vanban.org

Bản án 61

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

* Căn cứ: Điểm c, d khoản 2 Điều 257 Bộ luật hình sự năm 1999, điểm p khoản 1, khoản 2 Điều 46, Điều 33 Bộ luật hình sự năm 1999; Nghị quyết số 41/2017, ngày 20/6/2017 của Quốc hội về thi hành Bộ luật hình sự số 100/2015/QH13 đã sửa đổi, bổ sung.

* Tuyên bố: Nguyễn Khắc L (tức Nguyễn Văn L) phạm tội: “Chống người thi hành công vụ” * Xử phạt: Nguyễn Khắc L (tức Nguyễn Văn L) 24 (hai bốn) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt giam thi hành án hoặc tự nguyện thi hành án. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? "vụ án hình sự số 61/2023-HSST ngày 22-6-2023 của TAND thị xã Nghi Sơn - phạm tội chống người thi hành công vụ (điều 257 Bộ luật hình sự năm…"
  • Tòa quyết gì? * Căn cứ: Điểm c, d khoản 2 Điều 257 Bộ luật hình sự năm 1999, điểm p khoản 1, khoản 2 Điều 46, Điều 33 Bộ luật hình sự năm 1999; Nghị quyết số 41/2017, ngày 20/6/2017 của Quốc hội về thi hành Bộ luật hình sự số 100/2015/QH13 đã sửa đổi, bổ sung.
  • Căn cứ chính? Điều 257 Bộ luật Hình sự; Điều 46 Bộ luật Hình sự; Nghị quyết số 100/2015/QH13 Phê duyệt chủ trương đầu tư các…
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ N
TỈNH THANH HOÁ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 61/2023-HSST
Ngày: 22-6-2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ N - TỈNH T

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông: Mai Đình Thuận

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông: Nguyễn Văn Hải

Ông: Mai Đức Danh

- Thư ký phiên toà: Ông: Phạm Viết Chiến - Thư ký Toà án nhân dân thị xã N - T.

Đại diện VKSND Thị xã N tham gia phiên toà:

Ông: Phạm Xuân Thảnh - chức vụ: Kiểm sát viên

Ngày 22/6/2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân, thị xã N, tỉnh T xét xử công khai sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 55/2023/HSST ngày 30/ 5/2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 67/2023/QĐXXST-HS ngày 09/6/2023 đối với bị cáo:

Họ và tên: Nguyễn Khắc L (tên gọi khác: Nguyễn Văn L); Sinh năm 1980, tại phường Hải Thượng, thị xã N, tỉnh T; Nơi cư trú: Tổ dân phố Liên Sơn, phường Hải Thượng, thị xã N, tỉnh T; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 1/12; Giới tính: Nam; Tôn giáo: không; Dân tộc: kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Nguyễn Khắc Lưu và bà: Nguyễn Thị Loan; Vợ: Lê Thị Loan; Có 02 con; lớn sinh năm 2008, nhỏ sinh năm 2012; Tiền án, tiền sự: Không;

Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn bảo lĩnh từ 21/4/2023 cho đến nay. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

* Nguyên đơn dân sự: Công ty cổ phần LIGOCI 16.9

Địa chỉ: phường Hải Thượng, thị xã N, tỉnh T.

- Người đại diện: Ông Bùi Văn Hưởng - Phó tổng giám đốc. Trú tại: phường Hải Thượng, thị xã N, tỉnh T

* Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

- Công an huyện TG (nay là thị xã N)

Người đại diện theo pháp luật: Ông Trịnh Văn Giang – Trưởng Công an thị xã N, tỉnh T.

- Ông Ngô Văn Hưng – Sinh năm 1976 Công tác: Đồn biên phòng cửa khẩu cảng N, tỉnh T.

- Ông Lê Huy Thắng - Sinh năm 1985 Đơn vị công tác: Cán bộ Công an thị xã N

* Người làm chứng:

- Ông Lê Thanh Lối – Sinh năm 1936 Trú tại: TDP Liên Sơn, phường Hải Thượng, thị xã N, tỉnh T.

- Ông Phạm Văn Chuyên – Sinh năm 1944 Trú tại: TDP Liên Sơn, phường Hải Thượng, thị xã N, tỉnh T.

