- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp về ly hôn"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:
- Căn cứ chính? Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH CHÁNH THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 618/2023/HNGĐ-ST Ngày: 31/7/2023 V/v: Tranh chấp về ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH CHÁNH
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Vũ Thị Trang
Các Hội thẩm nhân dân: 1/ Bà Trần Thị Nga;
2/ Bà Nguyễn Thị Nguyên.
- Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Thị Bích Diệp - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên toà: Bà Phan Mỹ Dung - Kiểm sát viên.
Ngày 31 tháng 8 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 229/2023/TLST-HNGĐ ngày 17 tháng 04 năm 2023 về việc “Tranh chấp về ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 349/QĐXXST-HNGĐ ngày 29 tháng 6 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 289/2023/QĐST- HNGĐ ngày 24 tháng 7 năm 2023 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Ngọc L, sinh năm 1982 (Có đơn xin vắng mặt);
Địa chỉ: 123 Nguyễn Đình K, phường Tân T, quận Bình T, Thành phố Hồ Chí M.
2. Bị đơn: Ông Phan Thế L1, sinh năm: 1980. (Vắng mặt).
Địa chỉ: B22/460 ấp 2, xã Tân N, huyện Bình C, Thành phố Hồ Chí M.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Theo đơn xin ly hôn đề ngày 10/02/2023 và trong quá trình Tòa án thụ lý giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Nguyễn Thị Ngọc L trình bày:
Năm 2005, bà Nguyễn Thị Ngọc L và ông Phan Thế L1 có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường Tân T, quận Bình T, Thành phố Hồ Chí M theo Giấy chứng nhận kết hôn số 49, Quyển số 01 ngày 26/5/20005.
Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống chỉ hạnh phúc được thời gian ngắn rồi thường xuyên xảy ra mâu thuẫn không còn muốn gắn bó cùng nhau, nguyên nhân là do bất đồng quan điểm sống. Bà L và ông L1 đã ly thân từ tháng 10/2022 cho đến nay, thời gian sống ly thân bà L đã suy nghĩ thật kỹ, giữa bà L và ông L1 không còn khả năng hàn gắn tình cảm vợ chồng, do vậy, bà L nộp đơn yêu cầu được ly hôn với ông L.
Về con chung: Bà Nguyễn Thị Ngọc L và ông Phan Thế L1 có 03 người con chung tên là Phan Phú V, sinh ngày: 25/7/2006 đang sống cùng ông Nguyễn Thế Luật; Phan Ngọc Khánh V, sinh ngày: 14/04/2008 và Phan Ngọc Khánh H, sinh ngày: 04/12/2014 đang sống cùng bà Nguyễn Thị Ngọc L. Khi ly hôn bà L muốn giao trẻ Phan Phú V cho ông L1 nuôi dưỡng vì trẻ V đang sống cùng ông L1, tuy nhiên, ông L1 không đến Tòa để thể hiện ý chí có nuôi trẻ V hay không nên bà L yêu cầu được nuôi cả 03 con chung và không yêu cầu ông L1 cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung: Bà Nguyễn Thị Ngọc L xác nhận bà và ông Phan Thế L1 tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: Bà Nguyễn Thị Ngọc L xác nhận bà và ông Phan Thế L1 không có nợ chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Bị đơn ông Phan Thế L1 mặc dù đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng vắng mặt không có lý do. Vì vậy, Tòa án vẫn tiến hành đưa vụ án ra xét xử.
