- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng tín dụng — án dân sự — "Tranh chấp hợp đồng tín dụng"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn – Ngân hàng Thương mại Cổ phần Sài Gòn Thương Tín.
- Căn cứ chính? Luật Phí và lệ phí; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 184 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN PHÚ NHUẬN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 611/2020/DS-ST Ngày: 09-9-2020 V/v tranh chấp hợp đồng tín dụng. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN PHÚ NHUẬN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Lê Hoàng Yến
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Văn Định.
2. Bà Trần Thị Xuân Thảo.
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Minh Tâm - Thư ký Tòa án nhân dân quận Phú Nhuận, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Phú Nhuận tham gia phiên tòa: Bà Bùi Thị Bích Phượng - Kiểm sát viên.
Ngày 09 tháng 09 năm 2020 tại Trụ sở Tòa án nhân dân quận Phú Nhuận, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử công khai vụ án thụ lý số: 0212/2020/TLST-DS ngày 27 tháng 4 năm 2020 về “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 111/2020/QĐST-DS ngày 13/8/2020 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại Cổ phần Sài Gòn Thương Tín.
Trụ sở: lầu 8, 266 - 268 Đường A, Phường B, Quận C ,Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện hợp pháp: Ông Nguyễn Hoàng V, sinh năm 1986. (Có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt)
(Theo Giấy ủy quyền số 512/2019/UQ-TTT ngày 22 tháng 7 năm 2019)
- Bị đơn: Bà Đặng Bạch M, sinh năm 1960. (Vắng mặt)
Cư trú: 529/153 Đường R, Phường S, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện ngày 05 tháng 8 năm 2019 và quá trình giải quyết vụ án ông Nguyễn Hoàng V là người đại diện hợp pháp của nguyên đơn trình bày:
Ngày 29/3/2012, Bà Đặng Bạch M ký với Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín (gọi tắt là Ngân hàng) Hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng (bao gồm Giấy đề nghị cấp thẻ kiêm hợp đồng và Bản điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng – các tài liệu được gọi chung là Hợp đồng). Căn cứ thu nhập của bà M, Ngân hàng đã đồng ý cấp thẻ tín dụng nội địa Family số 970403-3339 hạn mức tín dụng là 50.000.000 đồng, với mục đích tiêu dùng cá nhân. Sau khi được cấp thẻ tín dụng, bà M đã thực hiện các giao dịch với tổng số tiền là 649.827.910 đồng.
Trong quá trình sử dụng thẻ, từ ngày kích hoạt thẻ đến nay bà M đã thanh toán cho Ngân hàng số tiền 634.975.736 đồng (Thứ tự thanh toán căn cứ theo Điều 20 của Bản điều khoản và điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng). Sau đó, qua nhiều lần làm việc, nhắc nhở nhưng bà M vẫn không có thiện chí trả nợ. Do bà M vi phạm nghĩa vụ thanh toán (Điều 2 của Bản điều khoản và Điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng), từ ngày 22/5/2019 Ngân hàng đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ và chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu sang nợ quá hạn (Điều 23 của Bản điều khoản và Điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng).
Tính đến ngày 09/09/2020. Bà M còn nợ các khoản sau:
- Nợ gốc: 53.860.806 đồng
- Lãi quá hạn: 32.047.176 đồng
- Tổng cộng: 85.907.982 đồng.
Mặc dù Ngân hàng đã nhiều lần yêu cầu bà M có trách nhiệm thanh toán, tuy nhiên bà M vẫn chưa thanh toán khoản nợ vay quá hạn cho Ngân hàng, vi phạm các điều khoản đã quy định tại Hợp đồng đã ký.
Do đó, nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bà Đặng Bạch M thanh toán số tiền tính đến ngày 09/9/2020 là 85.907.982 đồng (trong đó nợ gốc là 53.860.806 đồng, lãi quá hạn là 32.047.176 đồng) và tiền lãi phát sinh từ ngày 10/9/2020 cho đến khi trả hết nợ theo mức lãi suất thỏa thuận trong Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng.
Bà Đặng Bạch M là bị đơn, trong quá trình chuẩn bị xét xử cũng như tại phiên tòa hôm nay đã được Tòa án tống đạt triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng đều vắng mặt không có lý do.
