vanban.org

Bản án 62/2017/HSST — Hình sự

TAND huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang Tuyên án 10/11/2017 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Lê Mạnh H phạm tội: “Mua bán trái phép chất ma tuý”.

Xử phạt: Lê Mạnh H 24 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ, tạm giam 17/7/2017. Phạt tiền bị cáo 5.000.000 đồng sung công quỹ Nhà nước. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê Mạnh H phạm tội mua bán trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ vận chuyển, mua bán hoặc chiếm đoạt ma tuý (điều 194 Bộ luật hình sự nă…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Lê Mạnh H phạm tội: “Mua bán trái phép chất ma tuý”.
  • Căn cứ chính? Điều 76 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 194 Bộ luật Hình sự; Điều 231 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN VIỆT YÊN
TỈNH BẮC GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 62 /2017/HSST
Ngày: 10/11/2017

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VIỆT YÊN, TỈNH BẮC GIANG

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Lương Thị Thanh Quyên

- Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đỗ Văn Ngôn – Cán bộ hưu trí;

Bà Nguyễn Thị Lại– Cán bộ hưu trí;

- Thư ký Toà án ghi biên bản phiên tòa: Đoàn Thị Thúy Nga - Cán bộ TAND huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang

- Đại diện VKSND huyện Việt Yên tham gia phiên toà: Bà Vũ Thị Lành – Kiểm sát viên.

Trong ngày 10/11/2017, tại trụ sở Ủy ban nhân dân xã Tự Lạn huyện Việt Yên tỉnh Bắc Giang xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 71/2017/HSST ngày 16/10/2017 đối với bị cáo:

1. Họ và tên: Lê Mạnh H - sinh năm 1989;

STQ: Thôn R, xã T, huyện V, tỉnh Bắc Giang.

Nghề nghiệp: Lao động tự do;

Văn hoá: 11/12

Bố đẻ: Lê Văn H - Sinh năm: 1954. Nghề nghiệp: Kinh doanh.

Mẹ đẻ: Nguyễn Thị S – Sinh năm 1954. Nghề nghiệp: Kinh doanh.

Đều trú quán: Thôn R, xã T, huyện V, tỉnh Bắc Giang.

Vợ: Nguyễn Thị V – Sinh năm 1991. Nghề nghiệp: Công nhân.

Con: Bị cáo có 01 con sinh năm 2013.

Anh chị em ruột: Gia đình có 2 anh em, bị cáo là con thứ 2.

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị bắt quả tang, bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 17/7/2017. Hiện đang bị tạm giam tại trại tạm giam Công an tỉnh Bắc Giang và có mặt tại phiên tòa.

Ngƣời có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

Đoàn Thế L - sinh năm 1991( Vắng mặt)

Trú quán: Thôn V– xã Vân T - huyện V- tỉnh Bắc Giang

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Bị cáo Lê Mạnh H bị Viện kiểm sát nhân dân huyện Việt Yên truy tố về hành vi phạm tội như sau:

Hồi 13 giờ 40 phút ngày 17/7/2017, tại nhà của Lê Mạnh H, sinh năm 1989 ở thôn R

- xã T - huyện V- tỉnh Bắc Giang, Đội cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy- Công an huyện Việt Yên bắt quả tang H có hành vi bán trái phép chất ma túy cho Đoàn Thế L, sinh năm 1991, trú quán: Thôn V– xã V - huyện V- tỉnh Bắc Giang. Vật chứng thu giữ gồm:

- Thu giữ tại túi quần phía trước bên trái đang mặc của Lê Mạnh H:

+ Tiền Ngân hàng Nhà nước Việt Nam: 800.000 đồng (Tám trăm nghìn đồng). Trong đó có 03 (ba) tờ tiền mệnh giá 100.000 đồng (Một trăm nghìn đồng), 01(một) tờ tiền mệnh giá 500.000 đồng (Năm trăm nghìn đồng);

+ 01(một) điện thoại di động màu xanh, viền đen, nhãn hiệu KECHAODA đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng bên trong, số IMEI: 863784030207539.

- Thu giữ tại túi quần phía trước bên trái đang mặc của Đoàn Thế L:

+ 01 túi nilon màu trắng, đầu có rãnh khóa bằng nhựa viền màu xanh, bên trong có chứa chất tinh thể màu trắng, được niêm phong trong phong bì có ký hiệu “QT”

+ 01 điện thoại di động màu xanh đen, nhãn hiệu NOKIA đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng bên trong, số IMEI: 35859206360083.

Hồi 15 giờ 10 phút cùng ngày 17/7/2017, Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an huyện Việt Yên đã tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của Lê Mạnh H. Kết quả: không thu giữ gì.

Ngày 17/7/2017, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Việt Yên đã quyết định trưng cầu giám định số 225 gửi Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bắc Giang, giám định đối với vật chứng đã niêm phong trong phong bì có ký hiệu “QT".

