vanban.org

Bản án 611/2025/DS-PT — Tranh chấp về quyền sở hữu và các quyền khác đối với tài sản

TAND cấp cao tại TP Hồ Chí Minh Tuyên án 05/06/2025 Dân sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 05/06/2025 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn ôngNguyễn Trí H.

Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 694/2024/DS-ST ngày 18/9/2024 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh. 1/. Không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ôngNguyễn

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp về quyền sở hữu và các quyền khác đối với tài sản — án dân sự — "Ông Nguyễn Trí H kiện Bà Nguyễn Thị N1 về việc “Tranh chấp đòi nhà, đòi tài sản, hủy giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất…"
  • Tòa quyết gì? Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn ôngNguyễn Trí H.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 611/2025/DS-PT
Ngày: 05 - 6 - 2025

V/v Tranh chấp đòi nhà, đòi tài sản, hủy giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Đắc Minh

Các thẩm phán:

Ông Trần Văn Mười

Ông Lê Hoàng Tấn

- Thư ký phiên tòa: Bà Tiếu Phương Quyền - Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Phạm Công Minh - Kiểm sát viên.

Trong ngày 05/6/2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự phúc thẩm thụ lý số 489/2025/TLPT-DS ngày 16/4/2025 về việc “Tranh chấp đòi nhà, đòi tài sản, hủy giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở”. Do Bản án dân sự sơ thẩm số 694/2024/DS-ST ngày 18/9/2024 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh có kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 3044/2025/QĐ-ST ngày 20 tháng 5 năm 2025, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Ông Nguyễn Trí H, sinh năm 1956;

Địa chỉ: Số A Đường A, Khu phố A, phường B, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh.

Đại diện theo ủy quyền: Bà Nguyễn Thị N, sinh năm 1954;

Địa chỉ: Số I Đường B, Khu phố B, phường B, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh.

2. Bị đơn: Bà Nguyễn Thị N1, sinh năm 1948;

Địa chỉ: Số B L, phường A, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh.

Đại diện theo ủy quyền: Ông Phạm Ngọc T, sinh năm 1984;

Địa chỉ: Số F Đường số B, phường L, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh.

3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

3.1 Bà Trần Thị Kiều O, sinh năm 1967;

Địa chỉ: Số C Khu phố E, phường A, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh.

3.2 Bà Trần Thị Tuyết N2, sinh năm 1969;

Địa chỉ: Số B Khu phố A, phường A, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh.

3.3 Ông Trần Chí H1, sinh năm 1971;

Địa chỉ: Số B L, phường A, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh.

3.4 Bà Trần Linh Phượng Yến T1, sinh năm 1973;

Địa chỉ: A S Caption Ave S, USA.

Đại diện theo ủy quyền: Ông Ngô Viết Nguyên Đ, sinh năm 2005;

Địa chỉ: Số A L, Phường A, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bà T1: Luật sư Lê Công Đ1 và Luật sư Trần Nhật H2.

Địa chỉ: Số A L, Phường A, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh.

3.5 Bà Nguyễn Thị T2, sinh năm 1957;

Địa chỉ: Số A Đường A, Khu phố A, phường B, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh.

3.6 Bà Cao Thị X, sinh năm 1942;

Địa chỉ: D T, phường B, Quận B (nay là thành phố T), Thành phố Hồ Chí Minh.

Đại diện theo ủy quyền: BàNguyễn Thị T2, sinh năm 1957;

Địa chỉ:Số A Đường A, Khu phố A, phường B, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh.

3.7 BàNguyễn Thị Kim L, sinh năm 1953;

Địa chỉ:Số A Đường A, Khu phố A, phường B, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh.

Đại diện theo ủy quyền: BàNguyễn Thị N, sinh năm 1954;

Địa chỉ:Số I Đường B, Khu phố B, phường B, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh.

3.8Ủy ban nhân dân thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh;

Địa chỉ:Số A T, Phường T, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh.

Đại diện theo ủy quyền: BàHuỳnh Thị Kim O1 - Chức vụ: Nhân viên phòng tiếp công dân, Ban Bồi thường giải phóng mặt bằngthành

phố T, Thành phố Hồ Chí Minh;

Địa chỉ:Số A T, phường T, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh.