Tại phiên tòa:
Đại diện nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện yêu cầu Tòa án buộc bà Đặng Bạch M phải thanh toán một lần ngay khi bản án có hiệu lực pháp luật cho Ngân hàng số tiền là 85.907.982 đồng (Trong đó nợ gốc còn lại là 53.860.806 đồng, lãi quá hạn tạm tính đến ngày xét xử sơ thẩm là 32.047.176 đồng) theo Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng ngày 29/3/2012.
Bị đơn được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Phú Nhuận, Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu quan điểm:
Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đã được thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Về nội dung: Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, bị đơn đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Tòa án nhân dân quận Phú Nhuận, Thành phồ Hồ Chí Minh nhận định:
Thủ tục tố tụng:
Quan hệ tranh chấp:
Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bị đơn thanh toán tiền nợ theo Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng ngày 29/3/2012. Xét đây là tranh chấp phát sinh trong quan hệ hợp đồng cấp tín dụng của nguyên đơn với khách hàng cá nhân thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án theo quy định tại khoản 3 Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Thẩm quyền giải quyết vụ án:
Căn cứ Điều 32 Điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng đính kèm với Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng ngày 29/3/2012 quy định: “Trường hợp có tranh chấp mà các bên không thể giải quyết được bằng thương lượng thì việc tranh chấp sẽ được đưa ra cơ quan có thẩm quyền để giải quyết theo luật pháp của Việt Nam”.
Căn cứ Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng ghi rõ bị đơn có địa chỉ thường trú là 529/153 Đường R, Phường S, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh.
Căn cứ phúc đáp của Công an Phường S, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh có nội dung bị đơn có đăng ký hộ khẩu thường trú tại địa chỉ 529/153 Đường R, Phường S, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh và hiện đã cắt chuyển hộ khẩu thường trú về địa chỉ số 11 đường G, phường H, Quận I, Thành phố Hồ Chí Minh.
Căn cứ phúc đáp của Công an phường H, Quận I, Thành phố Hồ Chí Minh có nội dung bị đơn không thực tế cư trú tại địa chỉ số 11 đường G, phường H, Quận I, Thành phố Hồ Chí Minh. Hiện bà M đi đâu làm gì không rõ.
Xét, bị đơn thay đổi nơi cư trú nhưng không thông báo địa chỉ mới cho cơ quan có thẩm quyền theo quy định của Luật Cư trú nên địa chỉ 529/153 Đường R, Phường S, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh được xác định là nơi cư trú cuối cùng. Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự: nếu phát sinh tranh chấp và các bên không có thỏa thuận khác thì thẩm quyền giải quyết thuộc Tòa án cấp quận, huyện nơi bị đơn cư trú. Vì vậy, nguyên đơn khởi kiện buộc bị đơn thanh toán tiền nợ gốc, lãi theo Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng ngày 29/3/2012 thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Phú Nhuận, Thành phố Hồ Chí Minh.
Thời hiệu khởi kiện:
Các đương sự không yêu cầu xem xét về thời hiệu khởi kiện. Căn cứ vào khoản 2 Điều 184 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 Hội đồng xét xử không giải quyết về thời hiệu khởi kiện.
Sự có mặt, vắng mặt của đương sự:
Ngày 07 tháng 9 năm 2020 đại diện hợp pháp của nguyên đơn có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Căn cứ quy định tại điểm a khoản 2 Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn.
Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan. Căn cứ quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.
Việc thu thập chứng cứ:
Tòa án đã tống đạt hợp lệ thông báo thụ lý; giấy triệu tập; thông báo tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; thông báo kết quả phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ; quyết định đưa vụ án ra xét xử; quyết định hoãn phiên tòa; giấy triệu tâp tham gia phiên tòa cho bị đơn, nhưng bị đơn vẫn không nộp văn bản trình bày ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện và tài liệu, chứng cứ có liên quan đến vụ án. Do đó, Hội đồng xét xử giải quyết vụ án theo quy định pháp luật.
Tại bản tự khai, biên bản về kiểm tra việc giao nộp tiếp cận công khai chứng cứ, biên bản hòa giải nguyên đơn khẳng định các chứng cứ đã được giao nộp, tiếp cận, công khai trong quá trình giải quyết vụ án. Ngoài những chứng cứ đã thu thập tại hồ sơ, không có chứng cứ nào khác cung cấp cho Tòa án.
Nội dung:
Xét yêu cầu của nguyên đơn yêu cầu bị đơn thanh toán nợ gốc của thẻ tín dụng nội địa Family 970403-3339.
