- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Xuân H + ĐỒng bọn phạm tội Mua bán và Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi,…"
- Tòa quyết gì? điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s, t khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58 của Bộ luật Hình sự năm 2015 đối với cả hai bị cáo Vũ Chiển Ch và Lò Thị Th.
- Căn cứ chính? Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 101 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KINH MÔN TỈNH HẢI DƯƠNG ––––––––––––––– | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 62/2018/HS-ST Ngày: 14/8/2018 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KINH MÔN, TỈNH HẢI DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:
Ông Chu Văn Nghĩa
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Bùi Quốc Huy
Bà Đinh Thị Tin - Giáo viên.
- Thư ký phiên tòa: Ông Vũ Quang Linh - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Kinh Môn.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Kinh Môn tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Hoa - Kiểm sát viên.
Ngày 14 tháng 8 năm 2018; Tòa án nhân dân huyện Kinh Môn, tỉnh Hải Dương mở phiên tòa tại trụ sở để xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 57/2018/TLST-HS ngày 12 tháng 7 năm 2018 đối với các bị cáo:
1/. NGUYỄN XUÂN H, sinh năm 1989.
STQ: Thôn L, xã K, huyện Th, tỉnh Hải Dương.
Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Giới tính: Nam
Trình độ văn hóa: 12/12. Nghề nghiệp: Lao động tự do.
Bố: Nguyễn Văn Nh, sinh năm 1961. Mẹ: Lê Thị Th, sinh năm 1960.
Gia đình bị cáo có 04 anh em, bị cáo là con thứ 4.
Tiền án, tiền sự: Không.
Về nhân thân: Tại bản án hình sự sơ thẩm số 48/2009/HSS ngày 11/11/2009, Toà án nhân dân huyện Kim Thành đã xử phạt Nguyễn Xuân H 09 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 18 tháng về tội “Trộm cắp tài sản”. Bị cáo đã chấp hành xong bản án.
Ngày 31/01/2018, Nguyễn Xuân H bị Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện Văn Lãng, tỉnh Lạng Sơn ra Quyết định khởi tố về tội Vận chuyển hàng cấm để điều tra theo quy định của pháp luật.
Bị tạm giữ tại Trại tạm giam Kim Chi - Công an tỉnh Hải Dương từ ngày 03/5/2018, đến ngày 12/5/2018 áp dụng biện pháp tạm giam.
2/. VŨ CHIỂN CH, sinh năm 1997.
STQ: Thôn P, xã H, huyện K, tỉnh Hải Dương.
Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Giới tính: Nam.
Trình độ văn hóa: 11/12. Nghề nghiệp: Lao động tự do.
Bố: Vũ Văn H, sinh năm 1975. Mẹ: Phạm Thị D, sinh năm 1977.
Gia đình bị cáo có 02 anh em, bị cáo là con thứ nhất.
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị tạm giữ tại Trại tạm giam Kim Chi - Công an tỉnh Hải Dương từ ngày 03/5/2018, đến ngày 12/5/2018 áp dụng biện pháp tạm giam.
3/. LÒ THỊ TH, sinh ngày 04/10/2000.
STQ: phường N, thị xã M, tỉnh Điện Biên.
Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Thái; Tôn giáo: Không; Giới tính: Nữ.
Trình độ văn hóa: 11/12. Nghề nghiệp: Lao động tự do.
Bố: Lò Văn X, sinh năm 1977. Mẹ: Chu Thị T, sinh năm 1982.
Gia đình bị cáo có 02 chị em, bị cáo là con thứ nhất.
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị tạm giữ tại Trại tạm giam Kim Chi - Công an tỉnh Hải Dương từ ngày 03/5/2018, đến ngày 12/5/2018 áp dụng biện pháp tạm giam.
(Các bị cáo đều có mặt tại phiên tòa)
* Người đại diện cho bị cáo Lò Thị Th là: Ông Lò Văn X, sinh năm 1977 và bà Chu Thị T, sinh năm 1982 (là bố mẹ đẻ của bị cáo Th); địa chỉ: Tổ 7 phường N, thị xã N, tỉnh Điện Biên - ông X và bà T có mặt tại phiên tòa.
