- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "Ngân hàng TMCP A với Bà Phạm Dương T"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP A.
- Căn cứ chính? Điều 21 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 26 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN BÌNH THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 613/2019/DS-ST Ngày: 24 - 12 - 2019 V/v: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản. NHÂN DANH TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN BÌNH – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH - Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Tiến Quang Các hội thẩm nhân dân: 1. Ông Lê Văn Ngọc 2. Ông Vũ Trung Kiên Bình, Thành phố Hồ Chí Minh. Minh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Lê Hà - Kiểm sát viên. phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 451/2019/TLST-DS ngày 05 tháng 9 năm 2019 về ‘‘Tranh chấp hợp đồng vay tài sản’’ theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 236/2019/QĐXXST - DS ngày 30 tháng 10 năm 2019 giữa các đương sự: Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP A Chức danh: Tổng giám đốc. văn bản ủy quyền số 1896/2019/UQ-TTT ngày 05/10/2019 (có mặt). Bị đơn: Bà Phạm Dương T – sinh năm 1981 (vắng mặt lần thứ 2) Địa chỉ: 21 đường N, Phường B, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh. | Ngày 24 tháng 12 năm 2019 tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Tân Bình, Thành |
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo nội dung đơn khởi kiện ngày 14/8/2019 của Ngân hàng TMCP A cùng lời trình bày của Ông Nguyễn Ngọc M là người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn thì: Ngày 18/01/2012 Ngân hàng TMCP A (gọi tắt là Ngân hàng) và Bà Phạm Dương T (gọi tắt là bà T) có ký hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng, bao gồm giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng và bản điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng.
Căn cứ vào thu nhập của bà T, Ngân hàng đã đồng ý cấp thẻ tín dụng hạn mức sử dụng cho bà T là 20.000.000đ với mục đích tiêu dùng cá nhân. Quá trình thực hiện hợp đồng bà T đã thực hiện các giao dịch với tổng số tiền là 24.959.510đ và đã thanh toán cho Ngân hàng số tiền 48.329.794đ. Do bà T vi phạm nghĩa vụ thanh toán nên ngày 23/8/2017 Ngân hàng đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ và chuyển toàn bộ dư nợ sang nợ quá hạn, tính đến ngày 10/8/2019 bà T còn nợ Ngân hàng các khoản sau: Nợ gốc: 13.582.716đ; Lãi quá hạn: 12.190.204đ. Tộng cộng: 25.772.920đ.
Nay Ngân hàng khởi kiện yêu cầu bà T phải thanh toán ngay số nợ trên và tiền lãi phát sinh từ ngày 11/8/2019 cho đến khi trả hết nợ vay theo lãi suất quy định của hợp đồng.
Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tiến hành thủ tục tống đạt Thông báo thụ lý vụ án, giấy triệu tập cho bà T để tự khai; Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, nhưng bà T đều vắng mặt, nên Tòa án không ghi nhận được ý kiến và không tiến hành hòa giải giữa các bên đương sự được.
Tại phiên tòa hôm nay.
Ông Nguyễn Ngọc M là người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày: Ông yêu cầu cầu Tòa án tính tiền gốc và lãi mà bà T phải thanh toán tính đến ngày 24/12/2019 gồm tiền gốc: 13.582.716đ; Lãi quá hạn: 14.499.212đ. Tộng cộng: 28.081.928đ và tiền lãi phát sinh từ ngày 25/12/2019 cho đến khi trả hết nợ vay theo lãi suất quy định của hợp đồng.
Thi hành ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật.
Bị đơn - bà T vắng mặt.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Bình phát biểu ý kiến:
Về tố tụng: Quá trình giải quyết vụ án Thẩm phán đã làm đúng quy định của pháp luật. Tại phiên tòa Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã tuân theo đúng các quy định của pháp luật; bà T vắng mặt lần thứ hai, nên Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử là đúng quy định của pháp luật.
Về nội dung: Căn cứ các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và trình bày của người đại diện ủy quyền của nguyên đơn trong quá trình giải quyết vụ án. Đề nghị Tòa án nhân dân quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh tuyên xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Tòa án nhận định:
Về thẩm quyền giải quyết: Theo đơn khởi kiện ngày 14/8/2019 của Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín, hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng ngày 18/01/2012 sổ hộ khẩu của Bà Phạm Dương T, thể bà T hiện cư trú tại địa chỉ: 21 đường N, Phường B, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh. Căn cứ khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 vụ án thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh.
Về sự có mặt của đương sự tại phiên tòa: Bà T đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai để tham gia phiên tòa nhưng vắng mặt. Lần thứ nhất vào ngày 27/11/2019, lần thứ hai ngày 24/12/2019), nên Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Xét yêu cầu của Ngân hàng yêu cầu bà T phải thanh toán tiền nợ gốc và lãi tạm tính đến ngày 24/12/2019 gồm: Tiền gốc:13.582.716đ; Lãi quá hạn: 14.499.212đ. Tổng cộng: 28.081.928đ. Tòa án xét thấy:
Căn cứ bản sao giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng và bản điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng ngày 18/01/2012 thì giữa Ngân hàng và bà T đã giao kết hợp đồng vay tài sản dưới hình thức sử dụng dịch vụ thẻ. Theo thỏa thuận thì Ngân hàng thông báo chi tiết các giao dịch phát sinh, các khoản lãi, phí, số dư nợ, thời hạn thanh toán. Ngân hàng đã thực hiện nghĩa vụ này đối với bà T, nhưng bà T không thực hiện nghĩa vụ thanh toán cho Ngân hàng. Do đó, ngày 23/8/2017 Ngân hàng chấm dứt quyền sử dụng thẻ và chuyển toàn bộ số dư nợ còn thiếu sang nợ quá hạn.
