vanban.org

Bản án 62/2018/HSST — Hình sự

TAND huyện Bù Đăng, tỉnh Bình Phước Tuyên án 11/07/2018 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

[1] Về tội danh và hình phạt: Tuyên bố bị cáo Hoàng Văn C phạm “Tội tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Hoàng Văn C 01 (một) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 27/03/2018. [2] Về vật chứng vụ án: Căn cứ vào Điều 47, Điều 48 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Hoàng Văn C - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? [1] Về tội danh và hình phạt: Tuyên bố bị cáo Hoàng Văn C phạm “Tội tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN BÙ ĐĂNG
TỈNH BÌNH PHƯỚC

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 62/2018/HSST
Ngày: 11/7/2018.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÙ ĐĂNG, TỈNH BÌNH PHƯỚC

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Thành Long

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Quang Liêu

2. Ông Nguyễn Mạnh Dũng

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Quốc Bảo – Là thư ký Tòa án nhân dân huyện Bù Đăng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bù Đăng tham gia phiên tòa: Ông Đàm Thị Thủy - Kiểm sát viên.

Hôm nay, ngày 11 tháng 7 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bù Đăng, tỉnh Bình Phước, mở phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 59/2018/HSST ngày 14 tháng 6 năm 2018, đối với bị cáo:

Họ và tên: Hoàng Văn C;

Sinh năm: 1985 tại tỉnh B

Nơi cư trú: thôn Đ, xã Đ, huyện B, tỉnh B; nghề nghiệp: Làm rẫy; trình độ văn hóa: 07/12; dân tộc: Tày; con ông Hoàng Hải T, sinh năm 1942 (đã chết) và bà Nguyễn Thị Hồng L, sinh năm 1940; Có vợ là Nông Thị T, sinh năm 1983 và có 01 con sinh năm 2011; Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 27/03/2018 cho đến nay (Có mặt).

- Người làm chứng: Điểu T;

Sinh năm: 1999 (Vắng mặt)

Trú tại: Thôn Đ, xã Đ, huyện B, tỉnh B

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 10 giờ 30 phút ngày 27/03/2018, Hoàng Văn C điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 93T5-6189 từ nhà C thuộc thôn Đ, xã Đ, huyện B, tỉnh B đi lên khu vực Thôn Đ, xã Đ, huyện B, tỉnh B để tìm mua ma túy về sử dụng. Khi tới khu vực Nghĩa địa thuộc Thôn Đ, xã Đ, huyện B, tỉnh B thì gặp một người phụ nữ dân tộc Nùng (không rõ nhân thân, lý lịch và chỗ ở), C hỏi mua 200.000đ ma túy (Heroin) thì người phụ nữ trả lời có và đưa cho C một gói ma túy (Heroin). Khi mua được ma túy, C rẽ vào một vườn điều gần đó sử dụng nửa gói còn nửa gói C giấu trong người, khi C đi ra ngoài đường chỗ dựng xe mô tô thì phát hiện có Công an nên C vứt số ma túy còn lại xuống đường cách chỗ đứng nửa mét thì bị lực lượng Công an bắt giữ cùng tang vật.

Căn cứ kết luận giám định số 86/2018/GĐKTHS ngày 30/03/2018 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Phước xác định: Chất màu trắng (ký hiệu M) được niêm phong gửi giám định là ma túy, trọng lượng (khối lượng) là 0,1372 gam, loại Heroin.

Về vật chứng vụ án: Số tiền 200.000 đồng; số ma túy còn lại sau giám định đựng trong 01 phong bì niêm phong số 86 của phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Phước; 01 xe môtô biển số: 93T5-6xxx; 01 đăng ký xe mô tô, xe máy số 030858 tên Điểu Đ, cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Bù Đăng đã chuyển đến chi cục Thi hành án dân sự huyện Bù Đăng để phục vụ truy tố, xét xử.

Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến về vật chứng đã bị thu giữ.

Tại bản cáo trạng số: 54/CT –VKS - BĐ ngày 13/6/2018 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bù Đăng truy tố bị cáo Hoàng Văn C về “Tội tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c Khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát khẳng định nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật, vì vậy đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên nội dung bản cáo trạng đã truy tố. Về tội danh đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Hoàng Văn C phạm “Tội tàng trữ trái phép chất ma túy”; về hình phạt, áp dụng điểm c Khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015, xử phạt bị cáo Hoàng Văn C từ 12 đến 18 tháng tù. Về vật chứng vụ án đề nghị tịch thu tiêu hủy số ma túy còn lại sau giám định đựng trong 01 phong bì niêm phong số 86 của phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Phước; Tuyên trả số tiền 200.000 đồng cho Hoàng Văn C.Tuyên trả một xe môtô biển số: 93T5-6xxx cùng giấy đăng ký xe mô tô, xe máy số 03xxxx tên Điểu Đ. Về án phí buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo luật định.