* Người bào chữa cho bị cáo Lò Thị Th (Theo Quyết định về việc cử Trợ giúp viên pháp lý tham gia tố tụng số 130/QĐ-TGPL ngày 17/5/2018 của Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước - Sở tư pháp tỉnh Hải Dương): Bà Lê Thị Thu Hiền - Trợ giúp viên pháp lý (có mặt).
* Người làm chứng:
1/. Chị Hoàng Thị Huyền Tr, sinh ngày 07/6/2000.
Địa chỉ: Thôn D, xã Hà, huyện D, tỉnh Quảng Ninh.
2/. Anh Lê Thanh B, sinh năm 1994.
Địa chỉ: Khu 1 thị trấn M, huyện K, tỉnh Hải Dương.
3/. Anh Nguyễn Hữu D, sinh năm 1980.
Địa chỉ: khu S, thị trấn K, huyện K, tỉnh Hải Dương.
(Những người làm chứng đều vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 19 giờ 30 phút ngày 03/5/2018, Vũ Chiển Ch điều khiển xe máy loại Exciter, biển số 34D1-334.20 của Ch chở bạn gái là Lò Thị Th đi dự sinh nhật của bạn. Ch rủ Th mua ma túy để cùng sử dụng, Th đồng ý. Ch lấy máy điện thoại Iphone 6s Plus có số điện thoại 0869727758 của Th gọi điện vào máy điện thoại Nokia N105 của H có số điện thoại 01637256683 với mục đích hỏi mua ma túy nhưng H không nghe máy. Sau đó Ch chở Th đến nhà nghỉ Anh Huy tại xã Hiệp Sơn, huyện Kinh Môn, tỉnh Hải Dương. Khi đến nhà nghỉ Anh Huy, Th sử dụng điện thoại di động Iphone 6 Plus của Th gọi vào số điện thoại của Nguyễn Xuân H mà Ch vừa gọi lúc trước, hỏi mua 05 viên ma túy tổng hợp dạng thuốc lắc, H đồng ý và bảo Th lên tầng 3 của nhà nghỉ. Ch đưa cho Th số tiền 2.000.000 đồng, là tiền của Ch; Th cầm tiền và đi lên tầng 3 của nhà nghỉ Anh Huy gặp H, đưa cho H số tiền 2.000.000 đồng, H nhận tiền và đưa cho Th 01 túi nilon bên trong có 05 viên ma túy tổng hợp dạng thuốc lắc. Sau đó, Th cầm số ma túy vừa mua được xuống chỗ Ch đang đứng đợi dưới cửa nhà nghỉ rồi đưa cho Ch, Ch cất giấu vào trong túi quần phía trước bên phải đang mặc, rồi chở Th đi chơi.
Hồi 20 giờ cùng ngày, khi Ch dừng xe đứng nói chuyện với Th ở trước cửa nhà hàng Quang Quý thuộc khu Phụ Sơn, thị trấn Kinh Môn, huyện Kinh Môn thì bị Công an kiểm tra, phát hiện Ch cất giấu trong túi quần bên phải phía trước Ch đang mặc 01 túi nilon bên trong có 05 viên nén hình trụ tròn màu xanh; Ch và Th khai nhận đó là ma túy tổng hợp dạng thuốc lắc do Ch và Th mua của H về để sử dụng. Công an đã tiến hành thu giữ của Ch túi nilon đựng 05 viên nén nêu trên và chiếc xe máy biển số 34D1-334.20, thu giữ của Th 01 chiếc điện thoại di động Iphone 6 Plus kèm theo 01 sim số 0869727758.