Tại phiên tòa hôm nay:
- Nguyên đơn trình bày: Bà Nguyễn Thị Ngọc L có đơn xin xét xử vắng mặt và vẫn giữ nguyên yêu cầu như trong đơn xin ly hôn, cụ thể:
Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Ngọc L yêu cầu được ly hôn với ông Phan Thế L1;
Về con chung: Bà Nguyễn Thị Ngọc L và ông Phan Thế L1 có 03 người con chung tên là Phan Phú V, sinh ngày: 25/7/2006 đang sống cùng ông Nguyễn Thế L1; Phan Ngọc Khánh V, sinh ngày:14/04/2008 và Phan Ngọc Khánh H, sinh ngày: 04/12/2014 đang sống cùng bà Nguyễn Thị Ngọc L. Khi ly hôn bà L muốn giao trẻ Phan Phú V cho ông L1 nuôi dưỡng vì trẻ V đang sống cùng ông L1, tuy nhiên, ông L1 không đến Tòa để thể hiện ý chí có nuôi trẻ V hay không nên bà L yêu cầu được nuôi cả 03 con chung và không yêu cầu ông L1 cấp dưỡng nuôi con;
Về tài sản chung: Bà Nguyễn Thị Ngọc L xác nhận bà và ông Phan Thế L1 tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: Bà Nguyễn Thị Ngọc L xác nhận bà và ông Phan Thế L1 không có nợ chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Bị đơn ông Phan Thế L1 vẫn tiếp tục vắng mặt không có lý do.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình C phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp L1 tố tụng và ý kiến về việc giải quyết vụ án:
Về tố tụng: Thẩm phán và Hội đồng xét xử trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa sơ thẩm đều tuân thủ đúng trình tự, thủ tục tố tụng. Đương sự chấp hành đúng quy định của pháp luật. Tòa án giải quyết vụ án đúng thẩm quyền; thẩm phán đã tiến hành thu thập chứng cứ đầy đủ, xác định đúng thành phần tham gia tố tụng.
Về nội dung: Căn cứ vào các chứng cứ do Tòa án thu thập và do nguyên đơn cung cấp có trong hồ sơ vụ án. Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ các Điều 56, Điều 58; khoản 2 Điều 81; Điều 82 L1 Hôn nhân và gia đình năm 2015 đề nghị:
- Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Ngọc L;
- Về con chung: Giao trẻ Phan Phú V, sinh ngày: 25/7/2006, giới tính: Nam; Phan Ngọc Khánh V, sinh ngày:14/04/2008, giới tính: Nữ và Phan Ngọc Khánh H, sinh ngày: 04/12/2014, giới tính: Nữ cho bà Nguyễn Thị Ngọc L được trực tiếp nuôi dưỡng. Ghi nhận sự tự nguyện của bà Nguyễn Thị Ngọc L không yêu cầu ông Phan Thế L1 cấp dưỡng nuôi con chung.
- Về tài sản chung: Bà Nguyễn Thị Ngọc L xác nhận bà và ông Phan Thế L1 tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về nợ chung: Bà Nguyễn Thị Ngọc L xác nhận bà và ông Phan Thế L1 không có nợ chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
. Về áp dụng pháp L1 tố tụng:
- Về quan hệ pháp L1 tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Nguyên đơn bà Nguyễn Thị Ngọc L khởi kiện yêu cầu được ly hôn với bị đơn ông Phan Thế L1. Căn cứ vào Kết quả xác minh ngày 18/04/2023 của Công an xã Tân N, huyện Bình C và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án thể hiện bị đơn ông Phan Thế L1 có cư trú tại địa chỉ: B22/460 ấp 2, xã Tân N, huyện Bình C, Thành phố Hồ Chí M. Do đó, căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ L1 Tố tụng dân sự năm 2015 thì tranh chấp này thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Bình C.
- Về thủ tục xét xử vắng mặt nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Ngọc L là nguyên đơn đã được Tòa án tống đạt hợp lệ thông báo tham gia phiên tòa sơ thẩm, quyết định đưa vụ án ra xét xử, quyết định hoãn phiên tòa và bà L có đơn đề nghị xét xử vắng mặt đề ngày 24/7/2023 vì lý do bận công việc nên căn cứ khoản 1 Điều 228 của Bộ L1 Tố tụng dân sự năm 2015 Hội đồng quyết định xét xử vắng mặt nguyên đơn.
