vanban.org

Bản án 62/2018/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Duy Tiên, tỉnh Hà Nam Tuyên án 29/08/2018 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Lê Văn Th (tên gọi khác: không) phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Áp dụng: Điểm c khoản 1 điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật hình sự. Xử phạt: Lê Văn Th 36( Ba mươi sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ 20/6/2018. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Le Van Th - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Lê Văn Th (tên gọi khác: không) phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN DUY TIÊN
TỈNH HÀ NAM

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 62/2018/HS -ST
Ngày 29 - 8 - 2018

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DUY TIÊN - TỈNH HÀ NAM

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Tiến Đông.

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Vũ Thị Mai Hường;

2. Ông Vũ Quốc Phòng.

- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Lan Anh - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Duy Tiên, tỉnh Hà Nam.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Duy Tiên, tỉnh Hà Nam tham gia phiên tòa: bà Ngô Thị Thanh Quý - Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 8 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Duy Tiên, tỉnh Hà Nam xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 61/2018/HSST ngày 31 tháng 7 năm 2018, Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 62/2018/QĐXXST - HS ngày 16 tháng 8 năm 2018, đối với:

* Bị cáo: Lê Văn Th, sinh năm 1983 (tên gọi khác: Không); Nơi cư trú: xã Kh, huyện K, tỉnh Hà Nam; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Văn Ph (đã chết) và bà Phạm Thị X, sinh năm 1959; Vợ, con: Chưa có.

* Tiền án: Ngày 23/4/2014, Tòa án nhân dân huyện Mỹ Đức, thành phố Hà Nội xử phạt 04 năm tù giam về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thành chấp hành xong hình phạt tù trở về địa phương ngày 30/3/2017. Đã nộp án phí hình sự sơ thẩm.

* Tiền sự: Không.

* Nhân thân:

- Ngày 25/3/2010 Phòng CSĐT tội phạm về ma túy Công an tỉnh Hà Nam xử phạt 350.000 đồng về hành vi “Tàng trữ trái phép chất ma túy” đã chấp hành xong

- Ngày 22/12/2010 Công an huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam xử phạt 1.500.000 đồng về hành vi “Đánh bạc” đã chấp hành xong.

- Ngày 13/12/2010, Công an xã Khả Phong, huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam xử phạt Cảnh cáo về lĩnh vực an ninh trật tự.

Bị tạm giữ ngày 20/6/2018, chuyển tạm giam ngày 25/6/2018. Hiện bị cáo bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Hà Nam; có mặt.

* Người làm chứng:

- Bà Phạm Thị X, sinh năm 1959; vắng mặt

- Anh Nguyễn Tiến D, sinh năm 1972; vắng mặt

- Anh Trần Văn H, sinh năm 1970; vắng mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 10 giờ 00 phút ngày 20/6/2018, tại thôn Ninh Lão, xã Duy Minh, huyện Duy Tiên, tỉnh Hà Nam, tổ công tác Công an huyện Duy Tiên phối hợp với Công an xã Duy Minh phát hiện, bắt quả tang Lê Văn Th, sinh năm 1983, trú tại: xã Kh, huyện K, tỉnh Hà Nam, có hành vi cất giấu trong lòng bàn tay trái 01 gói nhỏ KT(2,1x1,2)cm, bên ngoài bọc nilon màu trắng, bên trong là lớp giấy màu trắng, trong lớp giấy màu trắng có chứa chất màu trắng dạng cục (Th khai đó là Heroine). Tổ công tác đã thu giữ toàn bộ vật chứng có liên quan. Cụ thể gồm:

- Thu trong lòng bàn tay trái Lê Văn Th 01 gói giấy màu trắng bên trong có chứa chất màu trắng dạng cục được niêm phong trong phong bì ký hiệu QT01;

- Thu tại vị trí bắt giữ Lê Văn Th 01 xe mô tô Honda Wave BKS 18S8 - 0957.

Khám xét khẩn cấp nơi ở, đồ vật của Lê Văn Th: Cơ quan CSĐT Công an huyện Duy Tiên không thu giữ đồ vật, tài liệu gì liên quan đến vụ án.

Tại bản kết luận giám định số 104/PC54-MT ngày 22/6/2018 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hà Nam kết luận: “Mẫu bột màu trắng dạng cục trong phong bì niêm ký hiệu QT01 gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,204g, loại Heroine”

Về nguồn gốc ma túy: Lê Văn Th khai nhận, khoảng 09 giờ 30 phút ngày 20/6/2018, Th điều khiển xe mô tô BKS 18S8 - 0957 của mình từ xã Kh, huyện K đi ra khu vực ngã tư Biên Hòa thuộc thị trấn Quế, huyện Kim Bảng để tìm mua ma túy Heroine về sử dụng thì gặp T nhà ở Kim Bảng là bạn nghiện của mình và rủ T cùng đi mua ma túy về sử dụng. T đồng ý, đưa cho Th số tiền 200.000 đồng. Th cầm tiền T đưa cất vào trong người. Sau đó, T điều khiển xe mô tô BKS 18S8 - 0957 chở Th đi ra thị trấn Đồng Văn, huyện Duy Tiên, đến đoạn đường có công trình xây dựng đang thi công thì dừng lại. Tại đây, Th mua của một nam thanh niên không rõ tên tuổi, địa chỉ 01 gói ma túy với giá 400.000 đồng (gồm 200.000 đồng của Th và 200.000 đồng của T). Sau đó, Th cầm gói ma túy vừa mua được trong lòng bàn tay trái của mình rồi lên xe mô tô để T chở về. Khi đi đến khu vực chợ thuộc thôn Ninh Lão, xã Duy Minh, huyện Duy Tiên, T dừng xe và đi vào hiệu thuốc mua xi lanh, nước cất để sử dụng ma túy, Th đứng ngoài đợi. Lúc này, Th bị lực lượng Công an phát hiện, bắt quả tang, còn T lợi dụng sơ hở đã bỏ chạy thoát.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Lê Văn Th đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình.

