vanban.org

Bản án 62/2019/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng vay tài sản

TAND TX. Dĩ An, tỉnh Bình Dương Tuyên án 18/10/2019 Dân sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Căn cƣ́ Điều 463, 466, 357, 468, 470 của Bộ luật Dân sự 2015;

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng x đối với bị đơn anh Nghiêm Mạnh T và chị Đinh Thị L về việc tranh chấp hợp đồng vay tài sản. Buộc anh Nghiêm Mạnh T và chị Đinh Thị L phải thanh toán cho Ngân hàng x số tiền 37.434.500 đồng (ba mƣơi bảy triệu bốn trăm ba mƣơi bốn nghìn năm trăm đ… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "ngân hàng X khởi kiện ông T, bà L"
  • Tòa quyết gì? Căn cƣ́ Điều 463, 466, 357, 468, 470 của Bộ luật Dân sự 2015;
  • Căn cứ chính? Điều 144 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ DĨ AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH BÌNH DƢƠNG
——————————
Bản án số: 62/2019/DS-ST
Ngày 18-10-2019
V/v tranh chấp hợp đồng vay tài sản

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lại Thị Ngọc Liên.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Nguyễn Thị Bửu Huệ;

2. Bà Nguyễn Thụy Vân Hà.

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Hà, Thƣ ký Tòa án nhân dân thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Dĩ An tham gia phiên tòa: Ông Phan Văn Tuân - Kiểm sát viên.

Ngày 18 tháng 10 năm 2019, tại Tòa án nhân dân thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 242/2019/TLST-DS ngày 10/7/2019 về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” theo Quyết định đƣa vụ án ra xét xử số 86/2019/QĐXXST-DS ngày 12/9/2019, giữa các đƣơng sự:

- Nguyên đơn: Ngân hàng x; địa chỉ: Số 169 phố L, phƣờng H, quận M, Thành phố N.

Ngƣời đại diện hợp pháp: Ông Trƣơng Tiến S - chức vụ: Giám đốc phòng giao dịch Ngân hàng x thị xã D, tỉnh B, là ngƣời đại diện theo ủy quyền (văn bản ủy quyền ngày 09/6/2015). Có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt.

- Bị đơn: Anh Nghiêm Mạnh T, sinh năm 1975 và chị Đinh Thị L, sinh năm 1976, cùng địa chỉ: Số 1/15 (số mới 122/88), đƣờng vành đai ĐHQG, khu phố T, phƣờng H, thị xã D, tỉnh B. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 02/7/2019, lời khai trong quá trình tố tụng, người đại diện hợp pháp của nguyên đơn ông Trƣơng Tiến S trình bày:

Ngày 14/3/2018, Ngân hàng x đã cho chị Đinh Thị L thuộc tổ tiết kiệm và vay vốn do bà Nguyễn Thị N làm tổ trƣởng, Hội phụ nữ phƣờng H quản lý vay số tiền 50.000.000 đồng (năm mƣơi triệu đồng) chƣơng trình hỗ trợ tạo việc làm, duy trì và mở rộng việc làm bằng hình thức tín chấp, có giấy ủy quyền nhận nợ của chồng là anh Nghiêm Mạnh T. Thời hạn cho vay 47 tháng, ngày vay 22/3/2018, ngày trả nợ cuối cùng là ngày 12/02/2022, lãi suất 6,6%/năm, mục đích là kinh doanh hàng may mặc. Theo quy định mỗi tháng chị L phải trả lãi, tiền nợ gốc trả làm 08 kỳ, mỗi kỳ là 06 tháng: trả số tiền 6.200.000 đồng, kỳ cuối cùng 6.600.000 đồng.

Ngày 12/6/2019 chị Đinh Thị L đến hạn phải trả lãi nhƣng chị L chƣa trả. Theo thông tin từ tổ trƣởng tổ tiết kiệm, Hội phụ nữ phƣờng H và trƣởng khu phố T thì hiện gia đình chị L đang bị vỡ nợ, đi đâu không rõ. Cán bộ Ngân hàng đã trực tiếp đến nhà chị L, không có ngƣời ở và khóa bên ngoài; hiện không thực hiện phƣơng án kinh doanh hàng may mặc theo đề nghị vay vốn Ngân hàng x.

Hiện chị Đinh Thị L còn nợ Ngân hàng chính sách x 36.754.000 đồng, trong đó: Nợ gốc 36.400.000 đồng (dƣ nợ 40.000.000 đồng- số dƣ tiền gửi tiết kiệm của ngƣời vay 3.600.000 đồng); nợ lãi tạm tính từ ngày 13/5/2019 đến 02/7/2019 là 354.000 đồng.

