vanban.org

Bản án 62/2018/HS-ST — Hình sự

TAND tỉnh Điện Biên Tuyên án 11/07/2018 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh: Bị cáo Vàng A S (tên gọi khác: Không) phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Vàng A S 20 (hai mươi) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày 03/3/2018. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo Vàng A S. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Vàng A S phạm tội mua bán trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm b Khoản 4 Điều 251 BLHS năm 2015 - phạm tội mua bán trái phép chất ma…"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh: Bị cáo Vàng A S (tên gọi khác: Không) phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH ĐIỆN BIÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 62/2018/HS-ST
Ngày: 11-7-2018

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐIỆN BIÊN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Thắng.

Thẩm phán: Ông Sùng A Xà.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Mai Phong.

Ông Lô Quang Thắng.

Bà Hà Thị Vũ.

- Thư ký phiên tòa: Bà Ngô Thị Hạnh, Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Điện Biên.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Điện Biên tham gia phiên tòa: Bà Bùi Thị Thu Hằng, Kiểm sát viên.

Ngày 11 tháng 7 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Điện Biên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 64/2018/TLST-HS ngày 29 tháng 5 năm 2018, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 66/2018/QĐXXST-HS ngày 26 tháng 6 năm 2018 đối với bị cáo:

Bị cáo Vàng A S (tên gọi khác: Không), sinh ngày 01/01/1984, tại tỉnh Điện Biên.

Nơi cư trú: Bản H, xã M, huyện Đ, tỉnh Điện Biên; nghề nghiệp: Làm nương; trình độ văn hóa: 5/12; dân tộc: Mông; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Vàng A P, sinh năm 1930 và bà Lầu Thị S1, sinh năm 1956; có vợ Chá Thị D, sinh năm 1985 và 05 con, con lớn sinh năm 2003, con nhỏ sinh năm 2018; tiền án, tiền sự: Không; bị bắt tạm giữ từ ngày 03/3/2018 đến ngày 06/03/2018 tạm giam tại trại Tạm giam Công an tỉnh Điện Biên cho đến nay. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

- Người bào chữa cho bị cáo Vàng A S:

1. Ông Phùng Việt H1, Luật sư Văn phòng Luật sư Phùng Việt H1, thuộc đoàn Luật sư tỉnh Điện Biên (Có mặt tại phiên tòa).

2. Ông Nguyễn Quang K, Luật sư, Cộng tác viên của Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh Điện Biên (Có mặt tại phiên tòa).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 4 giờ sáng, ngày 01/3/2018, Vàng A S cầm 20 triệu đồng đi xe máy từ nhà đến khu vực bản N, xã H2, huyện Đ giấu xe máy vào rừng sau đó S đi bộ đến lán nương thuộc khu vực bản K1, tỉnh Phong Sa Ly (Lào), mục đích mua Heroine về bán. Tại đây S gặp 01 người đàn ông Lào (không rõ tên tuổi, địa chỉ), sau khi trò chuyện, S đã đặt vấn đề mua 02 cây Heroine, người đàn ông Lào nói có 4,5 cây Heroine, giá 10 triệu đồng/01 cây, S nói chỉ có 20 triệu đồng và xin nợ số tiền còn lại, người đó đồng ý và bảo S khi nào bán xong Heroine thì mang tiền đến trả; S đồng ý và lấy 20 triệu đồng đưa cho người đàn ông Lào, người đó nhận tiền và đưa cho S 01 gói Heroine bọc bằng túi nilon màu trắng, Sếnh cầm và cất giấu vào cạp quần trước bụng, đi xe máy về đến gần bản H, xã M, huyện Đ; S giấu gói Heroine ở bụi cỏ ven đường rồi đi về nhà. Đến tối ngày 02/3/2018, S nhận được điện thoại của 01 người đàn ông tên T, nhà ở Lào Cai hỏi S có Heroine bán không. S nói có, T hẹn sáng ngày 03/3/2018, gặp nhau tại bến xe khách thành phố Đ2 để bàn bạc việc mua bán Heroine. Sáng ngày 03/3/2018, S đi xe máy đến điểm hẹn gặp T, S nói có 4,5 cây Heroine, giá 15 triệu đồng/ 01 cây, T đồng ý mua. Đến khoảng 13 giờ cùng ngày, S nhận được điện thoại của T nói mang Heroine đến khu vực bản T1, xã M, huyện Đ bán cho T, S nhất trí và lấy gói Heroine cho vào cạp quần trước bụng, đi xe máy đến điểm hẹn gặp T. Khi S và T đang giao dịch mua bán Heroine thì bị Công an tỉnh Điện Biên phát hiện bắt giữ S cùng gói Heroine có khối lượng 179,65 gam, còn T đã chạy thoát.