- Ông Lê Khắc Lưu – Sinh năm 1954 Trú tại: TDP Liên Sơn, phường Hải Thượng, thị xã N, tỉnh T.

- Anh Nguyễn Quốc Dũng – Sinh năm 1984 Trú tại: TDP Liên Sơn, phường Hải Thượng, thị xã N, tỉnh T.

- Ông Hoàng Văn Thụ - Nguyên chủ tịch UBND xã hải Thượng

- Ông Hoàng Văn Chung – Nguyên trưởng Công an xã Hải Thượng

- Ông Lại Văn Thơi (Nguyên chủ tịch MTTQ xã Hải Thượng

- Ông Nguyễn Hữu Hội – Nguyên bí thư chi đoàn thôn Liên Sơn, xã Hải Thượng.

- Ông Nguyễn Hữu Trinh - Cán bộ Công an thị xã N

- Chị Hồ Thị Vân – Sinh năm 1987 Trú tại: TDP Liên Sơn, phường Hải Thượng, thị xã N, tỉnh T.

- Chị Lê Thị Hằng – Sinh năm 1984 Trú tại: TDP Liên Sơn, phường Hải Thượng, thị xã N, tỉnh T.

- Anh Cao Khả Kha - Sinh năm 1973 Trú tại: TDP Liên Sơn, phường Hải Thượng, thị xã N, tỉnh T.

- Chị Nguyễn Thị Thanh - Sinh năm 1979 Trú tại: TDP Liên Sơn, phường Hải Thượng, thị xã N, tỉnh T.

- Anh Nguyễn Văn Sỹ - Sinh năm 1987 Trú tại: TDP Liên Sơn, phường Hải Thượng, thị xã N, tỉnh T.

- Anh Nguyễn Bá Trưởng – Sinh năm 1975 Trú tại: TDP Liên Sơn, phường Hải Thượng, thị xã N, tỉnh T.

- Chị Lê thị Phượng - Sinh năm 1971 Trú tại: TDP Liên Sơn, phường Hải Thượng, thị xã N, tỉnh T.

- Chị Phạm Thị Khuyên – Sinh năm 1971 Trú tại: TDP Liên Sơn, phường Hải Thượng, thị xã N, tỉnh T.

- Anh Nguyễn Khắc Thắng – Sinh năm 1991 Trú tại: TDP Liên Sơn, phường Hải Thượng, thị xã N, tỉnh T.

- Bà Lê Thị Diễn – Sinh năm 1960 Trú tại: TDP Liên Sơn, phường Hải Thượng, thị xã N, tỉnh T.

`- Anh Nguyễn Đình Thanh – Sinh năm 1987 Trú tại: TDP Liên Sơn, phường Hải Thượng, thị xã N, tỉnh T.

- Ông Nguyễn Tiến Khoa – Sinh năm 1955 Trú tại: TDP Liên Sơn, phường Hải Thượng, thị xã N, tỉnh T.

- Chị Nguyễn Thị Oanh – Sinh năm 1975 Trú tại: TDP Liên Sơn, phường Hải Thượng, thị xã N, tỉnh T.

- Anh Nguyễn Hữu Quyết – Sinh năm 1971 Trú tại: TDP Liên Sơn, phường Hải Thượng, thị xã N, tỉnh T.

- Bà lê Thị Tăng – Sinh năm 1955 Trú tại: TDP Liên Sơn, phường Hải Thượng, thị xã N, tỉnh T.

- Ông Nguyễn Bá Liêm Trú tại: TDP Cao Bắc, phường Hải Thượng, thị xã N, tỉnh T.

- Anh Nguyễn Văn Dũng - Sinh năm 1977 Trú tại: TDP Liên Sơn, phường Hải Thượng, thị xã N, tỉnh T.

