vanban.org

Bản án 62/2018/DS-PT — Tranh chấp hợp đồng dịch vụ

TAND tỉnh Bình Phước Tuyên án 07/06/2018 Dân sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 07/06/2018 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận một phần kháng cáo của bị đơn Đào Xuân T;

Sửa bản án sơ thẩm số 39/2018/DS-ST ngày 18/10/2017 của Tòa án nhân dân thị xã Đ. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông Lý Trung H về việc: “Tranh chấp hợp đồng dịch vụ”. Tuyên bố Hợp đồng dịch vụ pháp lý giữa ông Lý Trung H và Văn phòng luật sư T ngày 15/4/2013 vô hiệu. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng dịch vụ — án dân sự — "Tranh chấp hợp đồng dịch vụ"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận một phần kháng cáo của bị đơn Đào Xuân T;
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 122 Bộ luật Dân sự; Điều 128 Bộ luật Dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH BÌNH PHƯỚC

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 62/2018/DS-PT
Ngày: 07-6-2018
V/v: “Tranh chấp hợp đồng dịch vụ”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH PHƯỚC

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán-Chủ tọa phiên tòa:

Ông Hoàng Minh Thịnh

Các Thẩm phán:

Ông Nguyễn Văn Nhân

Ông Vũ Hoàng Linh

- Thư ký phiên Tòa: Ông Nguyễn Hữu Nam – Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Bình Phước.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Phước tham gia phiên tòa: Đàm Thị Vang - Kiểm sát viên.

Ngày 07/6/2018 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bình Phước xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 147/2017/TLPT- DS ngày 21/12/2017 về việc: “Tranh chấp hợp đồng dịch vụ”.

Do Bản án dân sự sơ thẩm số: 39/2018/DSST ngày 18/10/2017 của Tòa án nhân dân thị xã Đ bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 36/2017/QĐPT-DS ngày 16 tháng 4 năm 2018, giữa:

1. Nguyên đơn: Ông Lý Trung H, sinh năm 1966. (Có mặt)

Địa chỉ: ấp B, xã L, huyện L, tỉnh Bình Phước.

2. Bị đơn: Ông Đào Xuân T – Truởng văn phòng luật sư T (Có mặt)

Địa chỉ: đường quốc lộ 14, phường T, thị xã Đ, tỉnh Bình Phuớc.

Người kháng cáo: Bị đơn ông Đào Xuân T.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Nguyên đơn ông Lý Trung H trình bày: Truớc đây ông bị Viện kiểm sát nhân dân huyện L khởi tố vụ án huỷ hoại rừng, xét thấy hành vi của mình không phạm tội và có nhiều tình tiết không rõ ràng có thể hiện quyền và lợi ích hợp pháp của mình nên ông đã đến Văn phòng luật sư T, do ông Đào Xuân T làm trưởng văn phòng ký hợp đồng dịch vụ pháp lý để yêu cầu ông Đào Xuân T bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của ông, cụ thể:

Ngày 15/04.2013, ông và ông Đào Xuân T ký hợp đồng dịch vụ pháp lý, theo đó nếu ông trả cho ông Đào Xuân T số tiền 300.000.000đồng thì ông Đào Xuân T sẽ bào chữa cho ông không phạm tội thì ông sẽ trả cho ông Đào Xuân T số tiền 500.000.000đồng. Sau khi ký hợp đồng, ông đã chuyển khoản cho ông Đào Xuân T ba lần với tổng số tiền 280.000.000đồng, cụ thể các lần chuyển khoản như sau:

Lần 1: Ngày 24/3/2013 ông chuyển khoản cho ông Đào Xuân T số tiền 80.000.000đồng qua chi nhánh ngân hàng Vietinbank đặt quỹ tín dụng ở L, Tỉnh Bình Phuớc.

Lần 2: Ngày 24/3/2013 ông chuyển khoản cho ông Đào Xuân T số tiền 100.000.000đồng qua chi nhánh ngân hàng Sacombank tại huyện L, Tỉnh Bình Phuớc.