Căn cứ lời khai của Vũ Chiển Ch và Lò Thị Th, hồi 20 giờ 20 phút ngày 03/5/2018, Công an kiểm tra nhà nghỉ Anh Huy thuộc xã Hiệp Sơn, huyện Kinh Môn. Kiểm tra phòng 410 do Nguyễn Xuân H đang thuê, phát hiện H cất giấu trong túi quần bên phải phía trước H đang mặc 01 túi nilon bên trong có 05 viên nén hình trụ tròn màu xanh, H khai đó là ma túy tổng hợp dạng thuốc lắc. Th giữ của H túi nilon đựng 05 viên nén nêu trên và thu giữ của H số tiền 2.000.000 đồng, 01 điện thoại di động Iphone 5 kèm theo 01 sim số 01239368628, 01 điện thoại di động Nokia loại 02 sim lắp 01 sim số 0979015589. Về nguồn gốc số ma túy, H khai: Khoảng 18 giờ ngày 03/5/2018, H đi xe ô tô khách đến khu vực phường Quán Toan, quận Hồng Bàng, thành phố Hải Phòng mua của một người thanh niên không rõ tên và địa chỉ 10 viên ma túy tổng hợp dạng thuốc lắc với giá 3.000.000 đồng, mục đích để sử dụng và để bán. Sau đó, H đem số ma tuý mua được đi về phòng 410, nhà nghỉ Anh Huy, là nơi H đang thuê trước đó 02 ngày. Khoảng 19 giờ 30 phút cùng ngày, H nhận được điện thoại di động của Lò Thị Th gọi vào điện thoại di động Nokia của H hỏi mua 05 viên ma túy tổng hợp dạng thuốc lắc, H đồng ý và bảo Th đi lên tầng 3 của nhà nghỉ Anh Huy. Sau đó H lấy gói ma túy đã mua, lấy 5 viên cho vào túi nilon rồi bán cho Th với giá 2.000.000 đồng; 05 viên ma tuý còn lại H cất giấu trong túi quần, sau đó bị công an thu giữ. Sau khi bán chất ma túy cho Th xong, chiếc sim điện thoại dùng liên lạc trao đổi mua bán ma túy với Th, H đem bẻ vụn và cho vào bồn cầu xả nước. Số tiền 2.000.000đ bị lực lượng công an thu giữ là tiền H có được do bán 05 viên ma túy cho Th.
Tại bản Kết luận giám định số 314/KLGĐ-PC54 và số 315/KLGĐ-PC54 ngày 06/5/2018 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Hải Dương kết luận:
- Các viên nén hình trụ tròn màu xanh ghi thu của Nguyễn Xuân H gửi đến giám định có tổng khối lượng là 1,584 gam, là loại MDMA;
- Các viên nén hình trụ tròn màu xanh ghi thu của Vũ Chiển Ch gửi đến giám định có tổng khối lượng là 1,592 gam, là loại MDMA.
Hoàn lại đối tượng giám định gồm 0,945 gam MDMA, được niêm phong số 314/KLGĐ-PC54 và 0,959 gam MDMA, được niêm phong số 315/KLGĐ-PC54.
Quá trình điều tra không xác định được căn cước, lý lịch của đối tượng bán chất ma tuý cho Nguyễn Xuân H nên không có căn cứ để xử lý.
Cơ quan Cảnh sát điều tra quản lý 01 chứng minh nhân dân mang tên Phạm Văn H, sinh năm 1991; trú tại: xã Kim Lương, huyện Kim Thành, tỉnh Hải Dương do anh Nguyễn Hữu D là chủ nhà nghỉ Anh Huy giao nộp. Nguyễn Xuân H khai nhận chứng minh nhân dân nêu trên do H nhặt được, khi đến thuê phòng tại nhà nghỉ Anh Huy, H không đem theo chứng minh nhân dân của mình nên đã xé ảnh của anh V và dán ảnh của H vào chứng minh nhân dân nhặt được để đăng ký lưu trú tại nhà nghỉ. Hiện anh V không có mặt tại địa phương, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện Kinh Môn tiếp tục quản lý chứng minh nhân dân trên để giải quyết theo quy định của pháp luật.
Quá trình điều tra Nguyễn Xuân H, Vũ Chiển Ch và Lò Thị Th thừa nhận hành vi phạm tội.
Tại bản Cáo trạng số 60/CT - VKSKM ngày 10/7/2018, Viện kiểm sát nhân dân huyện Kinh Môn đã truy tố bị cáo Nguyễn Xuân H về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 251 của Bộ luật hình sự; truy tố Vũ Chiển Ch và Lò Thị Th đều về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự năm 2015.
