vanban.org

Bản án 62/2017/HSST — Hình sự

TAND huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định Tuyên án 06/09/2017 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Lê Văn T ph m tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

năm 1999; khoản 3 Điều 7, khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015, xử ph t: Bị cáo Lê Văn T 24 (hai mươi bốn) tháng tù, thời h n tù tính từ ngày Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê Văn T - phạm tội tàng trữ vận chuyển, mua bán hoặc chiếm đoạt ma tuý (điều 194 Bộ luật hình sự năm 1999)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Lê Văn T ph m tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Nghị quyết số 41/2017/QH14 Về việc thi hành Bộ luật Hình sự…; Nghị quyết số 100/2015/QH13 Phê duyệt chủ trương đầu tư các…; Điều 194 Bộ luật Hình sự

Số: 62/2017/HSST

Ngày: 06/09/2017

TÒ ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒ XÃ HỘI CHỦ NGHĨ VI T N M HUY N GI O THỦY Độc lập - Tự do - Hạnh phúc NHÂN D NH NƯỚC CỘNG HÒ XÃ HỘI CHỦ NGHĨ VI T N M TÒ ÁN

NHÂN DÂN H

UY N GI O THỦY, TỈNH N M ĐỊNH - hành phần Hội đ ng xét xử sơ thẩm g m có: T ẩm p án - C ủ t a p iên tòa: Ông Ph m Thanh Lâm. Các ội t ẩm n ân dân: 1. Ông Nguyễn Viết Sự. 2. Bà Phùng Thị Quỳnh. - hư ký phiên tòa: Bà Đặng Thị Ngoan - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định. - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Giao hủy tham gia phiên tòa: Bà Bùi Thị Thúy - Kiểm sát viên. Hôm nay, ngày 06 tháng 9 năm 2017 t i trụ sở Tòa án nhân dân huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 68/2017/HSST ngày 24 tháng 8 năm 2017, quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 64/2017/HSST - QĐ, ngày 25 tháng 8 năm 2017, đối với bị cáo: Họ và tên: Lê Văn T - Sinh năm 1970. Nơi ĐKHKTT: Xóm 11, xã H, huyện H, tỉnh N. Nơi cư trú: Xóm 02, xã , huyện X, tỉnh N.Nghề nghiệp: Làm ruộng; Trình độ văn hóa: Lớp 7/10; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Lê Văn L và bà Đỗ Thị L (đều đã chết); Vợ là: Nguyễn Thị D - Sinh năm 1974. Có bốn con lớn nhất sinh năm 1997, nhỏ nhất sinh năm 2017. Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị t m giam tính từ ngày bắt t m giữ 23/6/2017 cho đến nay. Hiện bị cáo đang bị t m giam t i Nhà t m giữ Công an huyện Giao Thủy,tỉnh NamĐịnh. T i phiên tòa: Có mặt bị cáo.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến t i phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 13 giờ, ngày 23/6/2017 Tổ công tác Đồn Công an Quất Lâm - Công an huyện Giao Thủy đang làm nhiệm vụ t i trục đường 37B thuộc khu vực xóm 15 xã Giao Thịnh, huyện Giao Thủy phát hiện Lê Văn T điều khiểu xe máy BKS - 18P7 - 5130 có biểu hiện nghi vấn. Tổ công tác yêu cầu T dừng xe để kiểm tra hành chính. Quá trình kiểm tra Lê Văn T tự giác giao nộp cho tổ công tác 01 gói nhỏ được gói bằng giấy kẻ ca rô bên trong có chứa chất bột d ng cục màu trắng. T khai đã là gói Heroine vừa mua với giá 200.000 đồng t i khu vực chợ Bến xã Giao Phong, huyện Giao Thủy mục đích mua về để sử dụng cho bản thân. Ngoài ra tổ công tác còn thu của T một xe máy cũ BKS: 18P7 - 5130. Tổ công tác lập biên bản bắt người có hành vi vi ph m pháp luật và niêm phong vật chứng giao cho cơ quan CSĐT Công an huyện Giao Thủy giải quyết theo thẩm quyền. T i phiên tòa: Bị cáo Lê Văn T đã khai nhận toàn bộ hành vi ph m pháp của mình như đã nêu trên. T i bản kết luận số 554/GĐKTHS ngày 24/6/2017 của phòng kỹ thuật hình sự công an tỉnh Nam Định kết luận: Mẫu chất bột d ng cục màu trắng được niêm phong gửi đi giám định là chất ma túy. Lo i chất ma túy: Heroine. Trọng lượng mẫu: 0,230 gam. Bản cáo tr ng số 70/CTR ngày 23/8/2017 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Giao Thủy truy tố bị cáo Lê Văn T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 194 Bộ luật hình sự. T i phiên tòa, đ i diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: T i cơ quan điều tra cũng như t i phiên tòa bị cáo đã khai nhận hành vi cất giấu trái phép 01 gói Heroine, trọng lượng 0,230 gam mục đích để sử dụng cho bản thân. Như vậy hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” Do đó, Viện kiểm sát giữa nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 194. Điểm p khoản 1 Điều 46 Bộ luật hình sự: Xử ph t bị cáo từ 24 đến 30 tháng tù. Về hình ph t bổ sung: Điều kiện kinh tế gia đình bị cáo khó khăn, con còn nhỏ nên đề nghị không áp dụng hình ph t bổ sung bằng tiền đối với bị cáo. Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản khoản 2 điều 76 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu cho tiêu hủy toàn bộ số Heroine hoàn trả mẫu vật sau giám định. Trước khi Hội đồng xét xử vào phòng nghị án, bị cáo được nói lời sau cùng, bị cáo trình bày bản thân nhận thức được hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy của mình là ph m tội, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình ph t, cho bị cáo được miễn hình ph t bổ sung.