Lần 3: Ngày 27/12/2013 ông chuyển khoản cho ông Đào Xuân T số tiền 100.000.000đồng qua chi nhánh ngân hàng Vietinbank đặt quỹ tín dụng ở L, Tỉnh Bình Phuớc.

Tuy nhiên sau khi ký hợp đồng và nhận tiền của ông, ông Đào Xuân T đã không thực hiện đúng hợp đồng và thoả thuận trong hợp đồng, cụ thể quá trình điều tra, truy tố và cả khi xét xử ông Đào Xuân T không tham gia mà để người khác tham gia bào chữa cho ông. Ngày 28/3/2014 tôi bị Toà án nhân dân huyện L xử án treo về tội: “Huỷ hoại rừng”. Quá bức xúc, ông có nói chuyện với ông Đào Xuân T để kháng án cho ông, sau đó ông Đào Xuân T hứa trả lại cho ông 200.000.000đồng nhưng cho đến nay mặc dù nhắc nhiều lần nhưng ông Đào Xuân T vẫn không trả lại cho ông.

Do vậy, nay ông yêu cầu Toà án giải quyết buộc ông Đào Xuân T phải hoàn trả cho ông số tiền đã nhận là 280.000.000đồng do ông Đào Xuân T đã không thực hiện đúng nội dung như thoả thuận trong hợp đồng thực hiện dịch vụ pháp lý đã ký ngày 15/4/2013 ( truớc đây trong đơn khởi kiện ông có yêu cầu phải trả cho ông số tiền là 300.000.000đồng nhưng trên thực tế giấy tờ ông chỉ chuyển khoản cho ông Đào Xuân T số tiền 280.000.000đồng).

Bị đơn ông Đào Xuân T – trưởng văn phòng luật sư T – trình bày: Ông đã nhận đuợc thông báo thụ lý vụ án của Toà án nhân dân thị xã Đ, tỉnh Bình Phước về việc ông Lý Trung H khởi kiện yêu cầu ông phải trả số tiền 300.000.000đồng từ hợp đồng dịch vụ pháp lý.

Ông không đồng ý với yêu cầu nêu trên của nguyên đơn, đồng thời, ông cho rằng ông Lý Trung H là người mắc bệnh tâm thần (có bí danh H mát) không đủ khả năng nhận thức và điều khiển hành vi, tại bản án phúc thẩm Toà án nhân dân tỉnh Bình Phước đã tuyên ông Lý Trung H mắc bệnh được hưởng tình tiết giảm nhẹ. Do đó theo quy định của pháp luật thì ông Lý Trung H để xem xét năng lực chủ thể của nguyên đơn trong vụ án này. Ngoài ra ông không yêu cầu gì thêm.

Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 39/2018/DSST ngày 18/10/2017 của Toà án nhân dân thị xã Đ đã quyết định:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Lý Trung H về việc: “Tranh chấp hợp đồng dịch vụ”

Buộc ông Đào Xuân T – trưởng văn phòng luật sư T – có trách nhiệm trả cho ông Lý Trung H số tiền là 280.000.000đồng ( Hai trăm tám mươi triệu đồng ).

Ngoài ra toà án cấp sơ thẩm còn tuyên án phí, nghĩa vụ thi hành án và quyền kháng cáo của các đương sự theo luật định.

Sau khi xét xử sơ thẩm, nguyên đơn ông Lý Trung H không kháng cáo.

Ngày 18/10/2017, bị đơn ông Đào Xuân T có đơn kháng cáo với nội dung không đồng ý trả cho ông Lý Trung H số tiền là 280.000.000đồng ( Hai trăm tám mươi triệu đồng ).

Đại diện Viện kiểm sát xét xử phúc thẩm phát biểu quan điểm giải quyết vụ án:

- Về việc tuân thủ theo pháp luật tố tụng: Kể từ khi thụ lý vụ án theo thủ tục phúc thẩm và tại phiên toà Thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký và đương sự đã tuân thủ đúng các quy định của bộ Luật tố tụng dân sự.