Tại phiên tòa hôm nay:
* Các bị cáo Nguyễn Xuân H, Vũ Chiển Ch và Lò Thị Th đều thừa nhận hành vi phạm tội như Quyết định truy tố của VKSND huyện Kinh Môn. Bị cáo Vũ Chiển Ch xác định là người rủ Th đi tìm mua ma túy để cùng sử dụng và đưa cho Th số tiền 2.000.000đ để mua ma túy; Nguyễn Xuân H xác định số ma túy bị cáo mua 10 viên mục đích bán lại để kiếm lời; bị cáo đã bán cho Lò Thị Th 05 viên, 05 viên ma túy còn lại nếu có người hỏi mua thì bị cáo cũng sẽ bán; bị cáo Lò Thị Th xác định đã bỏ học từ năm 2017, làm nhân viên phục vụ quán Karaoke tại huyện Kinh Môn, tỉnh Hải Dương. Các bị cáo đều đề nghị xem xét giảm nhẹ hình phạt.
* Người đại diện cho bị cáo Lò Thị Th là ông Lò Văn Xuân và bà Chu Thị Tình có mặt tại phiên tòa xác định lời khai của bị cáo tại phiên tòa khách quan, người đại diện không có ý kiến khiếu nại gì về hành vi của người tiến hành tố tụng, cơ quan tố tụng.
* Đại diện VKSND huyện Kinh Môn giữ nguyên Quyết định truy tố; nêu những chứng cứ chứng minh hành vi phạm tội của các bị cáo, đánh giá tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội; xem xét nhân thân cũng như các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với cả 3 bị cáo. Đề nghị: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Xuân H phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”; bị cáo Vũ Chiển Ch và Lò Thị Th đều phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Áp dụng: khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015. Xử phạt Nguyễn Xuân H từ 04 năm 3 tháng đến 04 năm 6 tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tính từ ngày tạm giữ 03/5/2018.
- Áp dụng: điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s, t khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58 của Bộ luật hình sự năm 2015 (đối với bị cáo Vũ Chiển Ch và Lò Thị Th). Bị cáo Lò Thị Th được áp dụng thêm nguyên tắc xử lý đối với người dưới 18 tuổi phạm tội quy định tại Điều 91; khoản 1 Điều101 Bộ luật hình sự; bị cáo Vũ Chiển Ch bị áp dụng thêm tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự tại điểm o khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự.
+ Xử phạt Vũ Chiển Ch từ 18 đến 21 tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ, 03/5/2018.
+ Xử phạt Lò Thị Th từ 13 đến 15 tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ, 03/5/2018.
- Hình phạt bổ sung: Do bị cáo Nguyễn Xuân H và Vũ Chiển Ch đều không có công việc, thu nhập ổn định; bị cáo Lò Thị Th khi phạm tội chưa đủ 18 tuổi nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền theo quy định tại khoản 6 Điều 91; khoản 5 Điều 249, khoản 5 Điều 251 của Bộ luật hình sự năm 2015 đối với cả 3 bị cáo.
- Vật chứng: Áp dụng điểm a, b, c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự 2015; điểm a, b khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng Hình sự năm 2015.
+ Tịch thu cho tiêu hủy số ma túy thu giữ trong vụ án được Cơ quan giám định hoàn lại mẫu vật trong 02 niêm phong số 314/KLGĐ-PC54; 315/KLGĐ-PC54.
+ Tịch thu phát mại sung quỹ nhà nước: 01 điện thoại Nokia màu trắng thu của H kèm theo 01 sim; 01 điện thoại Iphone 6 Plus màu vàng kèm theo 01 sim thu của bị cáo Lò Thị Th.
+ Tịch thu sung quỹ nhà nước số tiền 2.000.000đ của Nguyễn Xuân H do mua bán ma túy mà có.
+ Trả lại cho bị cáo Vũ Chiển Ch 01 xe mô tô loại EXCITER, biển số 34D1 - 334.20.
+ Trả lại cho Nguyễn Xuân H 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 5 màu trắng, kèm theo 01 sim.