Nay Ngân hàng chính sách x khởi kiện yêu cầu anh Nghiêm Mạnh T và chị Đinh Thị L phải trả cho Ngân hàng x số tiền 36.754.000 đồng, trong đó: Nợ gốc 36.400.000 đồng (dƣ nợ 40.000.000 đồng- số dƣ tiền gửi tiết kiệm của ngƣời vay 3.600.000 đồng); nợ lãi tạm tính từ ngày 13/5/2019 đến 02/7/2019 là 354.000 đồng.

Chứng cứ nguyên đơn cung cấp: 01 Bộ hồ sơ vay vốn.

Quá trình tố tụng, bị đơn anh Nghiêm Mạnh T và chị Đinh Thị L đã đƣợc Tòa án tống đạt thông báo thu ̣ lý, triệu tập hợp lệ để tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải vào ngày 30/8/2019 và tham gia phiên tòa vào các ngày 30/9/2019 và ngày 18/10/2019 nhƣng anh T, chị L không đến Toà án làm việc, không cung cấp lời khai, không có yêu cầu phản tố nào, không cung cấp chứng cứ để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình.

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã D: Quá trình giải quyết vụ án từ khi thụ lý cho đến tại phiên tòa, Tòa án và nguyên đơn chấp hành đúng pháp luật về tố tụng dân sự. Nguyên đơn có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt. Bị đơn vắng mặt tại phiên tòa. Căn cứ Điều 228 và Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn là đúng quy định. Về nội dung: Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có cơ sở, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét, quyết định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã đƣợc xem xét tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện Kiểm sát tham gia phiên tòa, Tòa án nhận định:

[1] Về tố tụng: Nguyên đơn có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt. Bị đơn anh Nghiêm Mạnh T và chị Đinh Thị Lđã đƣợc triệu tập hợp lệ để tham gia phiên tòa nhƣng anh T và chị L vắng mặt. Căn cứ Điều 228 và Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn.

Về nội dung: Nguyên đơn xác định đã cho anh Nghiêm Mạnh T và chị Đinh Thị L vay tiền 50.000.000 đồng (năm mƣơi triệu đồng) thể hiện tại giấy đề nghị vay vốn hỗ trợ tạo việc làm, duy trì và mở rộng việc làm đề ngày 02/3/2018. Từ ngày 12/6/2019 bị đơn không thanh toán cho nguyên đơn, do bị đơn vi phạm nghĩa vụ trả lãi nên nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bị đơn phải thanh tóan tiền nợ gốc 36.400.000 đồng là có căn cứ.

Nguyên đơn yêu cầu tính lãi suất 6,6%/năm (tƣơng đƣơng 0,55%/tháng) đối với số tiền nợ gốc 36.400.000 đồng là phù hợp quy định tại khoản 1 Điều 468 Bộ luật Dân sự 2015 nên Hội đồng xét xử chấp nhận. Cụ thể: 36.400.000 đồng x 0,55%/tháng x 05 tháng 05 ngày (từ ngày 13/5/2019 đến ngày 18/10/2019 là ngày xét xử sơ thẩm) = 1.034.500 đồng.

Từ những phân tích trên, có cơ sở chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Buộc bị đơn phải thanh toán cho nguyên đơn tiền nợ gốc: 36.400.000 đồng, tiền lãi 1.034.500 đồng, tổng cộng: 37.434.500 đồng và chấp nhận đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã D.

Án phí dân sự sơ thẩm: Bị đơn phải chịu toàn bộ án phí theo quy định tại khoản 1 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 và khoản 2 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thƣờng vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điều 144, Điều 147, Điều 228, Điều 238 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự 2015;

Căn cƣ́ Điều 463, 466, 357, 468, 470 của Bộ luật Dân sự 2015;

Căn cứ khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thƣờng vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng x đối với bị đơn anh Nghiêm Mạnh T và chị Đinh Thị L về việc tranh chấp hợp đồng vay tài sản.

Buộc anh Nghiêm Mạnh T và chị Đinh Thị L phải thanh toán cho Ngân hàng x số tiền 37.434.500 đồng (ba mƣơi bảy triệu bốn trăm ba mƣơi bốn nghìn năm trăm đồng), trong đó gồm 36.400.000 đồng (ba mƣơi sáu triệu bốn trăm nghìn đồng) tiền nợ gốc và 1.034.500 đồng (một triệu không trăm ba mƣơi bốn nghìn năm trăm đồng) tiền lãi.

Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.

2. Án phí dân sự sơ thẩm: Anh Nghiêm Mạnh T và chị Đinh Thị L phải nộp 1.871.725 đồng (một triệu tám trăm bảy mƣơi mốt nghìn bảy trăm hai mƣơi lăm đồng).

3. Các đƣơng sự đƣợc quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mƣời lăm) ngày, kể từ ngày nhận đƣợc bản án hoặc bản án đƣợc tống đạt hợp lệ.

Trƣờng hợp bản án, quyết định đƣợc thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì ngƣời đƣợc thi hành án dân sự, ngƣời phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cƣỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án đƣợc thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