Tại cơ quan điều tra, bị cáo đã khai nhận ngoài lần phạm tội bị bắt quả tang, vào khoảng tháng 12/2017 S đã đến lán nương thuộc khu vực bản K1 (Lào) mua của người đàn ông Lào (không rõ lai lịch) 01 cây Heroine với giá 10 triệu đồng, sau đó bán cho người đàn ông tên H3, nhà ở S2, Lai Châu với giá 15 triệu đồng/ 01 cây Heroine. Quá trình điều tra xét thấy chưa có đủ chứng cứ để kết tội Vàng A S ở lần này.

Tại Biên bản mở niêm phong xác định trọng lượng, khối lượng lấy mẫu giám định và niêm phong vật chứng hồi 10 giờ 30 phút ngày 05/3/2018 Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh Điện Biên xác định 01 gói bằng túi nilon màu trắng bên trong có chứa chất bột màu trắng có tổng trọng lượng là 179,65 gam.

Tại Bản Kết luận giám định số 311/GĐ-PC54, ngày 09/3/2018 của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Điện Biên kết luận:

- Mẫu chất bột màu trắng được trích ra từ vật chứng thu giữ của Vàng A S gửi giám định là chất ma túy: Loại Heroine.

- Khối lượng chất bột màu trắng thu giữ của Vàng A S là 179,65 gam.

Tại bản Cáo trạng số 19/QĐ-VKS-P1 ngày 28/5/2018 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Điện Biên đã truy tố bị cáo Vàng A S về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” theo quy định tại điểm b Khoản 4 Điều 251 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Bản luận tội của vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Điện Biên ngồi duy trì công tố đề nghị Hội đồng xét xử sơ thẩm: Áp dụng điểm b Khoản 4 Điều 251; điểm s Khoản 1 Điều 51 BLHS năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) tuyên phạt bị cáo Vàng A S 20 (hai mươi) năm tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền theo quy định tại Khoản 5 Điều 251 BLHS năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) đối với bị cáo, miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo do bị cáo là người dân tộc thiểu số thường trú ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn và đề nghị HĐXX xử lý vật chứng trong vụ án theo quy định của pháp luật.

Người bào chữa cho bị cáo là ông Phùng Việt H1 nhất trí với bản Cáo trạng, bản luận tội và đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Điện Biên truy tố bị cáo Vàng A S về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Tuy nhiên, tại phiên tòa sơ thẩm người bào chữa cho bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng thêm các quy định tại Điều 15 của BLHS năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) về Phạm tội chưa đạt; Khoản 3 Điều 57; điểm r quy định về người phạm tội tự thú, điểm s quy định về người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, điểm t quy định về người phạm tội tích cực hợp tác với cơ quan có trách nhiệm trong việc phát hiện tội phạm hoặc trong quá trình giải quyết vụ án của Khoản 1, Khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 để xử phạt bị cáo ở mức thấp nhất của khung hình phạt. Không phạt bổ sung bằng tiền theo Khoản 5 Điều 251 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) đối với bị cáo và miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.