Các bị cáo đều phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
- Người bào chữa cho bị cáo xác định tội danh theo Quyết định truy tố của Viện kiểm sát nhân dân huyện Kinh Môn đối với Lò Thị Th là đúng với hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo như: Thành khẩn khai báo; sau khi bị phát hiện đã khai báo hành vi mua bán ma túy của H, giúp Cơ quan điều tra nhanh chóng phát hiện, bắt giữ tội phạm theo quy định tại điểm s, t khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Ngoài ra khi phạm tội bị cáo Th chưa đủ 18 tuổi nên được áp dụng quy định tại Điều 91; Điều 101 của Bộ luật hình sự. Đề nghị áp dụng hình phạt đối với bị cáo Th từ 10 đến 12 tháng tù; không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo Th.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng: Cơ quan điều tra, Điều tra viên Công an huyện Kinh Môn; Viện kiểm sát nhân dân huyện Kinh Môn, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo; người bào chữa và người đại diện của bị cáo Lò Thị Th không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Căn cứ xác định hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên tòa, các bị cáo Nguyễn Xuân H, Vũ Chiển Ch và Lò Thị Th hoàn toàn thừa nhận hành vi phạm tội như Quyết định truy tố của Viện kiểm sát, những lời khai này phù hợp với lời khai của các bị cáo tại quá trình điều tra và những người làm chứng; phù hợp khách quan với những tài liệu, chứng cứ khác do Cơ quan điều tra thu thập trong hồ sơ vụ án như: Biên bản bắt người phạm tội quả tang; Biên bản niêm phong đồ vật; Kết luận của cơ quan giám định đối với các viên nén hình trụ tròn màu xanh ghi thu của Nguyễn Xuân H gửi đến giám định có tổng khối lượng là 1,584 gam, là loại MDMA; các viên nén hình trụ tròn màu xanh ghi thu của Vũ Chiển Ch gửi đến giám định có tổng khối lượng là 1,592 gam, là loại MDMA.
Đã có đủ căn cứ kết luận: Khoảng 18 giờ ngày 03/5/2018, Nguyễn Xuân H đã đến khu vực phường Quán Toan, thành phố Hải Phòng mua 10 viên ma túy tổng hợp loại MDMAvới giá 3.000.000 đồng; có tổng khối lượng 3,176gam với mục đích sử dụng và bán. Tối ngày 03/5/2018, tại nhà nghỉ Anh Huy thuộc xã Hiệp Sơn, huyện Kinh Môn, tỉnh Hải Dương, Nguyễn Xuân H có hành vi bán trái phép cho Lò Thị Th 1,592 gam ma túy loại MDMA và cất giấu trái phép 1,584 gam MDMA còn lại; Lò Thị Th đã sử dụng 2.000.000 đồng do Vũ Chiển Ch đưa cho để mua 1,592 gam ma túy loại MDMA nêu trên, sau đó Th đưa số ma túy mua được cho Ch cất giấu mục đích để Th và Ch sử dụng thì bị phát hiện, thu giữ vật chứng. Do vậy, Viện kiểm sát nhân dân huyện Kinh Môn, tỉnh Hải Dương đã truy tố bị cáo Nguyễn Xuân H về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 251 của Bộ luật hình sự; truy tố Vũ Chiển Ch và Lò Thị Th đều về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự năm 2015 là có căn cứ, đúng pháp luật.
Trong vụ án này, hành vi phạm tội của bị cáo Nguyễn Xuân H đã thực hiện cấu thành tội phạm độc lập. Bị cáo Vũ Chiển Ch và Lò Thị Th cùng thực hiện hành vi mua ma túy, cất giấu với mục đích để sử dụng nên có yếu tố đồng phạm: Bị cáo Ch là người khởi xướng việc mua ma túy, sử dụng phương tiện để chở Th và đưa cho Th số tiền 2.000.000đ để mua ma túy, sau khi mua ma túy thì Ch là người cất giấu trái phép số ma túy vừa mua trong người nên Ch giữ vai trò chính. Bị cáo Th là người trực tiếp liên hệ và trực tiếp thực hiện hành vi mua ma túy của H, đưa cho Ch cất giấu nhằm mục đích cùng sử dụng; do vậy bị cáo Th giữ vai trò đồng phạm thực hành tích cực.