- Anh Hồ Văn Dương – Sinh năm 1987 – Cán bộ Công an thị xã N

- Anh Trịnh Vĩnh Phong – Sinh năm 1983 – Công an thị xã N

- Ông Hà Văn Trọng – Sinh năm 1962 – Cán bộ Công an thị xã N

- Anh Phạm phi Hùng – Sinh năm 1981- Cán bộ Công an thị xã N

- Anh Lê Ngọc Anh – Sinh năm 1980 – Cán bộ Công an thị xã N

- Ông Vũ Đăng Tuần – Sinh năm 1960 – Cán bộ Công an thị xã N

(Nguyên đơn dân sự, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người làm chứng vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Thực hiện Quyết định 2376/QĐ-UBND ngày 04/8/2008 của UBND tỉnh Thanh Hoá về việc phê duyệt quy hoạch chi tiết xây dựng khu công nghiệp L kim - Khu kinh tế N, ngày 29/7/2009, Công ty cổ phần LICOGI 16.9 đã tiến hành thi công kè ta luy chân cột điện cao thế 110KV tại địa bàn thôn Liên Sơn, xã Hải Thượng, huyện TG (nay là tổ dân phố Liên Sơn, phường Hải Thượng, thị xã N), thì bị Lê Thanh Lối (sinh năm 1936), Phạm Huy Chuyên (sinh năm 1944), Nguyễn Quốc Dũng (sinh năm 1984), Nguyễn Khắc Lưu (1955) và một số người dân đều trú tại thôn Liên Sơn, xã Hải Thượng, huyện TG (nay là tổ dân phố Liên Sơn, phường Hải Thượng, thị xã N) cản trở không cho thi công.

Để đảm bảo an ninh trật tự, Đồn Biên phòng cửa khẩu cảng N đã thành lập tổ công tác theo Quyết định số 80/QĐ-ĐBP ngày 28/7/2009 của Đồn trưởng Đồn Biên phòng cửa khẩu cảng N phối hợp với Đồn Công an N và Công an huyện TG (nay là Công an thị xã N) đảm bảo an ninh trật tự cho việc thi công xây dựng cột điện 110KV thuộc dự án L kim tại thôn Liên Sơn, xã Hải Thượng, huyện TG.

Chiều ngày 29/7/2009, Nguyễn Khắc L (tức Nguyễn Văn L) đi uống rượu về đến đầu đường thôn Liên Sơn, xã Hải Thượng, huyện TG, nơi Công ty cổ phần LICOGI 16.9 đang thi công kề ta luy chân cột điện cao thế 110KV, tại đây L nhìn thấy rất nhiều người dân đang xô xát, hò hét chống đối lực lượng Công an, Biên phòng và cán bộ xã, đồng thời L nghe tin bố đẻ mình là ông Nguyễn Khắc Lưu bị bắt nên L đã đi theo đám đông hò hét, kích động người dân tham gia cản trở thi công dùng gạch đá ném vào lực lượng Công an, Biên phòng đang làm nhiệm vụ và L cầm một viên đá đập vào đầu anh Ngô Văn Hưng, thành viên Tổ công tác của Đồn Biên phòng cửa khẩu cảng N trong lúc anh Hưng đang giải thích cho nhân dân làm anh Hưng bị thương, xe ô tô GMC 36B - 1263 của Công an huyện TG bị hư hỏng móp méo, bong tróc sơn nhiều chỗ, lực lượng đảm bảo an ninh trật tự và công nhân buộc phải rời khỏi hiện trường thi công. Riêng xe ô tô của Công an huyện các đối tượng không cho đưa ra khỏi hiện trường mà thay nhau canh giữ. Sáng ngày 30/7/2009, L tiếp tục cùng một số đối tượng đến lán trọ của công nhân Công ty LICOGI 16.9 gây sức ép buộc công nhân phải mang thiết bị, xe, máy ra khỏi hiện trường thi công. Trong đó có anh Khiếu Đình Thành (trú tại thôn 12, xã Hà Vinh, huyện Hà Trung, tỉnh T), là công nhân lái máy xúc HITACHI bị các đối tượng ép buộc phải lái máy xúc về công ty. Khi anh Thành đi ra đến vị trí chiếc xe ôtô của Công an huyện TG, thì bị các đối tượng vây lại la ó, chửi bới và bắt anh Thành phải dùng máy xúc móc 8 ống cống trong hệ thống thoát nước của công trường lên rồi đập vỡ. Do quá hoảng sợ nên anh Thành phải làm theo, sau đó mới được các đối tượng cho lái máy xúc về công ty. Ngoài ra còn có anh Trịnh Văn Hoà (trú tại xã Cầu Lộc, huyện Hậu Lộc, tỉnh T) là lái máy xúc KOMASU 450 cũng bị một số đối tượng khác chặn lại, ép buộc anh Hoà dùng máy xúc móc 2 ống cống ra khỏi hệ thống thoát nước của công trường và dùng máy xúc đào rãnh hào xung quanh chiếc xe ôtô GMC 36B-1263 của Công an huyện TG để giữ chiếc xe lại.

