vanban.org

Bản án 62/2017/HSST — Hình sự

TAND TX. Kim Bảng, tỉnh Hà Nam Tuyên án 28/09/2017 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Trần Phan A phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Trần Phan A 08 (tám) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 03 tháng 6 năm 2017. Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 2 Điều 76 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Tịch thu, sung quỹ nhà nước số tiền 870.000đồng và 01 điện thoại di động cũ, nhãn hiệu Mobistar, vỏ màu đen. Trả lại bị cáo số ti… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Phan A phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ vận chuyển, mua bán hoặc chiếm đoạt ma tuý (điều 194 Bộ luật hình sự…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Trần Phan A phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 46 Bộ luật Hình sự; Điều 194 Bộ luật Hình sự; Điều 33 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN KIM BẢNG
TỈNH HÀ NAM

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 62/2017/HSST
Ngày 28 tháng 9 năm 2017.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KIM BẢNG, TỈNH HÀ NAM

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Quang Minh.

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Phạm Thị Hồng Hạnh.

2. Ông Trần Ngọc Luân.

- Thư ký phiên tòa: Bà Vũ Thị Thu Hiền - Thẩm tra viên Tòa án nhân dân huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam tham gia phiên tòa: Bà Đinh Thị Phương Hoa - Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 9 năm 2017, tại Nhà văn hóa xã Liên Sơn, huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam xét xử sơ thẩm công khai, lưu động vụ án hình sự thụ lý số 58/2017/HSST ngày 30 tháng 8 năm 2017 đối với bị cáo:

Trần Phan A, sinh năm 1959 tại NĐ; trú tại: Thôn D, xã LS, huyện KB, tỉnh HN; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 10/10; dân tộc: Kinh; con ông Trần Quang M (đã chết) và bà Trần Thị S (đã chết); có vợ Hoàng Thị Bích L và 01 con, sinh năm 1998; tiền sự, tiền án: Không; bị tạm giữ ngày 03/6/2017 đến ngày 09/6/2017 chuyển tạm giam cho đến nay. (có mặt)

Người bào chữa cho bị cáo: Ông Phạm Đại Vương - Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh Hà Nam. (có mặt)

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

- Anh Nguyễn Văn T, sinh năm 1979; trú tại: Thôn P, xã LH, huyện huyện KB, tỉnh HN. (vắng mặt)

- Anh Lê Xuân Duy, sinh năm 1979; trú tại: Thôn L, xã TH, huyện TL, tỉnh HN. (vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN

Bị cáo Trần Phan A bị Viện kiểm sát nhân dân huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam truy tố về các hành vi phạm tội như sau:

Khoảng 8 giờ 00 ngày 03 tháng 6 năm 2017, Nguyễn Văn T gặp Lê Xuân D tại cầu Hồng Phú, thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam. Tại đây T rủ D đi mua ma túy để sử dụng, D đồng ý và đưa cho T 300.000đồng. T cầm tiền rồi mượn điện thoại của người qua đường gọi cho Trần Phan A nói “Cho em mượn sáu trăm”, hiểu ý T hỏi mua ma túy, A nói “Ừ, anh đang ở chùa Bà Đanh”. Sau khi gọi điện, T và D đi nhờ xe của người qua đường đến gần chùa Bà Đanh ở thôn Đanh Xá, xã Ngọc Sơn, huyện Kim Bảng thì gặp Trần Phan A, T đưa cho A 600.000đồng và được A đưa lại cho T 02 gói nhỏ, bên ngoài bọc bằng giấy bạc màu trắng, T cầm 02 gói nhỏ này rồi đưa lại cho D 01 gói thì bị tổ tuần tra Công an tỉnh Hà Nam phát hiện bắt quả tang, thu giữ trong túi quần phía sau bên phải của D và T mỗi người 01 gói nhỏ, bên ngoài bọc bằng giấy bạc màu trắng, bên trong chứa chất bột màu trắng đục, niêm phong ký hiệu QT04, QT06; thu tại túi áo ngực của A đang mặc 01 túi nilon màu trắng bên trong chứa 08 gói nhỏ bọc bằng giấy bạc màu trắng, bên trong đều chứa chất bột màu trắng niêm phong ký hiệu QT01 và số tiền 1.310.000đồng, 01 điện thoại di động nhãn hiệu Mobistar cùng 01 xe môtô nhãn hiệu Dylan, biển kiểm soát 36L3-6904; ngoài ra còn thu giữ của các đối tượng một số vật chứng liên quan khác. Khám xét khẩn cấp chỗ ở, đồ vật của Trần Phan A, không thu giữ được đồ vật, tài liệu gì.

