.1. Đối với người đàn ông tự khai tên Nguyễn Chí C, sinh năm 1957 ở thôn Đ, thị trấn G, huyện G, tỉnh Bắc Ninh là người mua ma túy của B, sau khi bị bắt quả tang, trong quá trình làm việc lợi dụng sở hở, C đã bỏ trốn. Công an huyện Gia Bình đã tiến hành xác minh, rà soát, tuy nhiên đến nay chưa xác định được đối tượng C có nhân thân, lai lịch như trên nên chưa có đủ căn cứ để xem xét xử lý đối với C, khi nào xác minh làm rõ sẽ xem xét, xử lý theo quy định. Do đó, không đề cập xem xét.
5.2. Đối với người đàn ông đã bán ma túy cho B vào chiều ngày 24/6/2019 tại khu vực bến xe thành phố Bắc Ninh. Do B không biết tên, tuổi địa chỉ của người đàn ông nói trên nên Cơ quan CSĐT Công an huyện Gia Bình chưa có căn cứ để xác minh, làm rõ. Khi nào xác minh, làm rõ sẽ xem xét, xử lý theo quy định của pháp luật. Do đó, không đề cập xem xét.]
[6. Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.]
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ vào khoản 1 và khoản 5 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 và Điều 38 của Bộ luật hình sự; Điều 329 của Bộ luật tố tụng hình sự.
1.1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn B phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
1.2. Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn B 36 tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù, được tính từ ngày 25/6/2019.
Tiếp tục tạm giam bị cáo với thời hạn 45 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm, để đảm bảo việc thi hành án.
1.3. Hình phạt bổ sung: Phạt bị cáo Nguyễn Văn B 5.000.000 đồng để sung vào công quỹ Nhà nước.
2. Về việc xử lý vật chứng: Căn cứ vào Điều 47 của Bộ luật hình sự; Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.
2.1. Tịch thu tiêu hủy Mẫu vật còn lại sau giám định được cho vào một phong bì thư được niêm phong, mặt trước có ghi: Mẫu vật còn lại sau giám định kèm KLGĐ số 532/KLGĐMT-PC09 ngày 25/6/2019 của PC09. Mặt sau có chữ ký của giám định viên và dấu đỏ của Phòng kỹ thuật hình sự, Công an tỉnh Bắc Ninh;
2.2. Tịch thu sung công quỹ nhà nước số tiền 200.000 đồng đã thu giữ của bị cáo B;
Toàn bộ vật chứng nêu trên được mô tả theo đúng như biên bản giao nhận vật chứng ngày 04/9/2019 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Gia Bình.
3. Về án phí: Căn cứ vào Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Buộc bị cáo phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tống đạt hoặc niêm yết bản án.
| Nơi nhận: - Tòa án tỉnh; - Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp; - Cơ quan thi hành án dân sự cùng cấp; - Bị cáo và những người tham gia tố tụng khác; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Nguyễn Văn Tuyến (Đã ký) |