Căn cứ vào Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng ngày 29/3/2012, được lập và có chữ ký giữa Ngân hàng thương mại Cổ phần Sài Gòn Thương Tín và bà Đặng Bạch M đủ cơ sở để xác định Ngân hàng phát hành thẻ tín dụng nội địa Family 970403-3339, hạn mức sử dụng là 50.000.000 đồng, hình thức đảm bảo là tín chấp cho bà Đặng Bạch M. Việc cấp thẻ này được thực hiện theo Điều kiện và điều khoản phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng có hiệu lực từ ngày 01 tháng 6 năm 2010 và được niêm yết tại trang web của nguyên đơn. Căn cứ vào Điều 407, Điều 471 của Bộ luật Dân sự năm 2005; điểm d khoản 3 Điều 98 Luật các Tổ chức tín dụng đây là loại hợp đồng theo mẫu được ký kết đúng theo quy định của pháp luật.
Căn cứ Tóm tắt sao kê và lời trình bày của đại diện nguyên đơn thì trong quá trình sử dụng thẻ tín dụng, bị đơn đã thực hiện các giao dịch với tổng số tiền là 649.827.910 đồng và phát sinh các khoản phí thường niên, phí rút tiền mặt, phí trễ hạn và tiền lãi. Từ tháng 05 năm 2012 đến ngày 22 tháng 3 năm 2019, bị đơn đã thanh toán nhiều lần tổng cộng số tiền là 634.975.736 đồng được trừ vào các khoản phát sinh (Phí, tiền lãi) và tiền giao dịch, thứ tự thanh toán căn cứ theo Điều 20 của Điều kiện và điều khoản phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng. Trong thời gian này, bị đơn không khiếu nại các thông báo giao dịch, tiền lãi và dư nợ hàng tháng mà vẫn đóng tiền.
Căn cứ Điều 23 của Điều kiện và điều khoản phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng có nội dung: “Việc không thanh toán ít nhất số tiền tối thiểu của chủ thẻ cho đến kỳ phát hành thông báo tiếp theo sẽ tạo nên sự vi phạm theo hợp đồng. Trong trường hợp này, toàn bộ tổng dư nợ sẽ trở nên đến hạn ngay lập tức và chủ thẻ phải thanh toán”. Ngày 22 tháng 3 năm 2019, bị đơn thanh toán số tiền 6.500.000 đồng vào tài khoản thẻ tín dụng nội địa Family 970403-3339 sau đó không thanh toán bất cứ khoản nào. Ngân hàng đã gửi công văn nhắc nợ vào ngày 16 tháng 4 năm 2019 thông báo bị đơn đã vi phạm Điều kiện và điều khoản phát hành và sử dụng thẻ tín dụng.
Xét, căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 95 của Luật Các tổ chức tín dụng, Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng ngày 29/3/2012, Điều kiện và điều khoản phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng, yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn yêu cầu bị đơn thanh toán nợ gốc của thẻ tín dụng nội địa Family 970403-3339 có cơ sở chấp nhận.
Xét yêu cầu của nguyên đơn yêu cầu bị đơn thanh toán nợ lãi quá hạn tính đến ngày 09 tháng 9 năm 2020 và tiền lãi phát sinh từ ngày 10 tháng 9 năm 2020 cho đến khi trả hết nợ theo lãi suất thỏa thuận trong hợp đồng:
Số tiền gốc được chuyển thành nợ quá hạn của thẻ tín dụng nội địa Family 970403-3339 là 53.860.806 đồng bao gồm các giao dịch, phí trễ hạn, lãi, phí rút tiền, phí thường niên được tính đúng theo thỏa thuận của hai bên.
Do bị đơn vi phạm nghĩa vụ thanh toán nên nguyên đơn đã chấm dứt quyền sử
dụng thẻ của bị đơn, chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu của thẻ tín dụng nội địa Family 970403-3339 sang nợ quá hạn từ ngày 22 tháng 5 năm 2019 và tiến hành thu hồi nợ vay là đúng theo thỏa thuận của hợp đồng và quy định của Luật Các tổ chức tín dụng.
Tại Thông báo số 314/TB-TTT ngày 22 tháng 5 năm 2012 của nguyên đơn về việc thay đổi lãi suất thẻ tín dụng Family thì mức lãi suất là 2,5%/tháng.