Bản Cáo trạng số 63/CT - VKS ngày 31/7/2018, Viện kiểm sát nhân dân huyện Duy Tiên đã truy tố Lê Văn Th về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ: Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật hình sự. Xử phạt Lê Văn Th từ 30 đến 36 tháng tù, miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo, ngoài ra đại diện Viện kiểm sát còn đưa ra quan điểm về xử lý vật chứng và tuyên án phí đối với bị cáo.

Trong phần tranh luận và lời nói sau cùng, bị cáo Lê Văn Th xin giảm nhẹ hình phạt, ngoài ra bị cáo không tranh luận gì.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử (HĐXX) nhận định như sau:

Về thủ tục tố tụng: Xét hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng, của Điều tra viên và Kiểm sát viên: Việc xác minh, thu thập tài liệu chứng cứ chứng minh tội phạm, ban hành các văn bản tố tụng đều thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên và của các cơ quan tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về nội dung vụ án: Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo Lê Văn Th đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội. Lời nhận tội của bị cáo hoàn toàn phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra và Người làm chứng; Biên bản thu giữ vật chứng; Kết luận giám định; Bản kết luận điều tra; Cáo trạng truy tố bị cáo cùng các tài liệu chứng cứ khác đã được thu thập. Do đó, HĐXX có đủ cơ sở kết luận: Hồi 10 giờ ngày 20/6/2018, tại thôn Ninh Lão, xã Duy Minh, huyện Duy Tiên, tỉnh Hà Nam, Lê Văn Th có hành vi cất giấu trong người 01 gói ma túy, có khối lượng 0,204g, loại Heroine để sử dụng thì bị Tổ công tác công an huyện Duy Tiên phối hợp với Công an xã Duy Minh phát hiện, bắt quả tang. Tổng khối lượng Heroine thu giữ là 0,204g.

Hành vi nêu trên của Lê Văn Th đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Hành vi phạm tội của bị cáo gây nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chế độ độc quyền quản lý chất ma túy của Nhà nước, ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an tại địa phương. Do đó, cần phải xử lý bị cáo bằng hình phạt nghiêm khắc mới có tác dụng răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.

] Xét về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo là đối tượng có nhân thân xấu, đã có 01 tiền án chưa được xóa án tích lại tiếp tục phạm tội mới nên bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là “Tái phạm” quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Do vậy, bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Từ những phân tích và nhận định trên, HĐXX nhận thấy: Bị cáo là đối tượng có nhân thân xấu, đã có tiền án chưa được xóa án tích lại tiếp tục dấn thân vào con đường phạm tội thể hiện sự coi thường pháp luật. Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát đề nghị áp dụng hình phạt tù đối với bị cáo là phù hợp. Vì vậy, HĐXX cần phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để cải tạo bị cáo thành người công dân có ích cho gia đình và xã hội.

Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo là người nghiện ma túy, không có nghề nghiệp và thu nhập, hoàn cảnh gia đình khó khăn, nên HĐXX xét miễn hình phạt bổ sung đối với bị cáo là phù hợp với thực tế.

Đối với đối tượng tên Tuấn theo Lê Văn Th khai là người đã góp 200.000 đồng và cùng Th đi mua ma túy về sử dụng. Do không xác định được họ tên, tuổi, địa chỉ cụ thể của T. Do vậy, Cơ quan CSĐT Công an huyện Duy Tiên không có cơ sở để xác minh, xử lý theo quy định của pháp luật là có căn cứ.

Về vật chứng của vụ án:

- Đối với 01 xe mô tô BKS 18S8 - 0957 là tài sản hợp pháp của Th và Th đã sử dụng làm phương tiện phạm tội HĐXX cần tịch thu sung Ngân sách Nhà nước.

- Đối với 01 phong bì niêm phong, mặt trước ghi số 104/PC54-MT là mẫu vật hoàn trả sau giám định chất ma túy không còn giá trị sử dụng, HĐXX cần tịch thu cho tiêu hủy.

Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải chịu theo quy định tại Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội.

Từ nhận định trên:

QUYẾT ĐỊNH

1. Tuyên bố: Bị cáo Lê Văn Th (tên gọi khác: không) phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Áp dụng: Điểm c khoản 1 điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật hình sự.

Xử phạt: Lê Văn Th 36( Ba mươi sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ 20/6/2018.

2. Vật chứng vụ án: Áp dụng Điều 47 BLHS; Điều 106 BLTTHS:

- Tịch thu sung Ngân sách Nhà nước: 01 (Một) xe mô tô BKS 18S8 - 0957

- Tịch thu cho tiêu hủy: 01 (Một) phong bì niêm phong số: 104/PC54-MT.

(Toàn bộ đặc điểm vật chứng như biên bản giao nhận vật chứng giữa Công an huyện Duy Tiên và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Duy Tiên ngày 02/8/2018).

3. Về án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội: Buộc bị cáo Lê Văn Th phải nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng).

Án xử công khai sơ thẩm, Bị cáo có mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.

Cỡ chữ