3.9 Ban bồi thường giải phóng mặt bằngthành

phố T;

Đại diện theo ủy quyền: BàHuỳnh Thị Kim O1 - Chức vụ: Nhân viên phòng tiếp công dân, Ban Bồi thường giải phóng mặt bằngthành

phố T, Thành phố Hồ Chí Minh.

Địa chỉ:Số A T, Phường T, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh.

3.10 BàNguyễn Thị H3, sinh năm 1946;

Địa chỉ:Số G N, Khu phố B, phường T, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh.

Và địa chỉ:Số I Đường B, Khu phố B, phường B, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Người kháng cáo: Nguyên đơn ôngNguyễn Trí H.

(Tại phiên tòa có mặt: bàNguyễn Thị N, ôngNguyễn Ngọc T3, các đương sự khác vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo Đơn khởi kiện ngày 12/3/2019 và tại các bản tự khai, biên bản làm việc, biên bản hòa giải do người đại diện của nguyên đơn trình bày:

Năm 1989, ôngNguyễn Trí H được mẹ ông là bàNguyễn Thị T4 lập giấy ủy quyền tạiỦy ban nhân dân xã B nội dung ủy quyền cho ôngH được đứng tên hai căn nhà trong đó có nhà đấtsố F ấp A, xã A, huyện T (số M L, phường A, thành phố T) diện tích 70m2, thuộc thửa số 73, tờ bản đồ số 66.

Do ôngH bận đi làm xa không về nhà thường xuyên nên năm 1995 ôngH có cho bàNguyễn Thị N1 (là chị ruột của ôngH) về ở tại nhà đấtsố F ấp A, xã A, huyện T (số M L, phường A, thành phố T) để buôn bán và trông coi nhà dùm cho ôngH.

Đến năm 2015, thông qua cán bộ địa chính củaỦy ban nhân dân phường A, Quận B thì ôngH được biết căn nhà nêu trên của ôngH bị quy hoạch một phần diện tích khoảng 30m2 để mở đườngLương

Định C.

Năm 2017, ôngH phát hiện bàN1 đứng tên của ôngH để nhận tiền đền bù là 1.522.403.083 đồng, phần diện tích nhà đất còn lại khoảng 40m2 bàN1 không giao trả lại cho ôngH và đượcỦy ban nhân dân Quận B, Thành phố Hồ Chí Minh cấp Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở số 2535/2003 ngày 21/11/2003 cho ôngTrần Văn C1 và bàNguyễn Thị N1.

Nguyên đơn yêu cầu:

- Hủy Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất số 2535/2003 doỦy ban nhân dân Quận B cấp ngày 21/11/2003 cho ôngTrần Văn C1 và bàNguyễn Thị N1 đối với nhà đất tọa lạc tạisố F ấp A, xã A, huyện T (số M L, phường A, Quận B (nay là Thành phố T), Thành phố Hồ Chí Minh)

- Buộc bàNguyễn Thị N1 trả phần diện tích còn lại là 29,9m2 của nhà đấtsố B L, phường A, Quận B thuộc thửa 72-1, 73-1, 74-1, tờ bản đồ số 66 (tài liệu năm 2003) theo bản vẽ hiện trạng ngày 16/3/2020 doTrung

tâm

Đo

đạc bản đồ Thành phố H lập.

- Buộc bàN1 trả lại số tiền bồi thường đã nhận là 1.522.403.083 đồng và số tiền bồi thường chưa nhận đối với phần diện tích đã bị thu hồi của căn nhà nêu trên là 652.458.464 đồng thuộc của ôngNguyễn Văn H4.

Người đại diện theo uỷ quyền của bị đơn ôngPhạm Ngọc T trình bày:

Nguồn gốc nhà đất tọa lạc tạisố F ấp A, xã A, huyện T (số M L, phường A, Quận B (nay là Thành phố T), Thành phố Hồ Chí Minh) là của bàNguyễn Thị N1 và ôngTrần Văn C1 tạo dựng, ngày 21/11/2003 ôngC1 và bàN1 đã đượcỦy ban nhân dân Quận B cấp Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở số 2535/200, cập nhật thay đổi ngày 16/11/2017. Nhà nước thu hồi 44,2m2, diện tích còn lại là 25,9m2 thuộc thửa 73, tờ bản đồ số 66 (BĐĐC năm 2002)phường A, Quận B theo hồ sơ số 004703.TH.001. (Dự án đầu tư xây dựngđường L và nút giao thông T - L). Do đó, bàN1 được Nhà nước bồi thường 2.174.861.547 đồng, bàN1 đã nhận bồi thường 1.522.403.083 đồng còn lại chưa nhận 652.458.464 đồng do bị ôngH4 tranh chấp. Bị đơn không đồng ý với các yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, vì nhà đất này thuộc quyền sở hữu của bàN1, bàN1 đã được Nhà nước công nhận và cấp giấy chứng nhận hợp pháp, nên khi được bồi thường thì bàN1 được quyền nhận theo quy định pháp luật, đề nghị Tòa án không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bàNguyễn Thị T2 trình bày:

BàT2 là con ruột của bàNguyễn Thị T4 (chết năm 2004). BàT4 có 04 người con là bàCao

Thị X, bàNguyễn Thị N1, ôngNguyễn Trí H và bàNguyễn Thị

T2. Năm 1973 bàT4 có mua căn nhà của bàNguyễn Thị H3 số nhàF

xã

A

nay

là số nhà B, khu phố A, đường L, phường A, thành phố T. Sau khi mua nhà cả nhà chị bà làNguyễn Thị N1 về ở, sau này bàT4 có làm giấy ủy quyền để lại 02 căn nhà cho ôngNguyễn Trí H theo giấy ủy quyền củaỦy ban nhân dân xã B”. Bà không có ý kiến hay yêu cầu gì trong vụ kiện này đề nghị tòa giải quyết theo quy định của pháp luật.

Đại diện theo uỷ quyền của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bàCao

Thị X là bàNguyễn Thị T2 trình bày:

BàX thống nhất với ý kiến của bàT2, bàX là con ruột bàT4. BàX không

có ý kiến hay yêu cầu gì trong vụ kiện này đề nghị Toà án giải quyết theo quy định của pháp luật.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bàNguyễn Thị Kim L do bà Nguyễn Thị N đại diện theo ủy quyền trình bày:

BàL thống nhất ý kiến với ôngH.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bàTrần Linh Phượng Yến K, có đại diện theo uỷ quyền là ôngNgô

Viết Nguyên Đ, bàTrần Thị Kiều O, ông

Trần Chí H1, bàTrần Thị Tuyết N2 đều khai là con ruột của bàNguyễn Thị N1, các ông bà đều thống nhất với ý kiến của bàN1, không có ý kiến yêu cầu độc lập tranh chấp trong vụ án này.

Ý kiến củaỦy ban nhân dân thành phố T:

-Ủy ban nhân dân Quận B (nay làthành

phố T) thực hiện việc cấp Giấy

chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở số 2535/2003 ngày 21/11/2003 cho ôngTrần Văn C1, bàNguyễn Thị N1 đúng theo trình tự thủ tục quy định. Việc “Tranh chấp đòi nhà, đòi tài sản, hủy giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở” giữa nguyên đơn là ôngNguyễn Trí H và bị đơn là bàNguyễn Thị N1 đối với vị trí giải tỏa nêu trên là giao dịch dân sự giữa các bên nên thuộc phạm vi điều chỉnh của Luật Dân sự, không thuộc thẩm quyền giải quyết củaỦy ban nhân dân thành phố T. Do đó,Ủy ban nhân dân thành phố T đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.

BàHuỳnh Thị Kim O1 là đại diện theo uỷ quyền củaỦy ban nhân dân thành phố T có đơn xin được vắng mặt trong suốt quá trình xét xử vụ án tại Toà án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.

Ý kiến củaBan

B1, nay làthành

phố T:

Theo Xác nhận hồ sơ pháp lý nhà, đất số 60/UBND-XN ngày 27/5/2015 và số 16/UBND-XN ngày 18/4/2017 củaỦy ban nhân dân phường A đối với vị trí giải tỏa nêu trên với nội dung như sau:

“Vị trí nhà, đất giải tỏasố B L, khu phố A, phường A, Quận B (thuộc một phần thửa số 72, 73, tờ bản đồ số 66 theo tài liệu bản đồ năm 2003) do bàNguyễn Thị N1 (là người thừa kế di sản của ôngTrần Văn C1 chết để lại theo văn bản phân chia di sản thừa kế số 19037 doVăn phòng C2 chứng nhận ngày 21/12/2016) là chủ sử dụng thuộc dự án đầu tư xây dựngđường L và nút giao thôngTrần N3 -L,

Quận B. Tổng diện tích giải tỏa: 44,9m2, diện tích xây dựng: 44,9m2. Hiện trạng giải toả: một phần.