Tại bản kết luận giám định số 101/PC54- MT ngày 05/6/2017 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hà Nam kết luận: Chất bột màu trắng bên trong 08 gói giấy bạc trong mẫu ký hiệu QT01 gửi giám định có tổng trọng lượng là 0,395gam, có Heroine; chất bột màu trắng bên trong 01 gói giấy bạc trong mẫu ký hiệu QT04 gửi giám định có trọng lượng 0,015gam, có Heroine; chất bột màu trắng bên trong 01 gói giấy bạc trong mẫu ký hiệu QT06 gửi giám định có trọng lượng là 0,014gam, có Heroine.

Quá trình điều tra, cơ quan Cảnh sát điều tra đã làm rõ thêm: Ngoài hành vi phạm tội nêu trên, vào khoảng 08 giờ ngày 02 tháng 6 năm 2017, cũng tại khu vực chùa Bà Đanh ở thôn Đanh Xá, xã Ngọc Sơn, huyện Kim Bảng, Trần Phan A đã bán trái phép cho Nguyễn Văn T 01 gói nhỏ chất ma túy lấy 270.000đồng. Số ma túy này sau khi mua T đã sử dụng hết.

Tại bản cáo trạng số 59/KSĐT-MT ngày 28/8/2017 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam đã truy tố bị cáo Trần Phan A về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 194 của Bộ luật Hình sự. Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Kim Bảng giữ nguyên quyết định truy tố như bản cáo trạng đã nêu, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b khoản 2 Điều 194; điểm p khoản 1, khoản 2 Điều 46 và Điều 33 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Trần Phan A từ 08 năm đến 08 năm 06 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ; ngoài ra còn đề nghị về xử lý vật chứng… Người bào chữa cho bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của bị cáo đúng như bản cáo trạng đã truy tố, nhưng đề nghị Hội đồng xét xử xem xét đến hoàn cảnh, nhân thân bị cáo và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mà bị cáo được hưởng để giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt, để bị cáo sớm có cơ hội sửa chữa bản thân, làm lại cuộc đời. Bị cáo nhất trí với lời bào chữa và xin được hưởng sự khoan hồng của pháp luật.

