- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Hôn nhân gia đình"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu của ông Huỳnh Văn G.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 26 Luật Thi hành án dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 610/2020/HNGĐ-ST Ngày: 22/7/2020 V/v: “Tranh chấp về ly hôn”. |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Vũ Thị Thanh Hương.
- Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Nguyễn Phước Trinh;
2. Bà Phạm Thị Ngọc.
- Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Trang, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Huyền, Kiểm sát viên.
Trong ngày 22 tháng 7 năm 2020 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 1525/2019/TLST-HNGĐ ngày 25 tháng 12 năm 2019 về việc: “Tranh chấp về ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 162/2020/QĐXXST-HNGĐ ngày 10 tháng 6 năm 2020 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 147/2020/QĐST-HNGĐ ngày 01 tháng 7 năm 2020, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Huỳnh Văn G, sinh năm 1978 (có mặt).
Thường trú: Số 336/8B, đường T, ấp B, xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Bị đơn: Bà Lê Thúy H, sinh năm 1995 (vắng mặt).
Thường trú: Tổ 5, ấp 1, xã H, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Theo Đơn xin ly hôn ngày 27/11/2019 và tại phiên tòa, nguyên đơn ông Huỳnh Văn G trình bày sự việc như sau:
Ông (Huỳnh Văn G) và bà Lê Thúy H kết hôn năm 2018, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện C, Giấy chứng nhận kết hôn số 97 ngày 15/10/2018.
- 1 -
Sau khi kết hôn, vợ chồng ông sống tại nhà riêng của ông (tài sản riêng của ông). Quá trình chung sống, vợ chồng không có sự đồng cảm, thường xuyên cãi nhau do bất đồng quan điểm, vợ ông không lo làm ăn, chỉ lo cờ bạc dẫn đến gây nợ nần nhìều lần. Ông có khuyên can nhưng vợ ông vẫn không thay đổi. Vợ ông bỏ nhà đi và vợ chồng sống ly thân hơn 01 năm nay.
Vì tình cảm vợ chồng không còn, không thể hàn gắn nên ông xin được ly hôn với bà H.
Về con chung: Không có.
Về tài sản chung: Không có.
Về nghĩa vụ dân sự chung: Không có.
- Trong suốt quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa hôm nay, bị đơn bà Lê Thúy H không có mặt nên không có lời khai của bà H.
- Đại diện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:
+ Về tố tụng:
Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán và Hội đồng xét xử vụ án, Thư ký phiên tòa trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án: Từ khi thụ lý vụ án cho đến khi xét xử tại phiên tòa hôm nay, Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án cũng như Hội đồng xét xử sơ thẩm và Thư ký tại phiên tòa đã tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự về việc xét xử sơ thẩm vụ án.
Việc tuân theo pháp luật tố tụng của người tham gia tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án: Người tham gia tố tụng đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
+ Ý kiến về việc giải quyết vụ án:
Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điều 51, khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình, chấp nhận yêu cầu của ông Huỳnh Văn G được ly hôn bà Lê Thúy H.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ thu thập được có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng:
Đây là vụ kiện: “Tranh chấp về ly hôn” được quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Bị đơn trong vụ kiện bà Lê Thúy H hiện có địa chỉ tại huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh nên căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 35,
- 2 -
điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh.
Tại phiên tòa, không có mặt bị đơn bà Lê Thúy H mà không rõ lý do nên căn cứ khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt bà H.
Về nội dung:
Xét yêu cầu của nguyên đơn ông Huỳnh Văn G về việc yêu cầu ly hôn với bị đơn bà Lê Thúy H, Hội đồng xét xử nhận định:
- Về quan hệ hôn nhân:
Ông (Huỳnh Văn G) và bà Lê Thúy H kết hôn năm 2018, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện C, Giấy chứng nhận kết hôn số 97 ngày 15/10/2018, nên là hôn nhân hợp pháp và được pháp luật thừa nhận.
Tại đơn xin ly hôn cũng như tại phiên tòa, nguyên đơn ông Huỳnh Văn G cho rằng sau khi kết hôn, vợ chồng ông sống tại nhà riêng của ông. Quá trình chung sống, vợ cH không có sự đồng cảm, thường xuyên cãi nhau do bất đồng quan điểm, vợ ông không lo làm ăn, chỉ lo cờ bạc dẫn đến gây nợ nần nhìều lần. Ông có khuyên can nhưng vợ ông vẫn không thay đổi. Vợ ông bỏ nhà đi và vợ chồng sống ly thân hơn 01 năm nay.Vì tình cảm vợ chồng không còn, không thể hàn gắn nên ông xin được ly hôn với bà H.
Xét thấy, vợ chồng phải có nghĩa vụ sống chung với nhau, thương yêu, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau, cùng nhau chia sẻ, tạo dựng hạnh phúc gia đình, nhưng cuộc sống vợ chồng giữa ông G và bà H có nhiều mâu thuẫu, sống ly thân hơn 01 năm nay. Tại phiên tòa, ông G cương quyết xin ly hôn với bà H vì không còn tình cảm vợ chồng, không thể hàn gắn được nữa. Mặt khác, tại phiên tòa hôm nay, bà H cũng không có mặt mà không có lý do, điều này thể hiện bà H không có thiện chí trong việc hàn gắn tình cảm vợ chồng với ông G.
Từ phân tích trên, có đủ cơ sở xác định hôn nhân giữa ông G và bà H không còn hạnh phúc, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên Hội đồng xét xử quyết định áp dụng khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình, chấp nhận yêu cầu ông G là có cơ sở.
- Về con chung:
Ông G khai không có con chung nên Hội đồng xét xử không xét.
- Tài sản chung:
Ông G khai không có tài sản chung nên Hội đồng xét xử không xét.
- Về nghĩa vụ dân sự chung:
Ông G khai không có nợ chung nên Hội đồng xét xử không xét.
Về án phí:
- 3 -
Ông G phải nộp tiền án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 và Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/10/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Áp dụng khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 3 Điều 228, Điều 271, khoản 1 Điều 273, Điều 278, Điều 280 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
- Áp dụng Điều 51, khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình;
- Áp dụng Điều 6, 7, 26, 30, 31, 32 của Luật Thi hành án dân sự năm 2008;
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu của ông Huỳnh Văn G.
- Về quan hệ hôn nhân:
Ông Huỳnh Văn G được quyền ly hôn với bà Lê Thúy H.
Giấy chứng nhận kết hôn số 97 ngày 15/10/2018 do Ủy ban nhân dân xã T, huyện C cấp cho ông Huỳnh Văn G và bà Lê Thúy H không còn giá trị pháp lý.
- Về con chung:
Ông G khai không có con chung.
- Về tài sản chung:
Ông G khai không có tài sản chung.
- Về nghĩa vụ dân sự chung:
Ông G khai không có nghĩa vụ dân sự chung.
2. Về án phí:
Án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm buộc ông G phải nộp là 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) theo biên lai số 0083181 ngày 25/12/2019 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện C, ông G đã nộp đủ tiền án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.
Thi hành tại cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền.
3. Đương sự có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; đương sự vắng mặt tại phiên tòa (bà Lê Thúy H) được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết.
- 4 -
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án.
| Nơi nhận: - TAND TP. HCM; - VKSND H. C; - Chi cục THADS H. C; - UBND xã T, H. C; - Các đương sự; - Lưu. - 5 - | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠTHẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Vũ Thị Thanh Hƣơng |