Kết quả định giá tài sản xác định thiệt hại của Công ty LICOGI 16.9 do đoạn cống thoát nước, gồm 10 ống cống bị các đối tượng phá hủy trị giá 58.083.120 đồng.

Đối với các đối tượng Lê Thanh Lối, Phạm Huy Chuyên, Nguyễn Quốc Dũng và Nguyễn Khắc Lưu cũng có hành vi tham gia chống người thi hành công vụ, kích động người dân gây rối, cản trở Công ty LICOGI 16.9 thi công công trình đã được Tòa án nhân dân huyện TG xét xử tại Bản án hình sự sơ thẩm số 46/2010/HSST ngày 17/8/2010; hiện Bản án đã được thi hành xong.

Về trách nhiệm dân sự:

Anh Ngô Văn Hưng đã từ chối giám định và không yêu cầu bồi thường dân sự; Công an huyện TG cũng không yêu cầu bồi thường thiệt hại của chiếc xe ôtô GMC 36B - 1263 bị hư hỏng nên không xem xét.

Đối với tài sản của Công ty LICOGI 16.9 bị thiệt hại trị giá 58.083.120 đồng, Tại bản án HSST số 46/2010 ngày 17/8/2010 của Tòa án nhân dân huyện TG (nay là Tòa án nhân dân thị xã N) đã tách phần bồi thường dân sự đối với thiệt hại về tài sản của Công ty LICOGI 16.9 do không xác định được đối tượng trực tiếp gây thiệt hại.

Tại Bản cáo trạng số: 67/CT-VKSNS ngày 29/5/2023 của Viện kiểm sát nhân dân Thị xã N, tỉnh Thanh Hoá truy tố Nguyễn Khắc L (tức Nguyễn Văn L) về tội “ Chống người thi hành công vụ” quy định tại điểm c, d khoản 2 Điều 257 của Bộ luật Hình sự năm 1999;

Tại phiên toà đại diện VKS nhân dân thị xã N giữ quyền công tố giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

*Áp dụng Điểm c, d khoản 2 Điều 257 BLHS 1999, điểm p khoản 1, khoản 2 Điều 46, Điều 33 Bộ luật hình sự năm 1999; Nghị quyết số 41/2017, ngày 20/6/2017 của Quốc hội về thui hành Bộ luật hình sự số 100/2015/QH13 đã sử đổi bổ sung. Đề nghị xử phạt: Nguyễn Khắc L (tức Nguyễn Văn L) từ 24 tháng đến 27 tháng tù.

- Về trách nhiệm dân sự: Do chưa xác định được dối tượng trực tiếp gây thiệt hại, Do đó đề nghị Hội đồng xét xử cần tiếp tục tách phần bồi thường dân sự đối với thiệt hại về tài sản của Công ty LICOGI 16.9 ra để giải quyết theo thủ tục tố tụng dân sự khi có yêu cầu.

- Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa bị cáo nhận tội không có ý kiến tranh luận đối với đại diện Viện kiểm sát. Lời nói sau cùng bị cáo nhận thấy việc làm của mình là sai, vi phạm pháp luật và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định.

Tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan CSĐT Công an tỉnh T, Điều tra viên Cơ quan CSĐT Công an tỉnh T, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh T, Kiểm sát viên, Viện nhân dân tỉnh T, Viện kiểm sát nhân dân thị xã N, Kiểm sát viên VKSND Thị xã N trong quá trình điều tra, truy tố đều thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng thực hiện đều hợp pháp.

