- Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Đức X tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BL…"
- Tòa quyết gì? [1] Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Trần Đức X phạm tội " Tàng trữ trái phép chất ma túy"
- Căn cứ chính? Luật Phí và lệ phí; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN TỈNH THÁI NGUYÊN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 610/2022/HS-ST Ngày: 29-12-2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN, TỈNH THÁI NGUYÊN
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Chu Thị Bích Hiền
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Chu Văn Hùng
Ông Nguyễn Đức Trường Kháng
Thư ký phiên tòa: Ông Đinh Ngọc Minh -Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Quỳnh Anh - Chức vụ: Kiểm sát viên.
Hôm nay, ngày 29 tháng 12 năm 2022, tại hội trường Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 610/2022/TLST-HS ngày 30 tháng 11 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 506/2022/QĐXXST-HS ngày 05 tháng 12 năm 2022 đối với bị cáo:
Trần Đức X (tên gọi khác: không), sinh ngày 12/01/1970, tại Thái Nguyên. Nơi thường trú: xóm Q, xã C, TPTN, tỉnh Thái Nguyên; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ học vấn: 07/10; dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: không; Giới tính: Nam; Con ông: Trần Đức T (đã chết) và bà Ngô Thị Ng (đã chết); Gia đình có 11 anh chị em, bị cáo là con thứ năm; Vợ: Nguyễn Thị Vg, sinh năm 1972, bị cáo có 02 con chung, con lớn sinh năm 2002, con nhỏ sinh năm 2005; Tiền sự: không
Tiền án: 01- Tại bản án số 85/2021/HSST ngày 30/3/2021 Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên xử phạt 18 (mười tám) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, đã chấp hành xong hình phạt tù ngày 17/3/2022
Nhân thân: 02
- Tại bản án số 52/HSST ngày 30/12/1999 Tòa án nhân dân huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên xử phạt 26 tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”, phạt bổ sung 20.000.000 đồng và 50.000 án phí hình sự sơ thẩm đã nộp án phí và hình phạt bổ sung ngày 12/5/2020, chấp hành xong hình phạt tù ngày 18/01/2001;
-Tại Quyết định số 7584/QĐ-CT ngày 28/10/2010 của Chủ tịch Ủy ban hân dân thành phố Thái Nguyên V/v Đưa người nghiện ma túy vào chữa bệnh, lao động, học tập tại Trung tâm Chữa bệnh- Giáo dục- Lao động xã hội tỉnh Thái Nguyên, thời hạn 12 tháng, chấp hành xong ngày 07/11/2011.
Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 22/9/2022 đến nay, hiện bị cáo bị tạm giam tại Trại tạm giam công an tỉnh Thái Nguyên (có mặt tại phiên tòa).
*Người làm chứng:
1) Chị Nguyễn Thị Vg, sinh năm 1970 (có mặt)
Nơi thường trú: xóm Q, xã C, TPTN, tỉnh Thái Nguyên
2) Chị Vương Thị Th, sinh năm 1970 (vắng mặt)
Nơi thường trú: xóm Q, xã C, TPTN, tỉnh Thái Nguyên
*Người chứng kiến: ông Bùi Đình T, sinh năm 1956 ( vắng mặt)
Nơi thường trú: tổ X, phường TL, TPTN, tỉnh Thái Nguyên.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, quá trình xét hỏi và tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 11 giờ 30 ngày 22/9/2022, Trần Đức X điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 20M2-73xx từ nhà đến khu vực tổ 8, phường Tân Long, thành phố Thái Nguyên để tìm mua ma túy sử dụng cho bản thân, khi đến nơi X thấy có người đàn ông không quen biết có biểu hiện sử dụng ma túy nên hỏi mua 100.000 đồng ma túy, được người đàn ông đưa cho 01 gói giấy bạc màu trắng. Sau khi nhận gói giấy bạc màu trắng bị cáo cầm trong lòng bàn tay trái định điều khiển xe đi tìm nơi sử dụng, thì bị tổ công tác Công an phường Tân Long thấy nghi vấn yêu cầu kiểm tra. Quá trình kiểm tra, bị cáo tự giác đưa gói giấy bạc màu trắng cầm trong lòng bàn tay trái ra giao nộp, đồng thời khai nhận là ma túy vừa mua để sử dụng, tổ công tác đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ vật chứng. Cùng ngày Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Thái Nguyên tiến hành cân xác định: số chất bột màu trắng thu giữ của Trần Đức X có khối lượng là 0,116 gam, niêm phong ký hiệu X1 gửi giám định, ngoài ra cơ quan điều tra còn thu giữ xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, màu đen xám biển kiểm soát 20M2-73xx.