Người bào chữa cho bị cáo là ông Nguyễn Quang K cũng nhất trí với bản Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Điện Biên truy tố bị cáo Vàng A S về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” và nhất trí với bản luận tội, đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa. Người bào chữa cho bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b Khoản 4 Điều 251 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); điểm s Khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015. Không phạt bổ sung bằng tiền theo Khoản 5 Điều 251 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) đối với bị cáo và miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.

Tại phiên tòa bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình đúng như Cáo trạng và lời luận tội của đại diện Viện kiểm sát đã nêu. Bị cáo không tranh luận gì đối với đại diện Viện kiểm sát, không bổ sung gì đối với nội dung bài bào chữa của Luật sư. Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo biết hành vi của mình là vi phạm pháp luật, bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

ơ

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an tỉnh Điện Biên, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân nhân tỉnh Điện Biên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện theo đúng quy định về thẩm quyền, trình tự, thủ tục, các quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và Luật sư bào chữa cho bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Xét về hành vi phạm tội của bị cáo Vàng A S:

Tại phiên tòa, bị cáo Vàng A S đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như bản cáo trạng của Viện kiểm sát vừa công bố là đúng. Lời khai nhận tội của bị cáo đã phù hợp với toàn bộ các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ, phù hợp với các bản hỏi cung của bị cáo khai nhận tại cơ quan điều tra, phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang lập vào ngày 03/3/2018.

Từ những tài liệu chứng cứ nêu trên, Hội đồng xét xử đã có đủ căn cứ để xác định: Hồi 14 giờ 30 phút ngày 03/3/2018, tại km 26, quốc lộ 12 hướng thành phố Đ2 đi thị xã M1 thuộc bản T1, xã M, huyện Đ, tổ công tác Phòng cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an tỉnh Điện Biên đã phát hiện và bắt quả tang Vàng A S đang mua bán trái phép 179,65 gam Heroine, nhằm mục đích kiếm lời.

Xét thấy hành vi mua bán trái phép chất ma túy của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Với trọng lượng như trên Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Điện Biên đã truy tố bị cáo ra trước Tòa án nhân dân tỉnh Điện Biên theo quy định tại điểm b Khoản 4 Điều 251 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Bị cáo Vàng A S có đủ năng lực để chịu trách nhiệm hình sự vì vậy VKSND tỉnh Điện Biên truy tố bị cáo theo điều, khoản đã viện dẫn ở trên là đúng người, đúng tội, không oan, sai.

Xét về tính chất của vụ án thấy rằng: Hành vi phạm tội của bị cáo trong vụ án này mang tính chất đặc biệt nghiêm trọng quy định tại Khoản 4 Điều 9 BLHS năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Bị cáo là người có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự do hành vi phạm tội của bị cáo đã gây ra. Bị cáo biết rõ hành vi của mình là vi phạm pháp luật, song vì mục đích tư lợi, bị cáo đã cố ý thực hiện hành vi phạm tội mua bán trái phép chất ma túy với số lượng 179,65 gam Heroine. Hành vi đó của bị cáo đã xâm phạm đến chế độ độc quyền về quản lý các chất ma túy của Nhà nước, tiếp tay cho các đối tượng mua bán và sử dụng trái phép chất ma túy, gây tác hại rất lớn về nhiều mặt cho xã hội, là nguồn gốc phát sinh ra các tệ nạn xã hội và các loại tội phạm khác, gây mất trật tự trị an xã hội. Do vậy, đối với bị cáo cần phải xử phạt thật nghiêm khắc nhằm đáp ứng yêu cầu trừng trị, răn đe, đấu tranh và phòng ngừa loại tội phạm này nói chung.

Trong hồ sơ vụ án và lời khai của bị cáo còn thể hiện các đối tượng: Người đàn ông ở Lào, người đàn ông tên là T, nhà ở Lào Cai theo lời khai của Vàng A S, là những người tham gia mua bán Heroine với S. Cơ quan điều tra đã điều tra xác minh nhưng không có cơ sở để chứng minh nên HĐXX không đề cập xử lý trong vụ án.