Ngày 18/7/2017, Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bắc Giang có kết luận số: 1093/KL-PC54, kết luận:

"Tinh thể màu trắng đựng trong 01 (một) túi nilon màu trắng một đầu có rãnh khóa bằng nhựa, viền màu xanh là chất ma túy Methamphetamine, có khối lượng là 0,127 gam."

Quá trình điều tra, Lê Mạnh H vµ c¸c ®èi tîng khai nhận:

Khoảng 09 giờ ngày 17/7/2017, Lê Mạnh H một mình đi xe buýt từ nhà đến khu vực cổng chợ M - xã T - thành phố B với mục đích tìm mua ma túy mang về bán kiếm lời. Tại đây, H đã gặp một người thanh niên khoảng 25 tuổi, cao khoảng 1m60, người gầy (H không biết tên, tuổi, địa chỉ) đang đứng ở cổng chợ. H hỏi “anh có đá không bán cho em 200.000 đồng” (tức là H hỏi mua 200.000 đồng tiền ma túy dạng đá), người thanh niên bảo “có” và đưa cho H 01 túi nilon màu trắng, một đầu có rãnh khóa bằng nhựa, viền màu xanh, bên trong có chứa chất tinh thể màu trắng. H cầm túi nilon đút vào túi quần phía trước bên phải đang mặc, đồng thời đưa cho người thanh niên nêu trên 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng). Sau đó, H đi xe buýt về nhà. Số ma túy vừa mua được H vẫn để trong túi quần. Khoảng 13 giờ 15 phút cùng ngày 17/7/2017, H đang ở nhà thì nhận được điện thoại của Đoàn Thế L, L hỏi “có mã không?” (tức là L hỏi H có ma túy tổng hợp dạng viên nén màu hồng để bán cho L không), H trả lời “không có”, L tiếp tục hỏi “có nước không bán cho em 300.000 đồng” (tức là L hỏi H có ma túy tổng hợp dạng đá không bán cho L 300.000 đồng), H trả lời “còn”, L nói “sau em lên”, H đồng ý và tắt máy. Đến khoảng 13 giờ 35 phút, L cùng bạn là anh Thân Văn Q, sinh năm 1999, ở thôn M - xã H - huyện V - tỉnh Bắc Giang đi xe buýt đến quán bán hàng ăn trước cửa nhà H. Cùng lúc này, có anh Chu Văn C, sinh ngày 20/02/2000 ở thôn Đ - xã T - huyện V - tỉnh Bắc Giang cũng đi bộ từ bên kia đường đến, cả ba cùng đứng chờ H. L gọi điện cho H thông báo đang đứng chờ ở quán bán hàng. Khoảng 03 phút sau, H đi từ trong nhà ra gặp L, H cầm trên tay phải 01 túi nilon màu trắng, một đầu có rãnh khóa bằng nhựa, viền màu xanh, bên trong có chứa chất tinh thể màu trắng đưa cho L, L cầm túi nilon đút vào túi quần phía trước bên trái đang mặc, đồng thời đưa cho H 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng), H cầm tiền đút vào túi quần phía trước bên trái đang mặc. Đúng lúc này, Đội cảnh sát điều tra tội phạm vÒ ma tóy- C«ng an huyÖn ViÖt Yªn phát hiện, bắt quả tang và thu giữ toàn bộ vật chứng có liên quan.

Tại bản cáo trạng số 75/KSĐT – MT ngày 13/10/2017 của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Việt Yên đã truy tố Lê Mạnh H ra trước Toà án nhân dân huyện Việt Yên để xét xử về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” theo quy định tại khoản 1 điều 194 Bộ luật hình sự.

Tại phiên toà: Bị cáo Lê Mạnh H đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như cáo trạng đã truy tố.Viện kiểm sát truy tố bị cáo là không oan, bị cáo nhận thức được hành vi vi phạm pháp luật của mình là sai, bị cáo rất hối hận, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người làm chứng vắng mặt tại phiên tòa được công bố lời khai. Bị cáo không có ý kiến gì về những lời khai đó.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Việt Yên vẫn giữ nguyên quan điểm như cáo trạng đã truy tố. Sau khi phân tích tính chất vụ án, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Lê Mạnh H phạm tội “Mua bán trái phép chất ma tuý ”.

Áp dụng khoản 1 Điều 194; điểm p khoản 1 Điều 46; Điều 33 Bộ luật hình sự.

Xử phạt: Bị cáo Lê Mạnh H từ 2 năm 6 tháng tù đến 3 năm tù.Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ, tạm giam 17/7/2017.

Về vật chứng: Áp dụng điểm a,b khoản 1 điều 41BLHS; điểm a,b,c khoản 2, khoản 3 điều 76 BLTTHS.