Tại bản Kết luận giám định số 1516/KL-KTHS ngày 30/9/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Nguyên kết luận: Chất bột màu trắng trong phong bì ký hiệu X1 gửi giám định là chất ma túy, loại Heroine (Heroin), khối lượng thu giữ ban đầu là 0,116 gam.
Tại bản Cáo trạng số 600/CT-VKSTPTN ngày 28 tháng 11 năm 2022 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên truy tố bị cáo Trần Đức X về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự 2015.
Tại phiên tòa bị cáo thừa nhận do nghiện ma túy nên đi mua ma túy về sử dụng cho bản thân, thừa nhận lực lượng công an kiểm tra, lập Biên bản bắt người phạm tội quả tang và thu giữ số ma túy như nội dung bản Cáo trạng đã truy tố là đúng.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên luận tội bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Trần Đức X phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 ; Điều 38 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Trần Đức X từ 18-24 tháng tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy 02 bì niêm phong ký hiệu X1, X2. Căn cứ Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, Nghị quyết 326/2016 ngày 30/12/2016 của UBTVQH 14 Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật
Phần tranh luận bị cáo không có tranh luận gì, tại lời nói sau cùng bị cáo nhận thức được hành vi vi phạm của mình, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo hưởng mức án nhẹ nhất
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
Về thủ tục tố tụng:
1.1 Đối với hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Thái Nguyên, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
1.2 Về xác định tư cách người tham gia tố tụng: Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên xác định chị Nguyễn Thị Vg là người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, tuy nhiên ngày 22/10/2022 cơ quan điều tra đã trả lại chiếc xe mô tô BKS 20M2-73xx cho chị Vượng quản lý sử dụng, tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến, khiếu nại gì do đó Hội đồng xác định lại tư cách tham gia tố tụng của chị Vượng là người làm chứng.
Nhận định của Hội đồng xét xử về hành vi phạm tội của bị cáo:
Lời khai nhận tội của bị cáo Trần Đức X tại phiên tòa là khách quan, phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra và các chứng cứ, tài liệu khác đã thu thập có trong hồ sơ vụ án như biên bản bắt người phạm tội quả tang, phù hợp với lời khai của người chứng kiến sự việc, phù hợp với vật chứng thu giữ và Kết luận giám định của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Nguyên về số chất bột màu trắng thu giữ của bị cáo là Heroine. Như vậy, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở xác định: Khoảng 11 giờ 30 ngày 22/9/2022, Trần Đức X điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 20M2-73xx đến khu vực đường dân sinh phường Tân Long, thành phố Thái Nguyên hỏi mua của một người đàn ông không quen biết 100.000 đồng được 01 gói giấy bạc màu trắng chứa ma túy, sau khi mua ma túy bị cáo cầm trong lòng bàn tay trái định điều khiển xe tìm nơi sử dụng thì gặp tổ công tác Công an phường Tân Long thấy nghi vấn yêu cầu kiểm tra. Quá trình kiểm tra bị cáo tự giác giao nộp gói ma túy, khai nhận vừa mua để sử dụng, tổ công tác đã niêm phong gói ma túy theo quy định, cùng ngày cơ quan cảnh sát điều tra công an thành phố Thái Nguyên tiến hành cân kiểm tra trọng lượng xác định chất bột màu trắng có khối lượng 0,116 gam qua giám định là ma túy loại Heroine.
Với hành vi mua 0,116 gam Heroine cất giữ với mục đích để sử dụng hành vi của bị cáo đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự 2015.
Xét tính chất vụ án là nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, hành vi của bị cáo đã xâm phạm quyền quản lý, sử dụng độc quyền của Nhà nước về các chất ma túy, là nguyên nhân phát sinh nhiều tệ nạn và tội phạm khác. Tệ nạn ma túy là hiểm họa lớn cho toàn xã hội, hành vi của bị cáo không chỉ hủy hoại sức khỏe của bản thân, làm suy thoái giống nòi, làm khánh kiệt kinh tế, phá hoại hạnh phúc gia đình mà còn gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến trật tự an toàn xã hội.