- Về đường lối giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 2 Điều 308, 309 Bộ luật TTDS 2015 chấp nhận một phần kháng cáo của ông Đào Xuân T, sửa một phần Bản án sơ thẩm số 39/2017/DS-ST ngày 18/10/2017 của Tòa án nhân dân thị xã Đ, tỉnh Bình Phước, Căn cứ Điều 122, 128, 137 Bộ luật dân sự 2005; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của UBTVQH về án phí, lệ phí Tòa án.

Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Lý Trung H về “Tranh chấp hợp đồng dịch vụ” về buộc ông Đào Xuân T trả cho ông Lý Trung H số tiền là 280.000.000 đồng. Tuyên bố Hợp đồng dịch vụ pháp lý giữa ông Lý Trung H và ông Đào Xuân T ngày 15/3/2013 là vô hiệu, buộc ông Đào Xuân T, ông Lý Trung H phải trả cho nhau những gì đã nhận.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Căn cứ vào các tài liệu chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Vào năm 2012, ông Lý Trung H bị khởi tố, điều tra, xét xử về tội “Huỷ hoại rừng”, để bảo vệ quyền lợi và lợi ích hợp pháp của mình, ngày 15/4/2013 ông Lý Trung H và Văn phòng luật sư T ký hợp đồng dịch vụ pháp lý với nội dung Văn phòng luật sư T cung cấp dịch vụ pháp lý về nghiên cứu hồ sơ, tài liệu liên quan đến vụ việc, lập phương án tối ưu để thực hiện tốt dịch vụ pháp lý. Hai bên cam kết với mức thù lao cụ thể như sau nếu không phạm tội thì ông Lý Trung H trả cho Văn phòng luật sư T 500.000.000đồng, nếu không bị xử lý hình sự thì trả 300.000.000đồng, còn trường hợp không đúng theo yêu cầu như trên thì Văn phòng luật sư T có nghĩa vụ trả lại tiền cho bên ông Lý Trung H, phía bên Văn phòng luật sư T đã nhận của ông Lý Trung H số tiền 280.000.000đồng.

Để chứng minh cho lời khai của mình, ông Lý Trung H cung cấp chứng cứ như sau: hợp đồng dịch vụ pháp lý ngày 15/04/2013; Bản án số 22/2014/HSST ngày 28/3/2014 của Toà án nhân dân huyện L; Hai giấy nộp tiền tại Ngân hàng Vietinbank, 01 giấy nộp tiền tại ngân hàng Sacombank ghi rõ nội dung là chuyển tiền dịch vụ pháp lý hợp đồng ngày 15/4/2013 .