Xét về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ của bị cáo, thấy rằng:

Bị cáo là người dân tộc thiểu số sinh ra và lớn lên tại bản H, xã M, huyện Đ, tỉnh Điện Biên, được nuôi ăn học hết lớp 5/12, ở nhà làm nương. Bị cáo đã xây dựng gia đình và có 05 người con. Đến ngày 03/3/2018, bị cáo bị bắt quả tang về hành vi mua bán trái phép chất ma túy.

Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có các tình tiết tăng nặng quy định tại Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Về tình tiết giảm nhẹ: Sau khi phạm tội, bị cáo đã thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội được quy định tại điểm s Khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Ngoài ra, bị cáo có ông nội là người có công với cách mạng nên được hưởng quy định tại Khoản 2 Điều 51 BLHS năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Do đó, khi quyết định hình phạt cần xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để tạo điều kiện cho bị cáo yên tâm cải tạo sớm trở thành con người lương thiện.

Tại phiên tòa, vị đại diện VKSND tỉnh Điện Biên đã đề nghị HĐXX xử phạt bị cáo Vàng A S (tên gọi khác: Không) mức án 20 (hai mươi) năm tù. HĐXX thấy rằng đề nghị của đại diện VKSND tỉnh Điện Biên là có căn cứ nên cần chấp nhận.

Tại phiên tòa, người bào chữa đã phân tích tính chất của vụ án, nhân thân bị cáo, nêu ra các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo. Đề nghị HĐXX sơ thẩm áp dụng Điều 15 của BLHS năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) về Phạm tội chưa đạt; Khoản 3 Điều 57; điểm r quy định về người phạm tội tự thú, điểm t quy định về người phạm tội tích cực hợp tác với cơ quan có trách nhiệm trong việc phát hiện tội phạm hoặc trong quá trình giải quyết vụ án của Khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, HĐXX xét thấy không có căn cứ để chấp nhận.

Xét về hình phạt bổ sung bằng tiền: Hội đồng xét xử sơ thẩm xét thấy hiện tại bị cáo không có điều kiện để thi hành, Hội đồng xét xử cần miễn cho bị cáo theo Khoản 5 Điều 251 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Vật chứng vụ án: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 và Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015; căn cứ Biên bản giao nhận vật chứng ngày 28/5/2018 giữa Cơ quan điều tra Công an tỉnh Điện Biên và Cục Thi hành Dân sự tỉnh Điện Biên, Hội đồng xét xử sẽ xem xét xử lý vật chứng theo quy định pháp luật.

- Tịch thu toàn bộ số ma túy đã thu giữ của bị cáo Vàng A S để tiêu hủy.

- Tịch thu tiêu hủy giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy của chiếc xe HONDA WAVE RSX biển kiểm soát 27N1 – 01806, mang tên chủ xe Vàng A S và 02 thẻ sim gồm các số thuê bao 0986124890; 0911664723.

- Tịch thu chiếc điện thoại di động OPPO là tang vật của vụ án để bán hóa giá sung quỹ nhà nước.

- Căn cứ vào Điều 213, Điều 218, Điều 219 của Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định về sở hữu chung của vợ chồng, tịch thu sung ngân sách Nhà nước ½ giá trị chiếc xe máy nhãn hiệu HONDA WAVE RSX màu đỏ, đen, xám, trắng. Biển kiểm soát 27N1 – 01806. Số khung: RLHJC5230CY498075; Số máy: JC52E – 5240369 sau khi bán đấu giá. Trả lại cho bà Chá Thị D, sinh năm 1985 là vợ bị cáo, trú tại Bản H, xã M, huyện Đ, tỉnh Điện Biên ½ giá trị chiếc xe máy trên.