[2] Xét hành vi phạm tội của bị cáo:

Trong các ngày 29, 30/7/2009 tại công trường thi công kè ta luy chân cột điện cao thế 110KV thuộc địa bàn thôn Liên Sơn, xã Hải Thượng, huyện TG (nay là Tổ dân phố Liên Sơn, phường Hải Thượng, thị xã N, tỉnhT), Nguyễn Khắc L (tức nguyễn Văn L) đã có hành vi tham gia hò hét dùng gạch đá ném vào lực lượng công an, biên phòng đang làm nhiệm vụ đảm bảo an ninh trật tự nơi thi công công trình của Công ty LICOGI 16.9, L là người trực tiếp ném đá vào đầu gây thương tích cho anh Ngô Văn Hưng (thành viên tổ công tác Đồn biên phòng cửa khẩu cảng N), sau đó L tiếp tục cùng 1 số đối tượng ép buộc anh Khiếu Đình Thành, anh Trịnh Văn Hòa (công nhân lái máy xúc của Công ty LICOGI 16.9) phải dùng máy xúc móc các ống cống thoát nước của công trường lên đập vỡ. Hành vi của L đã kích động, lôi kéo người dân tham gia gây rối, tấn công lực lượng chức năng, cản trở thi công, đập phá ống thoát nước của nhà thầu thi công gây thiệt hại tài sản 58.083.120 đồng.

Ngày 17/8/2010 Tòa án nhân dân huyện TG (nay là thị xã N) đã đưa ra xét xử đối với các đối tượng Lê Thanh Lối, Phạm Huy Chuyên, Nguyễn Quốc Dũng và Nguyễn Khắc Lưu về tội “chống người thi hành công vụ” theo quy định tại khoản 2 Điều 257 BLHS 1999, riêng Nguyễn Khắc L bỏ trốn nên được tách ra tạm đình chỉ xử lý bằng vụ án khác. Đến ngày 24/02/2023, Viện kiểm sát nhân dân thị xã N đã ra Quyết định phục hồi vụ án đối với Nguyễn Khắc L về tội “chống người thi hành công vụ” theo quy định tại khoản 2 Điều 257 Bộ luật hình sự năm 1999.

Tại phiên tòa bị cáo nhận tội, lời nhận tội của bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai tại Cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của nhân chứng, cùng nhiều tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, phù hợp với kết quả xét hỏi và tranh tụng tại phiên tòa.

Quyết định truy tố và lời luận tội của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã N là có căn cứ pháp luật. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Nguyễn Khắc L (tức Nguyễn Văn L) đã có hành vi dùng vũ lực cản trở người thi hành công vụ thực hiện công vụ của họ, ép buộc người thi hành công vụ thực hiện hành vi trái pháp luật, xúi giục, kích động người khác phạm tội, gây hậu quả nghiêm trọng làm thiệt hại đến tài sản của người khác trị giá trên 50 triệu đồng, đã phạm vào tội: “Chống người thi hành công vụ” với các tình tiết định khung tăng nặng quy định tại điểm c, d khoản 2 Điều 257 Bộ luật hình sự năm 1999.

Tính chất vụ án: Bị cáo đã có hành vi dùng vũ lực cản trở người thi hành công vụ thực hiện công vụ của họ, ép buộc người thi hành công vụ thực hiện hành vi trái pháp luật, xúi giục, kích động người khác phạm tội, gây hậu quả nghiêm trọng làm thiệt hại đến tài sản của người khác trị giá trên 50 triệu đồng. Hành vi của bị cáo đã xâm phạm đến việc thực hiện nhiệm vụ của những người đang thi hành công vụ, thông qua đó xâm phạm đến hoạt động của nhà nước về quản lý hành chính trong lĩnh vực thi hành nhiệm vụ công. Do đó cần phải xử lý nghiêm tương xứng với tính chất mức độ và hành vi phạm tội của bị cáo.

Xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo:

* Tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng, tuy nhiên sau khi phạm tội, bị cáo đã bỏ trốn gây khó khăn cho quá trình giải quyết vụ án.

* Tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bố, mẹ bị cáo là người có công với cách mạng, đã hoàn thành nhiệm vụ thanh niên xung phong phục vụ kháng chiến, nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm p khoản 1, khoản 2 Điều 46 của Bộ luật Hình sự 1999. Giảm cho bị cáo 1 phần hình phạt để bị cáo thấy được sự khoan hồng của pháp luật.

Căn cứ vào các quy định của Bộ luật hình sự, căn cứ vào tính chất, mức độ nghiêm trọng của tội phạm, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Hội đồng xét xử xét thấy, cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để bị cáo có thể giáo dục cải tạo theo đúng quy định của pháp luật.

Về trách nhiệm dân sự:

Bị cáo đã tham gia chống người thi hành công vụ cùng với nhiều đối tượng gây hậu quả làm anh Ngô Văn Hưng bị thương tích, xe ô tô GMC 36B-1263 của Công an huyện TG bị hư hỏng, tài sản của Công ty LICOGI 16.9 bị thiệt hại trị giá 58.083.120 đồng. Tuy nhiên anh Ngô Văn Hưng đã từ chối giám định và không yêu cầu bồi thường, Công an huyện TG không yêu cầu bồi thường thiệt hại của xe ô tô GMC 36B-1263. Đối với tài sản của Công ty LICOGI 16.9 bị thiệt hại trị giá 58.083.120 đồng, Tại bản án HSST số 46/2010 ngày 17/8/2010 của Tòa án nhân dân huyện TG (nay là Tòa án nhân dân thị xã N) đã tách phần bồi thường dân sự đối với thiệt hại về tài sản của Công ty LICOGI 16.9 do không xác định được đối tượng trực tiếp gây thiệt hại.

Đối với Nguyễn Khắc L (tức Nguyễn Văn L), quá trình điều tra đủ cơ sở xác định L có hành vi dùng vũ lực cản trở người thi hành công vụ thực hiện công vụ của họ, ép buộc người thi hành công vụ thực hiện hành vi trái pháp luật, xúi giục, kích động người khác phạm tội, gây hậu quả nghiêm trọng làm thiệt hại đến tài sản của người khác trị giá trên 50 triệu đồng. Tuy nhiên quá trình điều tra không xác định được đối tượng trực tiếp gây thiệt hại đến tài sản của Công ty LICOGI 16.9, do đó chưa đủ cơ sở buộc Nguyễn Khắc L (tức Nguyễn Văn L) phải bồi thường toàn bộ số tiền 58.083.120 đồng cho Công ty LICOGI 16.9. Mặt khác, hiện tại quá trình điều tra không xác định được Công ty LICOGI 16.9 cũng như người đại diện theo pháp luật của công ty ở đâu, trong vụ án này cũng chưa có yêu cầu tiêp tục bồi thường của Công ty LICOGI 16.9. Căn cứ điều 30 Bộ luật tố tụng hình sự, cần tiếp tục tách phần bồi thường dân sự đối với thiệt hại về tài sản của Công ty LICOGI 16.9 ra để giải quyết theo thủ tục tố tụng dân sự khi có yêu cầu.

[6] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

* Căn cứ: Điểm c, d khoản 2 Điều 257 Bộ luật hình sự năm 1999, điểm p khoản 1, khoản 2 Điều 46, Điều 33 Bộ luật hình sự năm 1999; Nghị quyết số 41/2017, ngày 20/6/2017 của Quốc hội về thi hành Bộ luật hình sự số 100/2015/QH13 đã sửa đổi, bổ sung.

* Tuyên bố: Nguyễn Khắc L (tức Nguyễn Văn L) phạm tội: “Chống người thi hành công vụ”

* Xử phạt: Nguyễn Khắc L (tức Nguyễn Văn L) 24 (hai bốn) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt giam thi hành án hoặc tự nguyện thi hành án.

* Về án phí: Áp dụng Điều 135, 136 Bộ luật tố tụng hình sự, Điều 21, Điều 23 Nghị quyết số 326/2016, ngày 30/12/2016 của UBTVQH: Buộc bị cáo L phải nộp 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm,

Bị cáo có mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Nguyên đơn dân sự, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kẻ từ ngày được tống đạt bản án, hoặc được niêm yết bản án.

Trường hợp bản án này được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo các điều 6,7,7a và Điều 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