Xét hợp đồng dịch vụ pháp lý ngày 15/4/2013 giữa ông Lý Trung H và Văn phòng luật sư T thấy rằng: Hợp đồng đã tuân thủ về hình thức, đúng ý chí tự nguyện của các bên nhưng nội dung hợp đồng còn thiếu phần thỏa thuận mức thù lao, chi phí cụ thể theo quy định tại Nghị định số 28/2007/NĐ-CP của Chính phủ, ngày 26/02/2007 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Luật sư, vi phạm Điều 26 của Luật Luật sư. Hơn nữa, nội dung của hợp đồng này đã vi phạm khoản 2 Điều 5, khoản 1 Điều 9, Điều 25, Điều 55 Luật Luật sư, vi phạm điểm 7, điểm 14.11 Quy tắc đạo đức và ứng xử nghề nghiệp luật sư Việt Nam (Ban hành kèm theo Quyết định số 68/QĐ-HĐLSTQ ngày 20 tháng 7 năm 2011 của Hội đồng luật sư toàn quốc). Như vậy, hợp đồng dịch vụ pháp lý giữa ông Đào Xuân T và ông Lý Trung H ký kết ngày 15/4/2013 có nội dung hứa hẹn về kết quả của vụ án hình sự là ông Lý Trung H không phạm tội hoặc không bị xử lý hình sự đã vi phạm các quy định của Luật Luật sư và Quy tắc đạo đức và ứng xử nghề nghiệp luật sư Việt Nam, ban hành kèm theo Quyết định số 68/QĐ-HĐLSTQ ngày 20 tháng 7 năm 2011 của Hội đồng luật sư toàn quốc nên hợp đồng dịch vụ pháp lý giữa ông Đào Xuân T và ông Lý Trung H ngày 15/4/2013 vi phạm điều cấm của pháp luật nên không thỏa mãn theo quy định tại Điều 122 Bộ luật dân sự 2005, dẫn đến hợp đồng dịch vụ pháp lý giữa ông Đào Xuân T và ông Lý Trung H bị vô hiệu không làm phát sinh quyền và nghĩa vụ của các bên, ông Đào Xuân T phải trả cho ông Lý Trung H số tiền 280.000.000 đồng theo quy định tại Điều 122, Điều 128, 137 Bộ luật dân sự. Từ những căn cứ và phân tích trên cần sửa một phần bản án sơ thẩm, tuyên hợp đồng dịch vụ pháp lý giữa ông Đào Xuân T và ông Lý Trung H là vô hiệu, các bên trao trả cho nhau những gì đã nhận. Xét về lỗi làm cho Hợp đồng dịch vụ pháp lý vô hiệu thì lỗi của ông Lý Trung H và ông Đào Xuân T là ngang nhau nên không phát sinh trách nhiệm bồi thường.

Tòa án cấp sơ thẩm nhận định Hợp đồng dịch vụ giữa ông Lý Trung H và ông Đào Xuân T – Trường Văn phòng luật sư T có hiệu lực là sai lầm về áp dụng pháp luật cần rút kinh nghiệm, Hội đồng xét xử chấp nhân một phần kháng cáo của ông Đào Xuân T và sửa án sơ thẩm.

Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát xét xử phúc thẩm phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử được chấp nhận.

Do kháng cáo được chấp nhận một phần nên bị đơn Đào Xuân T không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 2 Điều 308 và Điều 309 Bộ luật tố tụng Dân sự 2015; Các Điều 122, 128, 137 của Bộ luật dân sự 2005. Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:

Chấp nhận một phần kháng cáo của bị đơn Đào Xuân T;

Sửa bản án sơ thẩm số 39/2018/DS-ST ngày 18/10/2017 của Tòa án nhân dân thị xã Đ.

1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông Lý Trung H về việc: “Tranh chấp hợp đồng dịch vụ”. Tuyên bố Hợp đồng dịch vụ pháp lý giữa ông Lý Trung H và Văn phòng luật sư T ngày 15/4/2013 vô hiệu.

Buộc ông Đào Xuân T – trưỏng văn phòng luật sư T – có trách nhiệm trả cho ông Lý Trung H số tiền là 280.000.000đồng ( Hai trăm tám muơi triệu đồng )

2. Phần án phí:

- Án phí sơ thẩm:

Ông Đào Xuân T phải chịu là 14.000.000đồng (mười bốn triệu đồng).

Ông Lý Trung H không phải chịu. Hoàn trả lại cho ông Lý Trung H số tiền tạm ứng án phí đã nộp trước là 7.000.000đồng (Bảy triệu đồng) theo biên lai thu tiền số 00022027 ngày 07/06/2017 của Chi cục thi hành án dân sự thị xã Đ, Bình Phuớc.

- Án phí phúc thẩm: Bị đơn ông Đào Xuân T không phải chịu. Hoàn trả lại cho ông Đào Xuân T số tiền tạm ứng án phí 300.000đồng ông Đào Xuân T đã nộp Chi cục Thi hành án Dân sự thị xã Đ theo Biên lai số 0002463 ngày 24/11/2017.

Kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.

Trong trường hợp bản án được thi hành theo Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

Các thẩm phán

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Vũ Hoàng Linh Nguyễn Văn Nhân

Hoàng Minh Thịnh

Cỡ chữ