Đánh giá tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội:
Hiện nay số lượng các vụ án ma túy và tội phạm liên quan đến ma túy ngày càng có chiều hướng gia tăng và diễn biến hết sức phức tạp mà nguyên nhân, động cơ phát sinh từ việc sử dụng ma túy. Trong vụ án này các bị cáo thực hiện hành vi mua bán, tàng trữ trái phép ma túy tổng hợp MDMA, là loại ma túy gây ảo giác mạnh, khi sử dụng loại ma túy này sẽ ảnh hưởng tiêu cực đến sức khỏe và thần kinh của người sử dụng; làm cho người sử dụng có thể thực hiện nhiều hành vi phạm tội nguy hiểm khác. Đối với bị cáo Nguyễn Xuân H năm 2009 bị Tòa án nhân dân huyện Kim Thành, tỉnh Hải Dương xử phạt 09 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 18 tháng về tội “Trộm cắp tài sản”; bị cáo đã bị pháp luật giáo dục cải tạo nhưng không chịu tu dưỡng để trở thành người công dân có ích cho xã hội mà lại tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo không những sử dụng ma túy mà còn thực hiện hành vi bán trái phép ma túy cho người khác sử dụng, thể hiện sự bất chấp pháp luật của bị cáo. Bị cáo Vũ Chiển Ch, Lò Thị Th đều biết rõ hành vi mua ma túy để sử dụng bị pháp luật nghiêm cấm, tuy nhiên các bị cáo vẫn cố ý thực hiện hành vi phạm tội. Do vậy cần xét xử vụ án nghiêm minh, áp dụng hình phạt nghiêm khắc đối với các bị cáo mới có tác dụng giáo dục, cải tạo và mang tính răn đe phòng ngừa chung.
Tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
- Bị cáo Nguyễn Xuân H và Lò Thị Th không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Bị cáo Vũ Chiển Ch là người đề xuất, rủ rê Lò Thị Th mua ma túy để cùng sử dụng nên phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là “Xúi giục người dưới 18 tuổi phạm tội” theo quy định tại điểm o khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự.
- Tại quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, cả 3 bị cáo đều có thái độ khai báo thành khẩn nên được áp dụng tính tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là “Người phạm tội thành khẩn khai báo” theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Bị cáo Vũ Chiển Ch, Lò Thị Th ngay sau khi hành vi phạm tội bị phát hiện đã khai báo với Cơ quan Công an hành vi mua ma túy của Nguyễn Xuân H; giúp Cơ quan Công an nhanh chóng phát hiện, bắt giữ tội phạm nên cả hai bị cáo này đều được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là “ Người phạm tội tích cực hợp tác với cơ quan có trách nhiệm trong việc phát hiện tội phạm” theo quy định tại điểm t khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
- Bị cáo Lò Thị Th vào thời điểm thực hiện hành vi phạm tội mới 17 tuổi, 6 tháng 29 ngày nên được áp dụng nguyên tắc xử lý đối với người dưới 18 tuổi phạm tội theo quy định tại Điều 91, khoản 1 Điều 101 của Bộ luật hình sự.
Hình phạt bổ sung: Do bị cáo Nguyễn Xuân H và Vũ Chiển Ch đều không có công việc, thu nhập ổn định; bị cáo Lò Thị Th khi phạm tội chưa đủ 18 tuổi nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo theo quy định tại khoản 5 Điều 249; khoản 5 Điều 251 của Bộ luật hình sự năm 2015.
Xử lý vật chứng:
+ Số ma túy thu giữ trong vụ án, sau khi giám định thì Cơ quan giám định hoàn lại mẫu vật trong 02 niêm phong số 314/KLGĐ-PC54; 315/KLGĐ-PC54 cần tịch thu cho tiêu hủy.