- Về việc xét xử vắng mặt bị đơn: Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng theo đúng quy định của pháp L1 cho ông Phan Thế L1 như: Thông báo về việc thụ lý vụ án; Giấy triệu tập làm bản tự khai; Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; Thông báo về kết quả phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ; Giấy triệu tập và Quyết định đưa vụ án ra xét xử; Giấy triệu tập và Quyết định hoãn phiên tòa. Tuy nhiên, ông Phan Thế L1 không có mặt theo giấy triệu tập của Tòa án, không làm bản tự khai để trình bày ý kiến của ông về việc bà Nguyễn Thị Ngọc L yêu cầu được ly hôn, yêu cầu được nuôi con chung chưa thành niên và tự thỏa thuận về tài sản chung của vợ chồng. Do vậy, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ L1 Tố tụng dân sự năm 2015.
. Về nội dung:
- Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Ngọc L và ông Phan Thế L1 tự nguyện chung sống với nhau, có đăng ký kết hôn theo đúng quy định của L1 Hôn nhân gia đình năm 2014 nên quan hệ hôn nhân giữa bà Nguyễn Thị Ngọc L và ông Phan Thế L1 là hôn nhân hợp pháp.
Xét thấy, vợ chồng phải yêu thương, thấu hiểu, quan tâm chăm sóc, giúp đỡ lẫn nhau để cùng nhau xây dựng cuộc sống gia đình ấm no, hạnh phúc. Tuy nhiên, theo lời trình bày của bà L thì do bất đồng về quan điểm sống, hai bên không thể cảm thông, chia sẻ cho nhau được dẫn đến mâu thuẫn ngày càng trầm trọng. Bà L và ông L1 đã ly thân từ tháng 10/2022 cho đến nay, bà L về chung sống cùng gia đình mình tại địa chỉ: 123 Nguyễn Đình K, phường Tân T, quận Bình T, Thành phố Hồ Chí M, ông L1 thì sống tại địa chỉ: B22/460 ấp 2, xã Tân N, huyện Bình C, Thành phố Hồ Chí M. Thời gian sống ly thân bà L và ông L1 không tìm được giải pháp hàn gắn tình cảm vợ chồng. Nay bà L xác định tình cảm vợ chồng dành cho ông L1 không còn, cuộc sống hôn nhân không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được.
Tại phiên tòa hôm nay, ông L1 vẫn tiếp tục vắng mặt không có lý do. Qua đó, cho thấy bản thân ông L1 cũng không thật lòng muốn hàn gắn cuộc hôn nhân này.
Từ những phân tích nêu trên, Hội đồng xét xử xét thấy có cơ sở để chấp nhận yêu cầu của bà Nguyễn Thị Ngọc L về việc muốn được ly hôn với ông Phan Thế Luật.
- Về con chung: Có 03 con chung tên Phan Phú V, sinh ngày: 25/7/2006, giới tính: Nam; Phan Ngọc Khánh V, sinh ngày:14/04/2008, giới tính: Nữ và Phan Ngọc Khánh H, sinh ngày: 04/12/2014, giới tính: Nữ.
Xét thấy, việc nuôi dưỡng con chung là trách nhiệm bố mẹ. Tại đơn khởi kiện và bản tự khai tại Tòa án, bà L và trẻ V đều thừa nhận trẻ V đang sống cùng ông L1 để tiện cho việc học hành, bà L và trẻ V đều có nguyện vọng để ông L1 trực tiếp nuôi trẻ Vinh, tuy nhiên, trong suốt quá trình Tòa án giải quyết vụ án, ông L1 đã nhiều lần nhận trực tiếp văn bản của Tòa án nhưng ông L1 không đến Tòa án để trình bày quan điểm có đồng ý nuôi trẻ V hay không, do vậy, trẻ V và bà L có yêu cầu để trẻ V ở với bà Lợi, trường hợp ông L1 đồng ý nuôi trẻ V, trẻ V sẽ sống với ông L1, riêng trẻ V và trẻ H đang sống ổn định với mẹ là bà Nguyễn Thị Ngọc L; Do các trẻ đang tuổi vị thành niên, tâm sinh lý có nhiều thay đổi, trẻ H còn rất nhỏ nên cả ba trẻ cần rất nhiều tình cảm, sự quan tâm, gần gũi chăm sóc của người mẹ trong việc phát triển tâm, sinh lý. Vì vậy, để đảm bảo cho trẻ V, V và trẻ H có một cuộc sống và sự phát triển toàn diện nhất, Hội đồng xét xử xét thấy cần giao trẻ Phan Phú V; Phan Ngọc Khánh H và trẻ Phan Ngọc Khánh V cho bà Nguyễn Thị Ngọc L nuôi dưỡng là phù hợp với quy định tại khoản 2 Điều 81 L1 Hôn nhân gia đình. Ông Phan Thế L1 (là cha của ba trẻ) vắng mặt trong các buổi hòa giải và tại phiên tòa xét xử nên không ghi nhận được ý kiến.
