- Tranh chấp gì? án hình sự — "Trương Văn Th - sử dụng trái phép chất ma túy (điều 256a Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2025)"
- Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Trương Văn Th phạm tội “Sử dụng trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5 - ĐIỆN BIÊN TỈNH ĐIỆN BIÊN ______________ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 61/2026/HS-ST Ngày: 22-5-2026 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5 - ĐIỆN BIÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Sao
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Chảo Phù Hiển
2. Ông Hồ Chử Dung.
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thúy Dần – Thẩm tra viên Tòa án nhân dân khu vực 5 – Điện Biên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5 - Điện Biên tham gia phiên toà: Ông Giàng A Khở - Kiểm sát viên.
Ngày 22 tháng 5 năm 2026, tại Nhà văn hóa bản Tân Phong, xã S, tỉnh Điện Biên, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 66/2026/TLST-HS ngày 29 tháng 4 năm 2026, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 61/2026/QĐXXST-HS ngày 08 tháng 5 năm 2026 đối với bị cáo:
Họ và tên: Trương Văn Th; sinh ngày 14 tháng 12 năm 1997 tại xã X, tỉnh Lai Châu; Nơi thường trú: Bản L, xã S, tỉnh Điện Biên; Nghề nghiệp: Nông nghiệp; Trình độ học vấn: 11/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Số căn cước: 01209700xxxx, ngày cấp: 16/3/2022, nơi cấp: Cục Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội, Bộ Công an; Con ông Trương Văn M và bà Vương Thị L (đã chết). Bị cáo chưa có vợ, con. Tiền án: Không. Tiền sự: Có 01 tiền sự (Ngày 14/4/2023, bị Tòa án nhân dân huyện N, tỉnh Điện Biên ra Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, với thời hạn là 18 tháng, tại Quyết định số 10/QĐ-TA, chưa hết thời hạn được coi là chưa bị xử lý hành chính). Nhân thân: Bị cáo chưa bị kết án. Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 27/02/2026 cho đến nay, có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Trương Văn Th là người nghiện chất ma túy, đang trong thời gian quản lý sau cai nghiện tại nơi cư trú, với thời hạn 02 năm từ ngày 25/11/2024 đến ngày 25/11/2026, theo Quyết định số 120/QĐ-UBND, ngày 25/11/2024 của Ủy ban nhân dân xã S, tỉnh Điện Biên.
Khoảng 16 giờ 00 phút, ngày 22/02/2026, Trương Văn Th đi bộ từ nhà ra Km34 quốc lộ 4H, thuộc trung tâm xã S, tỉnh Điện Biên, rồi đón xe khách tới bản Ph, xã S để tìm mua ma túy về sử dụng. Khi tới bản Ph, xã S, Th gặp 01 người đàn ông dân tộc Thái không quen biết, qua trao đổi Th đã nhờ người đàn ông này mua hộ 01 gói Heroine và 02 viên ma túy tổng hợp với giá 200.000 đồng. Sau khi mua được ma túy, Th đón xe khách về nhà, rồi cất giấu ma túy trong túi áo bên trái treo ở dây phơi ngoài hiện nhà. Đến khoảng 02 giờ sáng ngày 23/02/2026, Th đã lấy 02 chất ma túy ra sử dụng hết bằng hình thức tiêm chích Heroine vào cơ thể và hít Methamphetamine. Đến 14 giờ 45 phút, ngày 23/02/2026, Trương Văn Th được công an xã S, tỉnh Điện Biên mời đến trụ sở để tiến hành test nhanh, kiểm tra chất ma túy trong cơ thể, kết quả Trương Văn Th dương tính với ma túy nhóm “MOP”, cụ thể là Heroine và MET, cụ thể là Methamphetamine. Sau đó, Công an xã S, đã tiến hành thu mẫu nước tiểu của Trương Văn Th để trưng cầu giám định.
Tại Kết luận giám định số 195/KL-KTHS, ngày 26/02/2026 của Phòng Kỹ thuật hình sự, Công an tỉnh Điện Biên kết luận: “Tìm thấy chấy ma túy trong mẫu nước tiểu của Trương Văn Th gửi giám định: Loại Methamphetamine; Morphine.”
Tại bản Cáo trạng số 13/CT-VKS-KV5 ngày 29/4/2026 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5 – Điện Biên đã truy tố bị cáo Trương Văn Th về tội “Sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 256a của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 và năm 2025.