Nguồn gốc quá trình sử dụng nhà, đất: Toàn bộ phần đất giải tỏa 44,9m2 thuộc khuôn viên khu đất do ôngTrần Văn C1 và bàNguyễn Thị N1 sử dụng để ở ổn định từ trước năm 1980. Trong đó, diện tích 44,2m2 đã đượcỦy ban nhân dân Quận B cấp Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở số 2535/2003 ngày 21/11/2003 cho ôngC1 và bàN1 (tổng diện tích khuôn viên được cấp GCN là 70,1m2). Phần đất giải tỏa còn lại diện tích 0,7m2 chưa được cấp Giấy chứng nhận do sai số đo đạc, có nguồn gốc cùng nguồn gốc được cấp Giấy chứng nhận nêu trên, không lấn chiếm. Hiện ôngC1 đã chết, nhà đất được bàN1 tiếp tục sử dụng để ở đến nay. Nhà thuộc một phần ô số (1) diện tích 20,77m2 đã được cấp Giấy chứng nhận. Toàn bộ vật kiến trúc còn lại xây dựng sau năm 2006 đến trước ngày thông báo thu hồi đất”.

Ngày 26/4/2017, Hội đồng Bồi thường dự án đầu tư xây dựngđường L và nút giao thôngTrần N3 -L,

Quận B ký bảng chiết tính giá trị bồi thường, hỗ trợ thiệt hại và tái định cư số 14/AP. Ngày 09/5/2017,Ủy ban nhân dân Quận B ban hành Quyết định số 1995/QĐ-UBND về việc bồi thường, hỗ trợ và tái định cư đối với ông (bà)Nguyễn Thị N1 (là người thừa kế di sản của ôngTrần Văn C1 chết để lại theo văn bản phân chia di sản thừa kế số 19037 doVăn

phòng

C2 chứng nhận ngày 21/12/2016) với tổng số tiền là 2.174.861.547 đồng. Về tái định cư: Không đủ điều kiện tái định cư.

Ngày 13/02/2018,Ủy ban nhân dân Quận B ban hành Quyết định số 415/QĐ-UBND về việc thưởng do chấp hành tốt chủ trương, chính sách bồi thường đối với ông (bà)Nguyễn Thị N1 (là người thừa kế di sản của ôngTrần Văn C1 chết để lại theo văn bản phân chia di sản thừa kế số 19037 doVăn

phòng

C2 chứng nhận ngày 21/12/2016) với số tiền là 7.500.000 đồng. BàN1 đã nhận 70% tổng số tiền bồi thường, hỗ trợ và tái định cư và tiền thưởng. Hiện 30% số tiền còn lại được gửi vào kho bạc Nhà nước ngày 26/12/2017.

Ban bồi thường giải phóng mặt bằngthành

phố T đề nghị Tòa án giải quyết

vụ án theo quy định của pháp luật.

BàHuỳnh Thị Kim O1 là đại diện theo uỷ quyền của Ban bồi thường giải phóng Mặt bằngthành

phố T có đơn xin được vắng mặt trong suốt quá trình xét xử vụ án tại Toà án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.

BàNguyễn Thị H3 trình bày:

BàH3 xác nhận có bán căn nhàsố F (có diện tích 70m2 nhà lá vách lá với giá 330.000 đồng)ấp A, xã A, huyện T nay là căn nhàsố B L, khu phố A, phường A, thành phố T cho bàNguyễn Thị T4 theo “Tờ bán nhà” ngày 30/10/1973. Khi mua bán nhà chỉ làm giấy tay, bàH3 xác nhận nội dung ghi trong giấy bán nhà là đúng sự thật và chữ ký bên người bán là của bàH3. Khi đó bà có nghe bàT4 nói mua cho con trai là ôngNguyễn Trí H nhưng để cho con gái là bàNguyễn Thị N1 ở tạm vì ôngH còn nhỏ. Do sức khỏe yếu, tuổi già nên bàH3 xin được vắng trong quá trình giải quyết và xét xử tại Tòa án.

Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 694/2024/DS-ST ngày 18/9/2024 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đã tuyên xử:

1/. Không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ôngNguyễn

Trí H về việc:

- Buộc bàNguyễn Thị N1 trả phần diện tích còn lại là 29,9m2 của nhà đấtsố B L, phường A, Quận B thuộc thửa 72-1, 73-1, 74-1, tờ bản đồ số 66 (tài liệu năm 2003) theo bản vẽ hiện trạng ngày 16/3/2020 doTrung

tâm

Đo

đạc bản đồ Thành phố H lập.

- Hủy Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất số 2535/2003 doỦy ban nhân dân Quận B cấp ngày 21/11/2003 cho ôngTrần Văn C1 và bàNguyễn Thị N1 đối với nhà đất tọa lạc tạisố F ấp A, xã A, huyện T (số M L, phường A, Quận B (nay là Thành phố T), Thành phố Hồ Chí Minh).

- Đối với số tiền bồi thường chưa nhận đối với phần diện tích đã bị thu hồi của căn nhà nêu trên là 652.458.464 đồng thuộc của ôngNguyễn Văn H4.

2/. Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc buộc bà Nguyễn Thị N1 trả lại số tiền bồi thường đã nhận là 1.522.403.083 đồng (Một tỷ năm trăm hai mươi hai triệu bốn trăm lẻ ba nghìn không trăm tám mươi ba đồng).

Ngoài ra bản án sơ thẩm còn quyết định về chi phí tố tụng, án phí sơ thẩm, quyền kháng cáo và quyền thi hành án theo quy định pháp luật.

Ngày 01/10/2024, nguyên đơn ôngNguyễn Trí H có đơn kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn không có xuất trình chứng cứ gì mới, ngoài lời khai đã trình bày tại phiên tòa sơ thẩm, cho rằng nguồn gốc nhà đất tranh chấp tạisố F ấp A, xã A, huyện T nay là căn nhàsố B L, khu phố A, phường A, Quận B (nay là thành phố T), Thành phố Hồ Chí Minh do bàNguyễn Thị T4 mua của bàNguyễn Thị H3. Về nguồn tiền mua căn nhàsố F ấp A, xã A, huyện T nay là căn nhàsố B L là của bàT4 đưa cho bàH3 vì bàT4 mua nhà nên tiền là của bàT4. BàT4 mua căn nhà vào năm 1973. BàT4 không ở căn nhà trên chỉ đi đi về về thăm nom nhà. Từ năm 1973 đến năm 1995 thì ôngH đi đi về về căn nhà trên nhưng không ở trực tiếp do ôngH có chỗ ở khác. Sau năm 1995, ông H cho bàN1 ở cho đến nay. Sau năm 1995 ôngH cũng không ở trong căn nhà này nhưng có đi qua đi lại trông chừng nhà. Việc bàT4 uỷ quyền cho ôngH được quyền quản lý, sử dụng hai căn nhà (trong đó có nhà đấtF

ấp A, xã A, huyện T)

bàN1 có biết nhưng ôngH không có chứng cứ chứng minh. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo, sửa bản án sơ thẩm, theo hướng chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Người đại diện theo ủy quyền của bị đơn trình bày: không đồng ý với kháng cáo của nguyên đơn, đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận yêu cầu kháng cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu quan điểm: Về tố tụng, Thẩm phán và Hội đồng xét xử thực hiện đúng quy định của pháp luật tố tụng. Các đương sự thực hiện quyền, nghĩa vụ theo đúng quy định pháp luật. Về nội dung, căn cứ các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ, xác định bản án sơ thẩm tuyên xử là có căn cứ. Tại phiên tòa phúc thẩm, phía nguyên đơn không cung cấp được chứng cứ nào mới để chứng minh cho kháng cáo của mình, đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn và giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng: Đơn kháng cáo của nguyên đơn ôngNguyễn Trí H

trong hạn luật định, hợp lệ nên được xem xét theo trình tự phúc thẩm.

[2] Xét kháng cáo của nguyên đơn ôngNguyễn Trí H:

[2.1] ÔngH khởi kiện buộc bàNguyễn Thị N1 phải giao trả căn nhà tọa lạc tạisố F ấp A, xã A, huyện T nay là căn nhàsố B L, khu phố A, phường A, Quận B (nay là thành phố T), Thành phố Hồ Chí Minh (phần diện tích còn lại là 29,9m2 của nhà đấtsố B L, phường A, Quận B thuộc thửa 72-1, 73-1, 74-1, tờ bản đồ số 66 (tài liệu năm 2003) theo bản vẽ hiện trạng ngày 16/3/2020 doTrung

tâm

Đo đạc bản đồ Thành phố H lập) cho ông với chứng cứ là Giấy ủy quyền bàNguyễn Thị T4 ký vào ngày 14/8/1989 có xác nhận củaỦy ban nhân dân xã B nội dung:“Hôm nay tôi làm đơn này ủy quyền cho con trai tôi tênNguyễn Trí H… được toàn quyền sử dụng 02 căn nhàsố D ấp T, xã B, huyện T và căn nhà số cũ F ấp A, xã A số mới 245khu phố I, ấp A, xã A”.