Xét, theo quy định tại khoản 14 Điều 4 và khoản 2 Điều 91 của Luật Các tổ chức tín dụng, Thông tư số 12/2010/TT-NHNN ngày 14 tháng 4 năm 2010 của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam về hướng dẫn tổ chức tín dụng cho vay bằng đồng Việt Nam đối với khách hàng theo lãi suất thỏa thuận thì tổ chức tín dụng và khách hàng có quyền thỏa thuận về lãi suất, phí cấp tín dụng trong hoạt động ngân hàng của tổ chức theo quy định của pháp luật. Mức lãi suất của nguyên đơn thỏa thuận với bị đơn phù hợp với các quy định của pháp luật nên được chấp nhận.
Từ những nhận định trên, yêu cầu của nguyên đơn yêu cầu bị đơn thanh toán số tiền 32.047.176 đồng là nợ lãi quá hạn từ ngày 22 tháng 5 năm 2019 đến ngày 09 tháng 9 năm 2020 của thẻ tín dụng nội địa Family 970403-3339 là có cơ sở chấp nhận. Ngoài ra, bị đơn còn phải chịu tiền lãi phát sinh trên số tiền nợ gốc từ ngày 10 tháng 9 năm 2020 theo các Điều 22, 23 của Điều kiện và điều khoản phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng cho đến khi thanh toán hết nợ.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Phú Nhuận, Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu ý kiến việc giải quyết vụ án:
Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc bị đơn phải có nghĩa vụ thanh toán cho nguyên đơn tổng số tiền là 85.907.982 đồng, trong đó nợ gốc là 53.860.806 đồng, nợ lãi quá hạn là 32.047.176 đồng ngay khi bản án có hiệu lực pháp luật.
Án phí:
Nguyên đơn không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.
Bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 4.295.400 đồng theo quy định tại khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Quyền kháng cáo: Đương sự có quyền kháng cáo theo quy định tại Điều 271 và khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 228, Điều 147, Điều 271, khoản 1 Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ Điều 407, Điều 471 Bộ luật Dân sự năm 2005;
Căn cứ khoản 14 Điều 4, khoản 2 Điều 91, khoản 1 Điều 95 và điểm d khoản 3 Điều 98 Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010;
Căn cứ Luật phí và lệ phí năm 2015 và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án ngày 30 tháng 12 năm 2016;
Căn cứ Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2014).
Tuyên xử:
1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn – Ngân hàng Thương mại Cổ phần Sài Gòn Thương Tín.
Buộc bà Đặng Bạch M có nghĩa vụ thanh toán cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần Sài Gòn Thương Tín tổng số tiền là 85.907.982 (Tám mươi lăm triệu chín trăm lẻ bảy nghìn chín trăm tám mươi hai đồng). Trong đó nợ gốc là 53.860.806 (Năm mươi ba triệu tám trăm sáu mươi nghìn tám trăm lẻ sáu đồng) và nợ lãi quá hạn từ ngày 22 tháng 5 năm 2019 đến ngày 09 tháng 9 năm 2020 là 32.047.176 (Ba mươi hai triệu không trăm bốn mươi bảy nghìn một trăm bảy mươi sáu đồng) theo Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng ngày 29 tháng 3 năm 2012.
Thi hành một lần ngay khi bản án có hiệu lực pháp luật.
2. Án phí dân sự sơ thẩm:
Bà Đặng Bạch M phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 4.295.400 (Bốn triệu hai trăm chín mươi lăm nghìn bốn trăm đồng).
Ngân hàng Thương mại Cổ phần Sài Gòn Thương Tín không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. Hoàn trả cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần Sài Gòn Thương Tín số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp là 1.419.000 (Một triệu bốn trăm mười chín nghìn đồng) theo biên lai thu tạm ứng án phí số 0042099 ngày 20 tháng 8 năm 2019 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Phú Nhuận, Thành phố Hồ Chí Minh.
3. Nghĩa vụ thi hành án:
Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất các bên thỏa thuận tại Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng ngày 29 tháng 3 năm 2012 và Điều kiện và điều khoản phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng Thương mại Cổ phần Sài Gòn Thương Tín có hiệu lực từ ngày 01 tháng 6 năm 2010 nhưng phải phù hợp với quy định của pháp luật; nếu không có thỏa thuận về mức lãi suất thì quyết định theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án Dân sự năm 2008 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2014) thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án Dân sự năm 2008 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2014); thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án Dân sự năm 2008 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2014).
4. Quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc tống đạt hợp lệ.
| Nơi nhận: - TAND TP.HCM; - VKSND quận Phú Nhuận; - CC THADS quận Phú Nhuận; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Lê Hoàng Yến |