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, người bào chữa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Lời khai nhận hành vi phạm tội của bị cáo tại phiên tòa, hoàn toàn phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của những người tham gia tố tụng khác; lời nhận tội của bị cáo còn được chứng minh bởi biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản thu giữ và niêm phong vật chứng, kết luận giám định cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa. Như vậy đã có đủ cơ sở khẳng định: Khoảng 08 giờ ngày 02 tháng 6 năm 2017, tại khu vực chùa Bà Đanh, thuộc thôn Đanh Xá, xã Ngọc Sơn, huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam, bị cáo Trần Phan A đã bán trái phép cho Nguyễn Văn T 01 gói nhỏ chất ma túy với giá 270.000đồng. Đến khoảng 08 giờ 30 ngày 03 tháng 6 năm 2017, cũng tại địa điểm nêu trên, bị cáo Trần Phan A đã bán trái phép cho Nguyễn Văn T 02 gói nhỏ chất ma túy có tổng trọng lượng 0,029gam, có Heroine với giá 600.000đồng thì bị phát hiện bắt giữ quả tang; ngoài ra còn thu giữ trên người bị cáo A 08 gói nhỏ chất ma túy có tổng trọng lượng 0,395gam, có Heroine, bị cáo A cất giấu để bán kiếm lời nhằm mục đích sử dụng cho bản thân. Do đó Viện kiểm sát nhân dân huyện Kim Bảng đã truy tố để xét xử bị cáo về tội Mua bán trái phép chất ma túy với tình tiết định khung tăng nặng, phạm tội nhiều lần theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 194 của Bộ luật Hình sự là hoàn toàn có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Các hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện là rất nguy hiểm cho xã hội, vì đã trực tiếp xâm phạm đến khách thể được pháp luật hình sự bảo vệ, đó là chính sách độc quyền quản lý của nhà nước về các chất ma túy. Mặc dù bị cáo hiểu và nhận thức rõ việc mua bán trái phép chất ma túy dưới bất kỳ hình thức nào đều bị coi là trái pháp luật, nhưng để có ma túy sử dụng mà không phải mất tiền, bị cáo đã đi mua ma túy rồi về chia nhỏ bán lại cho các đối tượng nghiện với giá cao hơn, nhằm kiếm phần lợi nhuận chênh lệch chất ma túy để thỏa mãn nhu cầu nghiện ngập bản thân, làm gieo rắc cái chết trắng trong cộng đồng dân cư, xâm phạm đến trật tự, an toàn xã hội.

Bị cáo thực hiện các hành vi phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp, bị cáo nhận thức đầy đủ về tác hại của ma túy, nó là nguồn gốc phát sinh các loại tội phạm khác, phá hoại hạnh phúc của nhiều gia đình, làm băng hoại đạo đức của nhiều người và chính bị cáo cũng đang bị ma túy hủy hoại, song chỉ vì nhu cầu thấp hèn của bản thân, bị cáo đã ngang nhiên thực hiện tội phạm giữa ban ngày, trong khi Đảng, Nhà nước và Nhân dân ta đang coi ma túy là quốc nạn, ra sức tuyên truyền về tác hại của ma túy và quyết tâm phòng chống cũng như nghiêm khắc trừng trị những kẻ thực hiện các tội phạm về ma túy, thì bị cáo lại đi ngược với xu thế chung; thể hiện sự liều lĩnh, táo tợn, xem thường kỷ cương pháp luật, làm mất trật tự trị an thôn xóm, gây dư luận xấu và tâm lý hoang mang lo sợ trong nhân dân trên địa bàn, nhất là đối với giới trẻ hiện nay, nên cần phải xét xử thật nghiêm khắc, tiếp tục cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội thêm một thời gian dài theo đề nghị của đại diện Viện kiểm sát, mới có đủ tác dụng giáo dục, cải tạo bị cáo trở thành công dân có ích và phòng ngừa chung trong toàn xã hội.

Tuy nhiên xét nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo thấy: Bị cáo chưa có tiền án, tiền sự; tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của bản thân; bên cạnh đó bị cáo đã có thời gian phục vụ trong quân đội, khi trở về địa phương đã tham gia làm hội viên Hội cựu chiến binh, nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm p khoản 1 và khoản 2 Điều 46 của Bộ luật Hình sự; tình tiết tăng nặng bị cáo không phải chịu. Vì vậy khi lượng hình sẽ xem xét để giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt, nhằm thể hiện chính sách nhân đạo, sự độ lượng khoan hồng của pháp luật nhà nước ta.

Về nguồn gốc số ma túy: Bị cáo Trần Phan A khai mua của một người đàn ông ở thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam vào chiều ngày 01/6/2017 với số tiền 1.400.000đồng, nhưng do bị cáo không biết họ, tên, tuổi, địa chỉ cụ thể của người đã bán ma túy, nên cơ quan Cảnh sát điều tra đã không xác minh, làm rõ được. Vì vậy không có căn cứ để xử lý đối với người bán ma túy cho bị cáo.