Xét tính hợp pháp của Giấy ủy quyền nói trên cho thấy: Về hình thức Giấy ủy quyền này của bàT4 ký không hợp lệ vì bàT4 ký giấy ủy quyền ngày 14/8/1989 nhưng Ủy ban nhân dân xã lại ký xác nhận chữ ký ngày 14/6/1989; tại phiên tòa phúc thẩm, đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn khai nhận, thời điểm ký giấy ủy quyền không có mặt ôngNguyễn Trí H do bận làm ăn xa. Như vậy, việc xác nhận này có trước khi bàT4 lập Giấy ủy quyền, không có mặt người được ủy quyền nên không có giá trị pháp lý.

Về nội dung Giấy ủy quyền bàT4 chỉ ủy quyền cho ôngH được toàn quyền

sử dụng nhà chứ không phải sở hữu nhà và cũng không phải là bản di chúc hay giấy tặng cho nhà mà bàT4 chỉ ủy quyền cho ôngH được sử dụng nhà, mặc dù không có thời hạn ủy quyền nhưng theo quy định của Bộ luật dân sự, việc ủy quyền sẽ chấm dứt hiệu lực khi người ủy quyền hoặc người được ủy quyền chết, do đó Giấy ủy quyền này đã không còn hiệu lực vì bàNguyễn Thị T4 đã chết từ năm 2004.

Như vậy, cho đến thời điểm ôngH khởi kiện thì giấy ủy quyền này đã hết hiệu lực, ngoài việc ôngH khai được mẹ là bàT4 cho tặng căn nhà này (bằng miệng) thì ôngH không có bất cứ tài liệu, chứng cứ nào chứng minh ôngH là người có quyền sở hữu nhà và quyền sử dụng đất ở hợp pháp đối với căn nhàsố B L, phường A, Quận B, Thành phố Hồ Chí Minh. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ, đúng pháp luật.

[2.2] Xét yêu cầu hủy Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất số 2535/2003 doỦy ban nhân dân Quận B cấp ngày 21/11/2003 cho ông Trần Văn C1 và bàNguyễn Thị N1 đối với nhà đất tọa lạc tạisố F ấp A, xã A, huyện T (số M L, phường A, Quận B (nay là Thành phố T), Thành phố Hồ Chí Minh).

Căn cứ vào trích lục tất cả các hộ khẩu từ năm 1973, 1976, 1982, 2007 của gia đình bàNguyễn Thị N1 cho thấy rằng gia đình bàN1 sinh sống, làm ăn ổn định tại căn nhàsố F ấp A số mới là 245 Lương Định Của từ trước năm 1973 đến nay. Theo hồ sơ tàng thư hộ khẩu lưu trữ tạiCông

an

thành

phố T thể hiện: “Tờ khai gia đình” cấp ngày 25/4/1973 địa chỉF

Ấp A, xã A, quận T cũ cấp cho hộ bà Nguyễn Thị N1, sinh 1948 là gia trưởng. Kiểm tra trong tờ khai gia đình cấp năm 1973 này không có tên bàNguyễn Thị H3, sinh 1946. Theo “Giấy chứng nhận đăng ký nhân khẩu thường trú trong hộ” cấp ngày 01/10/1976 địa chỉ 245,ấp A, xã A, huyện T cũ cấp cho hộ bàNguyễn Thị N1, sinh 1948, là chủ hộ.

Tại Biên bản hòa giải ôngH trình bày bàT4, ôngH không có đăng ký thường trú hay ở thường xuyên tại nhà đất đang tranh chấp, chỉ thỉnh thoảng về rồi đi. Như vậy, có cơ sở xác định từ năm 1973 cho đến nay chỉ có gia đình bàN1 cư trú tại nhà đất đang tranh chấp, do đó Hội đồng xét xử không có cơ sở để chấp nhận lời khai nại của nguyên đơn.