NHẬN ĐỊNH CỦ HỘI ĐỒNG XÉT XỬ: Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận t i phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Giao Thủy, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Giao Thủy, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố và thành viên Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và t i phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu n i về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp. Khoảng 13 giờ, ngày 23/6/2017 Tổ công tác Đồn Công an Quất Lâm - Công an huyện Giao Thủy đang làm nhiệm vụ t i trục đường 37B thuộc khu vực xóm 15 xã Giao Thịnh, huyện Giao Thủy phát hiện bắt quả tang bị cáo Lê Văn T đã có hành vi cất giấu trái phép 01 gói ma túy, bị cáo khai đi mua về để sử dụng cho bản thân, vật chứng được thu giữ niêm phong gửi đi giám định: T i kết luận giám định số 554/GĐKTHS ngày 24/6/2017 của phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Nam Định kết luận: Mẫu chất bột d ng cục màu trắng được niêm phong gửi giám định là chất ma túy. Lo i chất ma túy: Heroine. Trọng lượng mẫu: 0,230gam. Do đó bị cáo đã ph m tội “ Tàng trữ trái phép chất ma túy” Tội ph m và hình ph t được quy định t i khoản 1 Điều 194 Bộ luật hình sự. Hành vi ph m tội của bị cáo đã xâm ph m đến sự độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy, gây ảnh hưởng xấu tới trật tự trị an t i địa phương. Bị cáo có đủ khả năng nhận thức ma túy là hiểm họa của mỗi gia đình và cộng đồng xã hội là một trong những nguyên nhân làm gia tăng các tệ n n xã hội, gia tăng tội ph m hình sự, xâm ph m tới đ o đức và sức khỏe con người. Bị cáo biết việc làm của mình bị pháp luật cấm, thấy trước được tác h i của ma túy nhưng vẫn cố ý thực hiện mua ma túy về để sử dụng cho bản thân dẫn tới ph m tội. Khi quyết định hình ph t, HĐXX xem xét đến các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được áp dụng đối với bị cáo như sau: Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào quy định t i khoản 1 Điều 48 Bộ luật hình sự. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: T i Cơ quan điều tra và t i phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Do đó bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định t i điểm p khoản 1 Điều 46 Bộ luật hình sự.