Theo bảng chiết tính của Ngân hàng thì tính đến ngày 24/12/2019 số nợ còn lại của bà T gồm: Tiền nợ gốc: 13.582.716đ; Lãi quá hạn: 14.499.212đ. Tổng cộng: 28.081.928đ.
Quá trình giải quyết vụ án bà T không có ý kiến gửi cho Tòa án và không đến Tòa án để giải quyết việc kiện của Ngân hàng đối với bà T, nên Tòa án không ghi nhận được ý kiến. Căn cứ các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và lời trình bày của người đại diện theo ủy quyền của Ngân hàng trong quá trình tham gia tố tụng. Tòa án xét thấy có đủ cơ sở chấp nhận yêu cầu của Ngân hàng, buộc bà T phải thanh toán cho Ngân hàng nợ gốc và lãi tính đến ngày 24/12/2019 là 28.081.928đ.
Đối với yêu cầu bà T phải thanh toán tiếp tiền lãi phát sinh từ ngày 25/12/2019 cho đến khi thanh toán hết nợ của Ngân hàng, Tòa án xét thấy: Yêu cầu của Ngân hàng là phù hợp với quy định của pháp luật nên chấp nhận, buộc bà T phải tiếp tục thanh toán tiền lãi phát sinh từ ngày 25/12/2019 theo mức lãi suất thỏa thuận trong giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng ngày 18/01/2012 cho Ngân hàng đến khi thi hành án xong.
Về thời hạn thanh toán: Quá trình giải quyết vụ án Người đại diện theo ủy quyền của Ngân hàng yêu cầu bà T phải thanh toán ngay số nợ trên. Tòa án xét thấy: Từ ngày 23/8/2017 khoản nợ của bà T đã chuyển sang nợ quá hạn nhưng bà T vẫn không thực hiện nghĩa vụ thanh toán đã làm ảnh hưởng đến quyền, lợi ích hợp pháp của Ngân hàng, nên việc Ngân hàng yêu cầu bà T phải thanh toán ngay khoản nợ trên là không trái quy định của pháp luật. Xét, yêu cầu của Ngân hàng buộc bà T phải thanh toán nợ ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật là có cơ sở, không trái luật, nên chấp nhận.
Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án, bà T phải chịu 1.404.096đ án phí Dân sự sơ thẩm. Hoàn lại Ngân hàng 644.325đ tiền tạm ứng án phí đã nộp.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 21; khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 227; khoản 1 Điều 273; khoản 1 Điều 280 của Bộ luật Tố tụng Dân sự;
Căn cứ Điều 91, 95 và Điều 98 của Luật các tổ chức tín dụng năm 2010;
Căn cứ vào Luật Thi hành án Dân sự (sửa đổi, bổ sung năm 2014);
Căn cứ khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP A.
a. Buộc Bà Phạm Dương T có trách nhiệm thanh toán cho Ngân hàng TMCP A số tiền nợ gốc và lãi tạm tính đến ngày 24/12/2019 theo giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng ngày 18/01/2012, cụ thể như sau:
Nợ gốc: 13.582.716đ (mười ba triệu năm trăm tám mươi hai ngàn bảy trăm mười sáu đồng).
Nợ lãi quá hạn: 14.499.212đ (mười bốn triệu bốn trăm chín mươi chín ngàn hai trăm mười hai đồng).
Tổng cộng: 28.081.928đ (hai mươi tám triệu không trăm tám mươi mốt ngàn chín trăm hai mươi tám đồng).
b. Kể từ ngày 25/12/2019, Bà Phạm Dương T phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng ngày 18/01/2012 giữa Ngân hàng TMCP A với Bà Phạm Dương T cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc này. Trường hợp trong Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng ngày 18/01/2012 giữa các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng cho vay thì lãi suất mà Bà Phạm Dương T vay phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng cho vay.
2. Về thời hạn thi hành án: Ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật.
3. Về án phí: Án phí Dân sự sơ thẩm là 1.404.096đ (một triệu bốn trăm lẻ bốn ngàn không trăm chín mươi sáu đồng) do Bà Phạm Dương T chịu.
Hoàn lại cho Ngân hàng TMCP A 644.325đ (sáu trăm bốn mươi bốn ngàn ba trăm hai mươi lăm đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số: AA/2018/0039078 ngày 30/8/2019 của Chi cục Thi hành án Dân sự quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh.
4. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án Dân sự (sửa đổi, bổ sung năm 2014) thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án Dân sự (sửa đổi, bổ sung năm 2014); thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án Dân sự (sửa đổi, bổ sung năm 2014).
5. Quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên Tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.
| Nơi nhận: - Các đương sự; - TAND TP.HCM; - VKSND quận Tân Bình, TP. HCM; - Chi cục THADS quận Tân Bình, TP. HCM; - Lưu: Hồ sơ, VP. | TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Tiến Quang |