Đối với việc bàN1 cho rằng bà đã nhờ mẹ bà là bàT4 đứng tên mua dùm, vì thời điểm đó hai vợ chồng là cảnh sát của chế độ cũ, không đứng tên được, mặc dù không có văn bản thể hiện việc này nhưng thực tế đã chứng minh lời khai của bàN1 phù hợp với các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án như:

- Sau khi nhận chuyển nhượng năm 1973 thì gia đình bàN1 đã trực tiếp quản

lý và xây dựng nhà, sử dụng nhà đất trên, đăng ký hộ khẩu thường trú, kê khai qua các thời kỳ, đến năm 2003 thì được cấp Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở số 2535/2003 doỦy ban nhân dân Quận B cấp ngày 21/11/2003. Mặt khác, theo lời khai của ôngH thì bàT4 có 2 căn nhà trong đó có nhà đất đang tranh chấp đã ủy quyền quản lý cho ôngH. Tuy nhiên, lời khai của ôngH không phù hợp với tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ, cụ thể là bàT4 chỉ kê khai nhà đất tạisố D B, Quận B ngày 01/8/1999, còn bàN1 là người trực tiếp kê khai và thực hiện nghĩa vụ tài chính đối với nhà nhà đất đang tranh chấp số 6/7A ấp A nay là số 245L. Nếu cho rằng nhà đất là của bàT4 hoặc của ôngH thì tại sao khi kê khai bàT4 và ôngH không kê khai nhà đất tranh chấp mà chỉ kê khai nhà đất tạisố D B, Quận B ngày 01/8/1999.

- Trong suốt quá trình bàN1 sinh sống tại đây bàN1 là người bỏ tiền ra xây dựng nhà, bàT4 còn sống nhưng không có ý kiến phản đối hay tranh chấp với bà N1 hoặc ôngH cho rằng cho chị gái ở nhờ từ năm 1995 đến nay nhưng lại không có ý kiến phản đối gì về việc bàN1 xây dựng nhà trên nhà đất mà ôngH cho rằng là của ôngH. Thời điểm bàN1 kê khai năm 1999, năm 2003 làm thủ tục cấp Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà và quyền sử dụng đất thì bàT4 còn sống nhưng không có ý kiến hay tranh chấp gì với bàN1.

-Ủy ban nhân dân Quận B (nay làthành

phố T) có văn bản trình bày rõ đã

thực hiện việc cấp Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở số 2535/2003 ngày 21/11/2003 cho ôngTrần Văn C1, bàNguyễn Thị N1 đúng theo trình tự thủ tục quy định.

Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm không chấp nhận yêu cầu hủy Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất số 2535/2003 doỦy ban nhân dân Quận B cấp ngày 21/11/2003 cho ôngTrần Văn C1 và bàNguyễn Thị N1 đối với nhà đất tọa lạc tạisố F ấp A, xã A, huyện T (số M L, phường A, Quận B (nay là Thành phố T), Thành phố Hồ Chí Minh) của nguyên đơn ôngNguyễn Trí H là có căn cứ, đúng pháp luật.

[3] Xét yêu cầu kháng cáo đối với số tiền bồi thường chưa nhận đối với phần diện tích đã bị thu hồi của căn nhà nêu trên là 652.458.464 đồng thuộc của ông Nguyễn Văn H4. Hội đồng xét xử xét thấy:

Vị trí nhà, đất giải tỏasố B L, khu phố A, phường A, Quận B (thuộc một phần thửa số 72, 73, tờ bản đồ số 66 theo tài liệu bản đồ năm 2003) do bàNguyễn Thị N1 (là người thừa kế di sản của ôngTrần Văn C1 chết để lại theo văn bản phân chia di sản thừa kế số 19037 doVăn

phòng

C2 chứng nhận ngày 21/12/2016)

là chủ sử dụng thuộc dự án đầu tư xây dựngđường L và nút giao thôngTrần N3 -L,

Quận B. Tổng diện tích giải tỏa: 44,9m2, diện tích xây dựng: 44,9m2. Hiện trạng giải toả: một phần.