Xét nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, Hội đồng xét xử nhận thấy: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, bị cáo phạm tội lần này thuộc trường hợp tái phạm là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự. Xét bị cáo có nhân thân xấu nhiều lần bị xét xử và đưa đi chữa bệnh, lao động và học tập liên quan đến ma túy, sau khi chữa bệnh và cải tạo không lấy đó làm bài học để tu dưỡng, rèn luyện, bản thân bị cáo nhận thức được tác hại của ma túy tuy nhiên vẫn không từ bỏ ma túy lại tiếp tục lao vào con đường phạm tội do đó cần phải xét xử nghiêm khắc buộc phải cách ly xã hội một thời gian để cải tạo giáo dục bị cáo, đồng thời răn đe phòng chống tội phạm chung.
Hình phạt bổ sung: Ngoài hình phạt chính theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự bị cáo còn phải chịu hình phạt bổ sung “phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng....tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản”. Bị cáo là đối tượng nghiện, không có nghề nghiệp ổn định, mua ma túy với mục đích để sử dụng nên Hội đồng xét xử xem xét không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Xử lý vật chứng:
7.1 Đối với bì niêm phong ký hiệu X1, X2 bên trong chứa ma túy và phong bì niêm phong ban đầu là vật cấm tàng trữ, lưu hành và không có giá trị sử dụng bị tịch thu tiêu hủy.
7.2 Đối với xe mô tô Honda Wave, biển kiểm soát 20M2-73xx thu giữ của bị cáo, quá trình điều tra xác định chủ sở hữu là chị Vương Thị Th, sinh năm 1970, nơi thường trú: xóm Q, xã C, TPTN, tỉnh Thái Nguyên đăng ký lần đầu 17/3/2008. Chị Th xác định đã bán chiếc xe cho chị Nguyễn Thị Vg (vợ bị cáo) ngày 15/9/2022. Ngày 22/10/2022 Cơ quan điều tra tiến hành trả chiếc xe mô tô cho chị Nguyễn Thị Vg quản lý sử dụng nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm, bị cáo được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Về nguồn gốc Heroin bị thu giữ: Trần Đức X khai mua của một người đàn ông không quen biết tại khu vực phường Tân Long quá trình điều tra không xác định được lai lịch, địa chỉ của người này nên chưa có căn cứ xem xét.
Mức án mà đại diện Viện kiểm sát đề nghị tại phiên tòa đối với bị cáo là phù hợp được chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
Căn cứ Điều 326 Bộ luật tố tụng hình sự
QUYẾT ĐỊNH
[1] Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Trần Đức X phạm tội " Tàng trữ trái phép chất ma túy"
[2] Về hình phạt: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự 2015.
Xử phạt: Trần Đức X 24 (Hai mươi bốn) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 22/9/2022.
Căn cứ Điều 329 Bộ luật tố tụng hình sự, Quyết định tạm giam bị cáo Trần Đức X 45 (Bốn mươi năm) ngày kể từ ngày tuyên án để đảm bảo thi hành án
[3] Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
[4] Xử lý vật chứng vụ án: Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; căn cứ khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự. Tịch thu tiêu hủy:
- 01 bì niêm phong đúng quy định ký hiệu X1, hoàn trả 0,102 gam mẫu X1 còn lại sau giám định và vỏ bao gói mẫu, mặt sau bì có 02 dấu tròn đỏ của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Nguyên có chữ ký của Hoàng Mạnh Thái và Nguyễn Thành Trung.
- 01 bì niêm phong đúng quy định ký hiệu X2- bì ban đầu, mặt sau bì có 03 dấu tròn của Cơ quan CSĐT Công an TP Thái Nguyên có chữ ký của Nguyễn Quang Kha, Nguyễn Hữu Hùng, Hoàng Ngọc Nhất, Bùi Đình T và Trần Đức X.
(Tình trạng vật chứng như Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản số 169 lập ngày 02/12/2022 giữa Công an thành phố Thái Nguyên và Chi cục thi hành án dân sự thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên).
[5] Về án phí sơ thẩm: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Luật phí và lệ phí số 97/2015/QH 13 ngày 25/11/2015; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Bị cáo Trần Đức X phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm sung ngân sách nhà nước.
[6] Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự.
Bị cáo Trần Đức X có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận - TAND tỉnh Thái Nguyên. - VKSND tỉnh Thái Nguyên. - VKSND thành phố Thái Nguyên. - Công an thành phố Thái Nguyên. - THADS thành phố Thái Nguyên. - Trại tạm giam công an tỉnh TN. - Thi hành án hình sự; - Bị cáo. - Lưu HS,VP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Chu Thị Bích Hiền |