Tại phiên tòa, bị cáo Trương Văn Th một lần nữa đã thành khẩn khai nhận về hành vi phạm tội của mình như đã nêu ở trên.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5 – Điện Biên thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử luận tội: Giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo Trương Văn Th về tội “Sử dụng trái phép chất ma túy”. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b khoản 1 Điều 256a, điểm i, s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo. Đề nghị xử phạt bị cáo Trương Văn Th từ 02 (hai) năm đến 02 (hai) năm 03 (ba) tháng tù. Đề nghị áp dụng khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo Trương Văn Th không có ý kiến tranh luận gì.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi của bị cáo:
Tại phiên tòa, bị cáo Trương Văn Th thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình như sau:
Bị cáo Trương Văn Th là người nghiện chất ma túy, đang trong thời hạn quản lý sau cai nghiện ma túy theo quy định của Luật Phòng, chống ma túy, tại Quyết định số 120/QĐ-UBND, ngày 25/11/2024 của Ủy ban nhân dân xã S, tỉnh Điện Biên thời hạn quản lý là 02 năm, từ ngày 25/11/2024 đến ngày 25/11/2026. Tuy nhiên, vào ngày 23/02/2026 bị cáo có hành vi sử dụng trái phép 02 chất ma túy là Heroine và Methamphetamine, tại nhà ở bản L, xã S, tỉnh Điện Biên. Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp lời khai của bị cáo tại giai đoạn điều tra (BL 51-54), phù hợp với Kết luận giám định (BL 33) và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ. Không có chứng cứ nào chứng minh bị cáo không phạm tội.
Do đó, đã có đủ cơ sở kết luận bị cáo Trương Văn Th phạm tội “Sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 256a của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 và năm 2025 như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5 – Điện Biên đã truy tố đối với bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Tại điểm b khoản 1 Điều 256a của Bộ luật Hình sự quy định:
“1. Người nào sử dụng trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 03 năm:…
b) Đang trong thời hạn quản lý sau cai nghiện ma túy theo quy định của Luật Phòng, chống ma túy”.
Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội: Hành vi của bị cáo là ít nghiêm trọng, có tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội không lớn nhưng gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự xã hội trên địa bàn, vì ma túy không chỉ hủy hoại sức khỏe của con người, mà còn là nguyên nhân gây ra các tội phạm khác. Bị cáo là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự và nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vì mục đích sử dụng ma túy đã cố ý phạm tội.
Về nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Trương Văn Th có 01 tiền sự như sau: Ngày 14/4/2023, bị Tòa án nhân dân huyện N, tỉnh Điện Biên ra Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, với thời hạn là 18 tháng, tại Quyết định số 10/QĐ-TA, chấp hành xong ngày 19/10/2024, chưa hết thời hạn được coi là chưa bị xử lý vi phạm hành chính, thể hiện bị cáo là người có nhân thân xấu. Bị cáo phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, khi bị bắt giữ và tại phiên tòa bị cáo luôn thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Bị cáo không có tình tiết tăng năng trách nhiệm hình sự theo quy định tại khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự. Tuy nhiên, với tính chất và hành vi phạm tội của bị cáo như đã nêu ở trên, xét thấy cần phải áp dụng hình phạt tù, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời hạn nhất định như đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát, để bị cáo cải tạo bản thân và làm gương răn đe, giáo dục trong Nhân dân.
Về vật chứng của vụ án: Bị cáo khai đã sử dụng 01 bơm kim tiêm, 01 chiếc bật lửa và 01 chai nhựa là công cụ sử dụng trái phép chất ma túy, nhưng sau khi sử dụng xong bị cáo đã vứt vào bếp lửa để đốt, cơ quan điều tra không thu giữ được, Hội đồng xét xử không xem xét.
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh Điện Biên, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5 – Điện Biên, Kiểm sát viên và người bào chữa, trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng Hình sự. Bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng và người bào chữa đã thực hiện đều hợp pháp.
Trong vụ án bị cáo Trương Văn Th khai đã nhờ 01 người đàn ông dân tộc Thái không quen biết mua hộ 02 chất ma túy vào ngày 22/02/2026 tại bản Ph, xã S, tỉnh Điện Biên. Do bị cáo không biết tên, địa chỉ của người đàn ông này ở đâu nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Điện Biên không có căn cứ để điều tra, làm rõ xử lý theo quy định, Hội đồng xét xử không có cơ sở xem xét.
Về án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14, bị cáo Trương Văn Th phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.
Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, khoản 1 Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự, bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 256a của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 và năm 2025;
1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Trương Văn Th phạm tội “Sử dụng trái phép chất ma túy”.
2. Về hình phạt: Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 256a, điểm i, s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 và năm 2025, xử phạt bị cáo Trương Văn Th 02 (hai) năm 02 (hai) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giam 27/02/2026.
3. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo Trương Văn Th phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, khoản 1 Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự, bị cáo Trương Văn Th được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án 22/5/2026./.
| Nơi nhận: - VKSND khu vực 5 – Điện Biên; - VKSND tỉnh Điện Biên; - Phòng GĐKT, TT&THA; - Bị cáo; - Phòng HSNV-LLTP Công an tỉnh; - Cơ quan CSĐTCA tỉnh; - Phân trại tạm giam Nà Hỳ; - THADS tỉnh Điện Biên; - Cơ quan THAHS CA tỉnh Điện Biên; - Lưu HS: VA, THAHS. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Thị Sao |