Ngày 26/4/2017, Hội đồng Bồi thường dự án đầu tư xây dựngđường L và nút giao thôngTrần N3 -L,

Quận B ký bảng chiết tính giá trị bồi thường, hỗ trợ thiệt hại và tái định cư số 14/AP. Ngày 09/5/2017,Ủy ban nhân dân Quận B ban hành Quyết định số 1995/QĐ-UBND về việc bồi thường, hỗ trợ và tái định cư đối với ông (bà)Nguyễn Thị N1 (là người thừa kế di sản của ôngTrần Văn C1 chết để lại theo văn bản phân chia di sản thừa kế số 19037 doVăn

phòng

C2 chứng nhận ngày 21/12/2016) với tổng số tiền là 2.174.861.547 đồng.

Ngày 13/02/2018,Ủy ban nhân dân Quận B ban hành Quyết định số 415/QĐ-UBND về việc thưởng do chấp hành tốt chủ trương, chính sách bồi thường đối với ông (bà)Nguyễn Thị N1 (là người thừa kế di sản của ôngTrần Văn C1 chết để lại theo văn bản phân chia di sản thừa kế số 19037 doVăn

phòng

C2 chứng nhận ngày 21/12/2016) với số tiền là 7.500.000 đồng. BàN1 đã nhận 70% tổng số tiền bồi thường, hỗ trợ và tái định cư và tiền thưởng. Hiện 30% số tiền còn lại là 652.458.464 đồng được gửi vào kho bạc Nhà nước ngày 26/12/2017.

Như đã nhân định ở mục [2], nhà đất nói trên thuộc quyền quản lý, sử dụng hợp pháp của bị đơn bàNguyễn Thị N1, nên khi Nhà nước giải tỏa thì bàN1 có toàn quyền được hưởng các chính sách bồi thường hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi. Tòa án cấp sơ thẩm không chấp nhận yêu cầu phải giao số tiền 652.458.464 đồng thuộc của ôngNguyễn Văn H4 là có cơ sở, đúng pháp luật, bàN1 được quyền liên hệ với các cơ quan chức năng để được nhận số tiền bồi thường còn lại theo quy định.

Tại phiên tòa phúc thẩm, nguyên đơn ôngNguyễn Trí H, có người đại diện theo ủy quyền là bàNguyễn Thị N kháng cáo nhưng không cung cấp thêm các tài liệu, chứng cứ gì mới để bảo vệ cho yêu cầu kháng cáo của mình, vì vậy Hội đồng xét xử không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn, cần thiết phải giữ nguyên bản án sơ thẩm theo như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.

[4] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

[5] Về án phí dân sự phúc thẩm: Do yêu cầu kháng cáo của ôngNguyễn Trí

H không được chấp nhận nên ôngH phải chịu án phí dân sự phúc thẩm theo luật định. Tuy nhiên, ôngH là người cao tuổi và có đơn xin miễn án phí nên được miễn toàn bộ án phí dân sự phúc thẩm.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự; áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

- Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn ôngNguyễn Trí H.

Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 694/2024/DS-ST ngày 18/9/2024 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.

Tuyên xử:

1/. Không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ôngNguyễn

Trí H về việc:

- Buộc bàNguyễn Thị N1 trả phần diện tích còn lại là 29,9m2 của nhà đấtsố B L, phường A, Quận B thuộc thửa 72-1, 73-1, 74-1, tờ bản đồ số 66 (tài liệu năm 2003) theo bản vẽ hiện trạng ngày 16/3/2020 doTrung

tâm

Đo

đạc bản đồ Thành phố H lập.

- Hủy Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất số 2535/2003 doỦy ban nhân dân Quận B cấp ngày 21/11/2003 cho ôngTrần Văn C1 và bàNguyễn Thị N1 đối với nhà đất tọa lạc tạisố F ấp A, xã A, huyện T (số M L, phường A, Quận B (nay là Thành phố T), Thành phố Hồ Chí Minh).

- Đối với số tiền bồi thường chưa nhận đối với phần diện tích đã bị thu hồi của căn nhà nêu trên là 652.458.464 đồng thuộc của ôngNguyễn Văn H4.

2/. Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc buộc bà Nguyễn Thị N1 trả lại số tiền bồi thường đã nhận là 1.522.403.083 đồng (Một tỷ năm trăm hai mươi hai triệu bốn trăm lẻ ba nghìn không trăm tám mươi ba đồng).

3/. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

4/. Về án phí dân sự phúc thẩm: ÔngNguyễn Trí H được miễn.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

CÁC THẨM PHÁN

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Văn Mười

Lê Hoàng Tấn

Nguyễn Đắc Minh

Cỡ chữ