Đối với Nguyễn Văn T và Lê Xuân D hiện không có tiền án về tội "Tàng trữ, vận chuyển trái phép chất ma tuý", việc mua trái phép chất ma tuý không ngoài mục đích để sử dụng cho bản thân, trọng lượng ma tuý thu giữ dưới 0,1g, không đủ yếu tố cấu thành các tội "Tàng trữ, vận chuyển trái phép chất ma tuý", nên Công an tỉnh Hà Nam đã ra quyết định xử phạt hành chính đối với T và D là phù hợp.

Về hình phạt bổ sung: Bị cáo là đối tượng nghiện ma túy nhiều năm, bản thân không nghề nghiệp, không có tài sản gì đáng giá, hiện đang ở cùng gia đình, việc mua bán trái phép chất ma túy không ngoài mục đích kiếm lời để sử dụng cho bản thân, nên thấy không cần thiết phải áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.

Xử lý vật chứng: Chiếc xe môtô nhãn hiệu Dylan, biển kiểm soát 36L3-6904 thu giữ của bị cáo, được xác định là vật chứng trong vụ án “Trộm cắp tài sản” do Công an thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa đang thụ lý giải quyết, nên cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Kim Bảng đã bàn giao chiếc xe môtô này cho Công an thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa để giải quyết theo quy định của pháp luật; đối với 01 chiếc điện thoại di động cũ, nhãn hiệu Mobistar là tài sản hợp pháp của bị cáo đã sử dụng vào việc phạm tội, cần tuyên tịch thu, sung quỹ; số tiền 1.310.000đồng thu giữ của bị cáo, trong đó có 870.000đồng do bị cáo bán ma túy mà có, cần tuyên tịch thu sung quỹ nhà nước, số tiền 440.000đồng còn lại được xác định là tài sản hợp pháp của bị cáo, không liên quan đến vụ án, cần tuyên trả lại cho bị cáo. Các vật chứng khác còn lại vụ án gồm 03 phong bì niêm phong đều ghi số 101/PC54-MT mẫu vật hoàn trả lần lượt ký hiệu QT01, QT04 và QT06 do Phòng kỹ thuật hình sự, Công an tỉnh Hà Nam hoàn trả là vật cấm lưu hành, cần tuyên tịch thu, tiêu hủy. Riêng 06 tờ vé lô tô Hà Nam loại 5.000đồng, mở thưởng ngày 03/6/2017, thu giữ của T và D nhưng không trúng thưởng, được lưu giữ trong hồ sơ vụ án, nay T và D không yêu cầu lấy lại, nên không đặt ra xem xét.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 99 của Bộ luật Tố tụng hình sự và khoản 1 mục I phần A Danh mục án phí, lệ phí Tòa án ban hành kèm theo Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

Ngoài ra còn tuyên quyền kháng cáo cho bị cáo; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan theo quy định tại các Điều 231, 233 và 234 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

- Tuyên bố bị cáo Trần Phan A phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

- Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 194; điểm p khoản 1, khoản 2 Điều 46 và Điều 33 của Bộ luật Hình sự.

- Xử phạt bị cáo Trần Phan A 08 (tám) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 03 tháng 6 năm 2017.

- Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 2 Điều 76 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Tịch thu, sung quỹ nhà nước số tiền 870.000đồng và 01 điện thoại di động cũ, nhãn hiệu Mobistar, vỏ màu đen. Trả lại bị cáo số tiền 440.000đồng. Tịch thu, tiêu hủy toàn bộ số vật chứng còn lại gồm 03 phong bì niêm phong đều ghi số 101/PC54-MT của Phòng kỹ thuật hình sự, Công an tỉnh Hà Nam, mẫu vật hoàn trả lần lượt ký hiệu QT01, QT04 và QT06 (Tình trạng, số lượng, loại vật chứng cụ thể như biên bản giao nhận vật chứng giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra với Chi cục Thi hành án dân sự huyện Kim Bảng ngày 28/8/2017 và theo ủy nhiệm chi số 27 ngày 29/8/2017).

Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo Trần Phan Aphải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng).

Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án sơ thẩm.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