Bị cáo Hoàng Văn C thừa nhận hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng Viện kiểm sát đã truy tố, không có ý kiến tranh luận về tội danh, hình phạt và các vấn đề khác đối với đại diện Viện kiểm sát.

Lời nói sau cùng, bị cáo Hoàng Văn C hối hận về hành vi của mình và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo,

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi tại phiên tòa, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Về thủ tục tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Điều tra Công an huyện Bù Đăng, Viện kiểm sát nhân dân huyện Bù Đăng trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện hợp pháp.

Về hành vi phạm tội của bị cáo: Khoảng 10 giờ 30 phút ngày 27/03/2018, Hoàng Văn C điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 93T5-6189 từ nhà C thuộc thôn Đ, xã Đ, huyện B, tỉnh B đến khu vực Nghĩa địa thuộc thôn Đăk Xuyên, xã Đăk Nhau thì gặp một người phụ nữ dân tộc Nùng (không rõ nhân thân, lý lịch) mua 200.000đ ma túy loại Hêrôin với mục đích để sử dụng dần. Bị cáo đã sử dụng hết một phần còn lại C giấu trong người, khi C đi ra ngoài đường thì phát hiện lực lượng Công an nên đã vứt số ma túy còn lại xuống đất. Tuy nhiên, lực lượng Công an phát hiện thu giữ, niêm phong tang vật là ma túy loại Hêrôin. Qua giám định chất màu trắng được gửi giám định là ma túy có khối lượng 0,1372 gam.

Từ phân tích trên Hội đồng xét xử xét thấy có đủ cơ sở khẳng định hành vi của bị cáo Hoàng Văn C đã phạm vào “Tội tàng trữ trái phép chất ma túy”, quy định tại Điểm c Khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự năm 2015.

Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 quy định:

1. Người nào tàng trữ chất ma tuý mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.

a) ……………………………………………

c) Hêrôin, Cocain, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA, có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam;

Như vậy, nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bù Đăng truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Đánh giá tính chất, mức độ phạm tội của bị cáo là rất nghiêm trọng, gây nguy hại rất lớn cho xã hội, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma tuý, làm mất trật tự trị an tại địa phương. Bị cáo là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự. Tuy nhiên do lối sống buông thả, dẫn đến nghiện ma túy nên mặc dù nhận thức rõ được mọi hành vi liên quan đến ma túy là vi phạm pháp luật, là nguyên nhân có thể gây ra nhiều loại tội phạm và tệ nạn xã hội khác nhưng vẫn cố ý phạm tội. Do đó Hội đồng xét xử cần áp dụng hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo đã gây ra.

Về nhân thân và tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s Khoản 1 Điều 51 Bộ Luật Hình sự 2015. Bị cáo có con còn nhỏ là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại Khoản 2 Điều 51 Bộ Luật Hình sự 2015

Sau khi cân nhắc mức độ hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo và tình tiết giảm nhẹ mà bị cáo được hưởng, Hội đồng xét xử thấy cần xử bị cáo một mức án tương xứng với hành vi phạm tội để giáo dục, răn đe bị cáo và phòng ngừa chung.

Về vật chứng vụ án: Căn cứ Điều 47, Điều 48 Bộ Luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự 2015 cần tiêu hủy số ma túy còn lại sau giám định đựng trong 01 phong bì niêm phong số 86 của phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Phước. Tuyên trả số tiền 200.000 đồng cho Hoàng Văn C do không liên quan đến hành vi phạm tội. Đối với xe môtô biển số: 93T5-6xxx cùng giấy đăng ký xe mô tô, xe máy số 03xxxx tên Điểu Đ là tài sản chung của vợ chồng bị cáo nên trả lại cho bị cáo

Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

Đối với đối tượng là người phụ nữ dân tộc Nùng đã bán ma túy cho C hiện chưa xác minh được nhân thân lai lịch nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Bù Đăng tách ra tiếp tục xác minh xử lý sau nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Quan điểm xử lý vụ án của Đại diện Viện kiển sát tham gia phiên tòa về hình phạt là có căn cứ được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

[1] Về tội danh và hình phạt: Tuyên bố bị cáo Hoàng Văn C phạm “Tội tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Áp dụng Điểm c Khoản 1 Điều 249, điểm s Khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015.

Xử phạt bị cáo Hoàng Văn C 01 (một) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 27/03/2018.

[2] Về vật chứng vụ án: Căn cứ vào Điều 47, Điều 48 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.

Tịch thu tiêu hủy số ma túy còn lại sau giám định đựng trong 01 phong bì niêm phong số 86 của phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Phước;

Tuyên trả 01 xe môtô biển số: 93T5-6xxx cùng giấy đăng ký xe mô tô, xe máy số 03xxxx tên Điểu Đ và số tiền 200.000 đồng cho Hoàng Văn C.

(theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản số 0009614 ngày 11/6/2018 giữa cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Bù Đăng và Chi cục thi hành án dân sự huyện Bù Đăng).

[3] Về án phí: Áp dụng Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự 2015, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

Buộc bị cáo Hoàng Văn C phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