+ 01 điện thoại Nokia màu trắng kèm theo 01 sim thu của Nguyễn Xuân H; 01 điện thoại Iphone 6 Plus màu vàng kèm theo 01 sim thu cua Lò Thị Th. Do bị cáo H, Th sử dụng 02 chiếc chiếc điện thoại này sử dụng vào việc liên hệ, giao dịch mua bán ma túy, tại phiên tòa các bị cáo có quan điểm không nhận lại chiếc sim kèm theo điện thoại nên cho tịch thu phát mại sung ngân sách nhà nước.
+ Số tiền 2.000.000đ thu của Nguyễn Xuân H do mua bán ma túy mà có nên tịch thu sung ngân sách nhà nước.
+ Trả lại cho Vũ Chiển Ch 01 xe mô tô loại EXCITER, biển số 34D1 - 334.20.
+ Trả lại cho Nguyễn Xuân H 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 5 màu trắng, kèm theo 01 sim.
Án phí: Bị cáo Nguyễn Xuân H, Vũ Chiển Ch và Lò Thị Th đều phải chịu án phí hình sự sơ thẩm;
Vì lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
- Căn cứ vào:
+ khoản 1 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự 2015 đối với bị cáo Nguyễn Xuân H.
+ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s, t khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58 của Bộ luật Hình sự năm 2015 đối với cả hai bị cáo Vũ Chiển Ch và Lò Thị Th.
Bị cáo Lò Thị Th được áp dụng thêm Điều 91, khoản 1 Điều 101 của Bộ luật hình sự 2015. Bị cáo Vũ Chiển Ch bị áp dụng thêm điểm o khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự.
- Tuyên bố:
+ Bị cáo Nguyễn Xuân H phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
+ Bị cáo Vũ Chiển Ch và Lò Thị Th đều phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”
- Áp dụng hình phạt chính:
+ Xử phạt Nguyễn Xuân H 51 (năm mươi mốt) tháng tù; thời hạn chấp hành hình phạt tính từ ngày tạm giữ 03/5/2018.
+ Xử phạt Vũ Chiển Ch 18 (mười tám) tháng tù; thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ, 03/5/2018.
+ Xử phạt Lò Thị Th 13 (mười ba) tháng tù; thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ, 03/5/2018.
- Xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a, b, c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự 2015; điểm a, b khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng Hình sự năm 2015.
+ Tịch thu cho tiêu hủy số ma túy thu giữ được Cơ quan giám định hoàn lại mẫu vật trong 02 niêm phong số 314/KLGĐ-PC54; 315/KLGĐ-PC54
+ Tịch thu phát mại sung ngân sách nhà nước của: Nguyễn Xuân H 01 điện thoại Nokia màu trắng, kèm theo 01 sim; Lò Thị Th 01 điện thoại Iphone 6 Plus màu vàng, kèm theo 01 sim.
+ Tịch thu sung ngân sách nhà nước số tiền 2.000.000đ.
+ Trả lại cho Vũ Chiển Ch 01 xe mô tô loại EXCITER, biển số 34D1 - 334.20.
+ Trả lại cho Nguyễn Xuân H 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 5 màu trắng, kèm theo 01 sim.
(Số lượng, đặc điểm, tình trạng vật chứng theo Biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản ngày 13/8/2018 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Kinh Môn)
- Án phí: Áp dụng Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; Luật phí, lệ phí; Nghị quyết 326 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Các bị cáo Nguyễn Xuân H và Vũ Chiển Ch và Lò Thị Th mỗi bị cáo đều phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.
- Quyền kháng cáo: Án xử công khai sơ thẩm; có mặt các bị cáo, người đại diện và người bào chữa của bị cáo Lò Thị Th. Đã báo cho các bị cáo và người bào chữa và người đại diện của bị cáo Lò Thị Th biết được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, tính từ ngày tuyên án.
T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| * Nơi nhận: - VKSND huyện Kinh Môn. - Công an huyện Kinh Môn. - Trại tạm giam Kim Chi - CA tỉnh Hải Dương. - Chi cục THADS huyện Kinh Môn. - Sở Tư pháp tỉnh Hải Dương. - Người bào chữa;Người đại diện. - Các bị cáo. | Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Chu Văn Nghĩa |