Căn cứ nghị quyết số: 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc hội về việc thi hành Bộ luật Hình sự số 100/2015/QH13, thực hiện các quy định t i khoản 3 Điều 7 BLHS năm 2015. Bị cáo ph m tội “ Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 194 của BLHS năm 1999 có khung hình ph t từ 02 đến 07 năm, nhưng so với khoản 1 Điều 249 tương ứng của BLHS năm 2015 có khung hình ph t thấp hơn từ 01 đến 05 năm. Vì vậy đây là căn cứ cho HĐXX khi quyết định hình ph t có lợi cho bị cáo. Căn cứ vào tính chất mức độ của hành vi ph m tội, nhân thân của bị cáo, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự Hội đồng xét xử thấy cần phải xử lý bị cáo bằng hình ph t tù có thời h n, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhất định đủ để bị cáo cải t o khi trở về cộng đồng là công dân có ích cho gia đình và xã hội. Về hình ph t bổ sung: Theo quy định t i khoản 5 Điều 194 Bộ luật hình sự quy định “Người ph m tội còn có thể bị ph t tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng…”, do đó, bị cáo có thể bị áp dụng hình ph t bổ sung là hình ph t tiền. Tuy nhiên, theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của bị cáo t i phiên tòa cho thấy bị cáo là người nghiện ma túy, điều kiện kinh tế khó khăn, con còn nhỏ. Vì vậy, Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình ph t bổ sung là ph t tiền đối với bị cáo. Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản khoản 2 điều 76 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu cho tiêu hủy toàn bộ số Heroine hoàn trả mẫu vật sau giám định. Đối với chiếc xe máy xe máy BKS: 18P7 - 5130 thu giữ của Lê Văn T xác định đây là tài sản hợp pháp của chị Nguyễn Thị D (vợ T). Khi T lấy xe đi mua ma túy chị D không biết nên Cơ quan CSĐT Công an huyện Giao Thủy đã trả l i xe máy trên cho chị D là phù hợp. Về nguồn gốc số Heroine thu giữ của Lê Văn T, T khai mua của một người đàn ông không biết tên, tuổi, địa chỉ ở chợ Bến xã Giao Phong. Quá trình điều tra chưa xác định được người bán ma túy cho Thôn nên Cơ quan CSĐT Công an huyện Giao Thủy tách ra để điều tra và có biện pháp xử lý sau là phù hợp. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định t i Điều 99 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án theo quy định t i Điều 231 và Điều 234 Bộ luật tố tụng hình sự. Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố: Bị cáo Lê Văn T ph m tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. 1. Áp dụng khoản 1 Điều 194; điểm p khoản 1 Điều 46 Bộ luật hình sự năm 1999; khoản 3 Điều 7, khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015, xử ph t: Bị cáo Lê Văn T 24 (hai mươi bốn) tháng tù, thời h n tù tính từ ngày 23/6/2017. 2. Xử lý vật chứng: Áp dụng khoản khoản 2 Điều 76 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu cho tiêu hủy toàn bộ số Heroine hoàn trả mẫu vật sau giám định. (Chi tiết theo biên bản giao nhận vật chứng lập ngày 24/8/2017 t i Chi cục thi hành án dân sự huyện Giao Thủy). 3. Án phí: Áp dụng Điều 99 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, bị cáo Lê Văn T phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm. 4. Quyền kháng cáo: Theo quy định t i Điều 231 và Điều 234 Bộ luật tố tụng hình sự, bị cáo Lê Văn T có quyền kháng cáo bản án trong thời h n 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định t i Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì bị cáo có quyền tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định t i Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