Ngoài ra, ông Phan Thế L1 không trực tiếp nuôi ba con chung là trẻ Phan Phú V; Phan Ngọc Khánh V và Phan Ngọc Khánh H phải thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con. Tuy nhiên, bà Nguyễn Thị Ngọc L không yêu cầu ông Phan Thế L1 cấp dưỡng nuôi con chung nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử xét thấy có cơ sở để chấp nhận yêu cầu của bà Nguyễn Thị Ngọc L về việc yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng trẻ Phan Phú Vinh; Phan Ngọc Khánh Vy và Phan Ngọc Khánh H và ghi nhận sự tự nguyện của bà Nguyễn Thị Ngọc L không yêu cầu ông Phan Thế L1 cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản chung: Bà Nguyễn Thị Ngọc L xác nhận bà và ông Phan Thế L1 tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
- Về nợ chung: Bà Nguyễn Thị Ngọc L xác nhận bà và ông Phan Thế L1 không có nợ chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Như vậy, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình C về việc đề nghị chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là hoàn toàn có cơ sở.
- Về án phí: Bà Nguyễn Thị Ngọc L phải chịu án phí vụ án hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 238, Điều 271, khoản 1 Điều 273 của Bộ L1 Tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ vào Điều 51; khoản 1 Điều 56; Điều 58; khoản 2 Điều 81; Điều 82 L1 Hôn nhân và gia đình năm 2014;
Căn cứ vào L1 phí và lệ phí năm 2015;
Căn cứ vào điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Căn cứ vào Điều 26 L1 Thi hành án dân sự năm 2008 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2014.
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:
- Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Ngọc L được ly hôn ông Phan Thế L1.
- Về con chung: Giao các trẻ Phan Phú V, sinh ngày: 25/7/2006, giới tính: Nam; trẻ Phan Ngọc Khánh V, sinh ngày: 14/04/2008, giới tính: Nữ và Phan Ngọc Khánh H, sinh ngày: 04/12/2014, giới tính: Nữ cho bà Nguyễn Thị Ngọc L được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục đến khi thành niên.
Cha mẹ không trực tiếp nuôi con có quyền và nghĩa vụ đến thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung, không ai được quyền cản trở.
Cha mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom của người đó.
Cha mẹ trực tiếp nuôi con cùng các thành viên trong gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.
Vì L ích của con chung, các đương sự đều có quyền xin thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc yêu cầu giải quyết việc cấp dưỡng nuôi con.
Ghi nhận sự tự nguyện của bà Nguyễn Thị Ngọc L không yêu cầu ông Phan Thế L1 cấp dưỡng nuôi con.
2. Về án phí: Án phí của vụ án hôn nhân gia đình sơ thẩm là 300.000 (Ba trăm ngàn) đồng, bà Nguyễn Thị Ngọc L phải chịu nhưng được cấn trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 (Ba trăm ngàn) đồng theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AA/2021/0042768 ngày 12 tháng 4 năm 2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bình C, Thành phố Hồ Chí M. Bà Nguyễn Thị Ngọc L đã nộp đủ án phí.
3. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày tính từ ngày bản án được giao cho họ hoặc được niêm yết công khai.
4. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 L1 Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 6a, Điều 7, Điều 7a và Điều 9 L1 Thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 L1 Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND Tp. HCM; - VKSND huyện Bình C; - Chi cục THADS huyện Bình C; - UBND phường Tân T, quận Bình T; - Đương sự; - Lưu. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Vũ Thị Trang |