Về án phí: Căn cứ vào Điều 136 BLTTHS năm 2015; điểm đ Khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Vàng A S (tên gọi khác: Không) do bị cáo là người dân tộc thiểu số thường trú ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo Vàng A S có quyền kháng cáo đối với bản án trong thời hạn luật định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm b Khoản 4 Điều 251; điểm s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51; Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); Điều 106, Điều 136, Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Điều 213, Điều 218, Điều 219 Bộ luật Dân sự năm 2015; điểm đ Khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Về tội danh: Bị cáo Vàng A S (tên gọi khác: Không) phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Vàng A S 20 (hai mươi) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày 03/3/2018.

- Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo Vàng A S.

3. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015.

* Tịch thu tiêu hủy:

- 01 (một) gói niêm phong bằng phong bì niêm phong vật chứng của Cơ quan CSĐT – Công an tỉnh Điện Biên. Mặt trước phong bì có ghi: Vật chứng thu giữ của: Vàng A S; SN: 1984; HKTT/Chỗ ở: Bản H, xã M, huyện Đ, tỉnh Điện Biên. Vật chứng là 179,65 gam chất bột màu trắng là Heroin, đã trích mẫu gửi giám định 2,04 gam. Trọng lượng (khối lượng) còn lại là 177,61 gam.

Tại bản kết luận giám định số: 311/GĐ-PC54, ngày 09/3/2018 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Điện Biên kết luận:

+ Mẫu chất bột màu trắng trích ra từ vật chứng thu giữ khi bắt quả tang Vàng A S là ma túy loại Heroine.

+ Khối lượng số chất bột màu trắng thu giữ khi bắt quả tang Vàng A S là 179,65 gam.

- 01 (một) giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy của xe HONDA WAVE RSX biển kiểm soát 27N1 – 01806, mang tên chủ xe Vàng A S.

- 02 thẻ sim gồm các số thuê bao 0986124890; 0911664723.

* Tịch thu bán hóa giá, sung ngân sách Nhà nước:

- 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu OPPO màu trắng loại máy màn hình cảm ứng. Máy cũ đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng bên trong máy.

- ½ giá trị chiếc xe máy nhãn hiệu HONDA WAVE RSX màu đỏ, đen, xám, trắng. Biển kiểm soát 27N1 – 01806. Số khung: RLHJC5230CY498075; Số máy: JC52E – 5240369. Xe cũ đã qua sử dụng kiểm tra không phát hiện thu giữ gì trong xe.

Trả lại cho bà Chá Thị D (vợ của bị cáo Vàng A S), sinh năm 1985, trú tại: Bản H, xã M, huyện Đ, tỉnh Điện Biên ½ giá trị chiếc xe máy nhãn hiệu HONDA WAVE RSX màu đỏ, đen, xám, trắng. Biển kiểm soát 27N1 – 01806. Số khung: RLHJC5230CY498075; Số máy: JC52E – 5240369. Thu giữ của Vàng A S sau khi bán đấu giá.

(Theo Biên bản giao, nhận vật chứng giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh Điện Biên và Cục Thi hành án dân sự tỉnh Điện Biên ngày 28/5/2018).

4. Về án phí: Căn cứ vào Điều 136 BLTTHS năm 2015; điểm đ Khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Vàng A S (tên gọi khác: Không).

Kể từ khi Bản án có hiệu lực pháp luật, vợ của bị cáo Vàng A S là bà Chá Thị D có quyền làm đơn yêu cầu thi hành án trả lại cho bà ½ giá trị chiếc xe máy nhãn hiệu HONDA WAVE RSX màu đỏ, đen, xám, trắng. Biển kiểm soát 27N1 – 01806. Số khung: RLHJC5230CY498075; Số máy: JC52E – 5240369.

Trường hợp Bản án, Quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án dân sự thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

5. Về quyền kháng cáo đối với bản án: Căn cứ các Điều 331, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, bị cáo có quyền kháng cáo bản án lên Tòa án nhân dân Cấp cao tại Hà Nội trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 11/7/2018).

Cỡ chữ