+Tịch thu sung công quỹ Nhà nước:

- Số tiền 300.000 đồng thu giữ của bị cáo Lê Mạnh H.

- 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA màu xanh đen, đã qua sử dụng, số IMEI: 358592063600583.

- 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu KECHAODA, màu xanh, viền đen, đã qua sử dụng, số IMEI: 863784030207539.

+Tịch thu tiêu hủy:

- 01 (một) phong bì thư đã được niêm phong dán kín có ký hiệu “QT” bên trong có 0,114 gam ma túy Methamphetamine (là số mà túy còn lại sau giám định).

-Trả lại cho bị cáo 500.000đồng là số tiền của bị cáo không liên quan đến hành vi phạm tội nhưng được tạm giữ lại để đảm bảo thi hành án.

Ngoài ra cần áp dụng các Điều 99 Bộ luật tố tụng hình sự, Điều 23 Nghị quyết 326/NQ-UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Căn cứ vào các tài liệu chứng cứ đã được thẩm tra tại phiên toà. Căn cứ vào kết quả tranh luận, trên cơ sở xem xét đầy đủ và toàn diện các chứng cứ, ý kiến của kiểm sát viên, lời khai của bị cáo,của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Tại phiên toà hôm nay, bị cáo Lê Mạnh H đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình gây ra. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người làm chứng, biên bản bắt người phạm tội quả tang và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Do đó có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 09 giờ, ngày 17/7/2017, Lê Mạnh H, sinh năm: 1989, sinh tró qu¸n: thôn R - xã T - huyện V- tỉnh Bắc Giang đã có hành vi đi đến khu vực cổng chợ M - xã T - thành phố B - tỉnh Bắc Giang mua của một người thanh niên không biết tên, tuổi, địa chỉ 0,127 gam ma túy Methamphetamine với giá 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) cất giấu ở trong người với mục đích bán để lấy tiền chênh lệch kiếm lời.

Hồi 13 giờ 35 phút ngày 17/7/2017, tại nhà của Lê Mạnh H, H đã bán trái phép cho Đoàn Thế L, sinh năm 1991 ở thôn V - xã V - huyện V - tỉnh Bắc Giang số ma túy trên với giá 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng). Khi vừa mua bán xong thì bị §éi Cảnh s¸t ®iÒu tra téi ph¹m vÒ ma tóy-C«ng an huyÖn ViÖt Yªn phát hiện và bắt quả tang, thu giữ toàn bộ vật chứng có liên quan.

Như vậy, bị cáo Lê Mạnh H đã có hành vi bán cho anh Đoàn Thế L 0,127 gam ma túy Methamphetamine đựng trong túi ni lon mầu trắng với giá 300.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) để kiếm lời. Do vậy cáo trạng Viện kiểm sát nhân dân huyện Việt Yên truy tố bị cáo về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” theo khoản 1 điều 194 BLHS là hoàn toàn có căn cứ.

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội bởi lẽ ma tuý là vật Nhà nước cấm lưu hành, là một trong những tệ nạn xã hội cần phải bài trừ bởi nó là một trong những nguyên nhân dẫn tới các hành vi phạm tội khác như trộm cắp, cướp của, giết người...là nguyên nhân dẫn tới gia đình ly tán, đặc biệt việc sử dụng ma tuý đá dẫn tới hiện tượng hoang tưởng ảo giác, không kiểm soát được cảm xúc, hành vi, dễ bị kích động...dẫn tới các hành vi nguy hiểm như tự tử, đánh chém người vô cớ... đã và đang ảnh hưởng rất lớn tới đời sống xã hội. Do vậy cần phải xử lý nghiêm các bị cáo bằng pháp luật hình sự mới đảm bảo tính giáo dục riêng và phòng ngừa chung. Tuy nhiên khi lượng hình, Hội đồng xét xử cũng xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự để quyết định mức án phù hợp với hành vi phạm tội của bị cáo.

Về nhân thân: Bị cáo là người có nhân thân tốt, phạm tội lần đầu, chưa có tiền án, tiền sự.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên toà hôm nay bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Do vậy cần áp dụng điểm p khoản 1 Điều 46 Bộ luật hình sự để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Xét tính chất mức độ, hành vi phạm tội, nhân thân bị cáo, điều luật đã viện dẫn. Hội đồng xét xử xét thấy cần phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới đủ để giáo dục bị cáo trở thành người tốt cho xã hội.

Mục đích bị cáo buôn bán ma túy để kiếm lời nên cần áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.

Do bị cáo đang bị tạm giam nên cần tiếp tục tạm giam bị cáo 45 ngày để đảm bảo công tác thi hành án.

Đối với người thanh niên bán ma túy cho H ở khu vực cổng chợ M - xã T-thành phố B- tỉnh Bắc Giang, do H khai không biết tên, tuổi, địa chỉ cụ thể ở đâu, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện Việt Yên đã tiến hành xác minh, kết quả xác minh: tại khu vực cổng chợ M - xã T - thành phố B - tỉnh Bắc Giang không có người thanh niên nào có biểu hiện bán trái phép chất ma túy như H khai nên Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện Việt Yên tách ra để tiếp tục điều tra và xử lý sau là có căn cứ.

Đối với Đoàn Thế L có hành vi mua ma túy Methamphetamine có tổng trọng lượng là 0,127 gam của H. Xét thấy, L chưa có tiền án về tội "tàng trữ trái phép chất ma túy", mục đích mua ma túy về để sử dụng, số ma túy L mua chưa đủ định lượng để truy cứu trách nhiệm hình sự về tội "tàng trữ trái phép chất ma túy" nên ngày 13/9/2017, Công an huyện Việt Yên đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với L về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 21 Nghị định số 167 ngày 12/11/2013 với số tiền 1.500.000 đồng là có căn cứ.

Đối với Thân Văn Q là người đi cùng L đến nhà H nhưng không biết việc L đến nhà H để mua ma túy. Khi H bán ma túy cho L, Quân có nhìn thấy nhưng không biết nội dung giao dịch. Do vậy, Cơ quan Cảnh sát điều tra không đề cập xử lý đối với Quân là có căn cứ.

Đối với Chu Văn C là người có mặt tại nhà Lê Mạnh H, chứng kiến giao dịch giữa H và L nhưng C không biết nội dung giao dịch nên Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện Việt Yên không đề cập xử lý đối với C là có căn cứ.

Về vật chứng: Áp dụng điểm a,b khoản 1 điều 41BLHS; điểm a,b,c khoản 2, khoản 3 điều 76 BLTTHS.

+Tịch thu sung công quỹ Nhà nước:

- Số tiền 300.000 đồng thu giữ của bị cáo Lê Mạnh H.

- 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA màu xanh đen, đã qua sử dụng, số IMEI: 358592063600583.

- 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu KECHAODA, màu xanh, viền đen, đã qua sử dụng, số IMEI: 863784030207539.

+Tịch thu tiêu hủy:

- 01 (một) phong bì thư đã được niêm phong dán kín có ký hiệu “QT” bên trong có 0,114 gam ma túy Methamphetamine (là số mà túy còn lại sau giám định).

-Trả lại cho bị cáo 500.000đồng là số tiền của bị cáo không liên quan đến hành vi phạm tội nhưng được tạm giữ lại để đảm bảo thi hành án.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người làm chứng vắng mặt tại phiên toà nhưng đã có lời khai tại Cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của bị cáo. Việc vắng mặt người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người làm chứng không ảnh hưởng đến việc xét xử cho nên Hội đồng xét xử xét xử vắng mặt theo quy định tại Điều 191, Điều 192 Bộ luật tố tụng hình sự.

Ngoài ra cần áp dụng Điều 23 Nghị quyết 326/NQ – UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án; Điều 99, Điều 231, Điều 234 Bộ luật tố tụng hình sự để buộc bị cáo phải chịu án phí HSST và tuyên quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố: Bị cáo Lê Mạnh H phạm tội: “Mua bán trái phép chất ma tuý”.

Áp dụng khoản 1, khoản 5 Điều 194; điểm p khoản 1 Điều 46; Điều 33 Bộ luật hình sự:

Xử phạt: Lê Mạnh H 24 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ, tạm giam 17/7/2017.

Phạt tiền bị cáo 5.000.000 đồng sung công quỹ Nhà nước.

Về vật chứng: Áp dụng điểm a,b khoản 1 điều 41BLHS; điểm a,b,c khoản 2, khoản 3 điều 76 BLTTHS.

+Tịch thu sung công quỹ Nhà nước:

- Số tiền 300.000 đồng thu giữ của bị cáo Lê Mạnh H.

- 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA màu xanh đen, đã qua sử dụng, số IMEI: 358592063600583.

- 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu KECHAODA, màu xanh, viền đen, đã qua sử dụng, số IMEI: 863784030207539.

+Tịch thu tiêu hủy:

- 01 (một) phong bì thư đã được niêm phong dán kín có ký hiệu “QT” bên trong có 0,114 gam ma túy Methamphetamine (là số mà túy còn lại sau giám định).

-Trả lại cho bị cáo 500.000 đồng nhưng được tạm giữ lại để đảm bảo thi hành án.

Áp dụng các Điều 99;231;234 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết 326/2016/NQ – UBTVQH 14 về án phí, lệ phí Tòa án buộc bị cáo Lê Mạnh H phải nộp 200.000đồng (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí HSST.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7,9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Báo cho bị cáo có mặt biết quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt biết quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt bản án.

Cỡ chữ