- Tranh chấp gì? án hình sự — "bản án 61 - tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? QUYẾT ĐỊNH: Căn cứ Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 249 Bộ luật Hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 - NINH BÌNH Độc lập - Tự do - Hạnh phúc | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 61/2026/HS-ST Ngày: 03-6-2026 |
NHÂN DANH NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 - NINH BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hương Quỳnh. Các hội thẩm nhân dân: - Ông Trần Văn Mạnh.
- Ông Bùi Khắc Thái
- Thư ký phiên toà: Ông Đoàn Thanh Minh - Thư ký Toà án nhân dân Khu vực 3 - Ninh Bình.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 3 - Ninh Bình tham gia phiên toà: Bà Vũ Như Trang - Kiểm sát viên. Ngày 03 tháng 6 năm 2026 tại trụ sở Tòa án nhân dân Khu vực 3- Ninh Bình mở phiên toà xét xử sơ thẩm công khai trực tuyến vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 36/2026/TLST- HS ngày 26 tháng 3 năm 2026, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 56/2026/QĐXXST-HS ngày 20 tháng 5 năm 2026 đối với bị cáo: Nguyễn Văn T, sinh ngày 20/11/2005 tại tỉnh Ninh Bình; số CCCD: 037205009307; Nơi cư trú: Tổ dân phố S, phường T, tỉnh Ninh Bình. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Giới tính: Nam; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 6/12; Con ông Nguyễn Thế H và bà Nguyễn Thị H1; Vợ, con: Chưa có; Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 17/12/2025 đến ngày 25/12/2025 chuyển tạm giam. Hiện đang bị tạm giam tại trại tạm giam số 1 Công an tỉnh N. (có mặt).
- Người làm chứng: Ông Nguyễn Hùng T1, sinh năm 1979; Bà Dương Hoàng Phi B sinh năm 1970 (vắng mặt) NỘI DUNG VỤ ÁN: Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Nguyễn Văn T là đối tượng sử dụng trái phép chất ma túy từ đầu năm 2025 đến nay. Khoảng hơn 23 giờ ngày 15/12/2025, T điều khiển xe mô tô Biển kiểm soát 35N1-635.83 đi từ nhà ở tổ dân phố S, phường T, tỉnh Ninh Bình đến gần nhà máy G ở xã G, tỉnh Ninh Bình, để mua ma túy về sử dụng. Tại đây, T gặp và mua của một nam giới không quen biết số tiền 2.000.000 đồng được 02 túi nilon màu trắng, bên trong đều chứa tinh thể màu trắng. Xác định đó là ma túy, loại Ketamine, T điều khiển xe mô tô quay về nhà. T vào phòng ngủ của mình, bóc 01 túi nilon chứa ma túy ra, lấy 01 phần chất tinh thể màu trắng để lên tờ tiền mệnh giá 1.000 đồng và sử dụng bằng hình thức hít. Phần ma túy còn lại, T gói trong tờ tiền mệnh giá 1.000 đồng, sau đó cất toàn bộ số ma túy đã mua vào túi áo khoác bên trái nhằm mục đích sử dụng. Tối ngày 17/12/2025, T điều khiển xe mô tô đi từ nhà đến xã Q, tỉnh Ninh Bình chơi. Đến hồi 20 giờ 45 phút cùng ngày, khi đi đến khu vực cổng làng S, xã Q, tỉnh Ninh Bình, T gặp Tổ công tác Công an xã Q đang tuần tra, kiểm soát. Biết không thể che giấu hành vi phạm tội của mình, T tự nguyện lấy từ túi áo khoác bên trái ra giao nộp cho Tổ công tác 01 túi nilon bên trong chứa tinh thể màu trắng và 01 tờ tiền mệnh giá 1.000 đồng được gấp cuộn bên trong có chứa tinh thể màu trắng. T khai nhận đó là loại ma tuý, loại Ketamine, T cất giấu nhằm mục đích sử dụng cho bản thân. Tổ công tác tiến hành thu giữ, niêm phong số ma túy có đặc điểm nêu trên. Ngoài ra còn thu giữ của T 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Vison màu xám Biển kiểm soát 35N1-635.83; 01 điện thoại di động nhãn hiện Iphone 12 Promax màu xanh. Sau đó, Tổ công tác đưa Nguyễn Văn T cùng vật chứng về trụ sở Công an xã Q lập biên bản bắt người phạm tội quả tang theo quy định. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh N tiến hành cân xác định khối lượng chất tinh thể màu trắng thu giữ của Nguyễn Văn T, cụ thể như sau: Chất tinh thể màu trắng trong 01 túi nilon có khối lượng 0,7992 gam lấy mẫu giám định ký hiệu M1; chất tinh thể màu trắng trong tờ tiền mệnh giá 1.000 đồng có khối lượng 0,1110 gam lấy mẫu giám định ký hiệu M2. Đồng thời lấy mẫu nước tiểu của Nguyễn Văn T để gửi đi giám định chất ma túy. Tại Kết luận giám định số 84 ngày 23/12/2025 của Phòng K Công an tỉnh N, kết luận: Mẫu gửi giám định ký hiệu M1 có khối lượng 0,7992 gam, ký hiệu M2 có khối lượng 0,1110 gam, đều là ma túy, loại Ketamine. Ketamine là chất ma túy thuộc bảng Danh mục III, số thứ tự 40; Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2025 của Chính phủ. H2 lại đối tượng giám định gồm: Mẫu ký hiệu M1 còn lại có khối lượng 0,7214 gam, ký hiệu M2 còn lại có khối lượng 0,0678 gam, đều là ma túy, loại Ketamine. Tại Kết luận giám định số 85 ngày 23/12/2025 của Phòng K Công an tỉnh N, kết luận: Tìm thấy Ketamine trong mẫu nước tiểu ký hiệu T1 gửi giám định. Ketamine là chất ma túy thuộc bảng Danh mục III, số thứ tự 40; Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2025 của Chính phủ. Quá trình điều tra, Nguyễn Văn T đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình. Tại bản cáo trạng số 58/CT-VKS-KV3 ngày 26 tháng 3 năm 2026, Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 3- Ninh Bình đã truy tố ra trước Tòa án nhân dân Khu vực 3-Ninh Bình để xét xử bị cáo Nguyễn Văn T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự. Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 3- Ninh Bình vẫn giữ nguyên cáo trạng đã truy tố bị cáo và đề nghị: * Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”. * Về điều luật áp dụng và hình phạt: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, Điều 38, điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự đề nghị: Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T từ 39 tháng đến 04 năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ 17/12/2025. * Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm c khoản 1, Điều 47 Bộ luật hình sự; Điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự đề nghị: Tịch thu tiêu hủy Chất dạng tinh thể màu trắng còn lại trong mẫu gửi giám định ký hiệu M1 có khối lượng 0,7214 gam, ký hiệu M2 có khối lượng 0,0678 gam, đều là ma túy, loại Ketamine; toàn bộ vỏ, bao gói niêm phong. 01 phong bì dán kín niêm phong theo quy định, bên trong gồm: 01 vỏ phong bì niêm phong vật chứng ban đầu, 01 vỏ túi nilon. Trả lại cho bị cáo: 01 xe mô tô Biển kiểm soát 35N1-635.83 và 01 điện thoại Iphone 12 promax. Sung ngân sách Nhà nước tờ tiền mệnh giá 1000 đồng. * Về án phí: Bị cáo phải chịu theo quy định của pháp luật là 200.000đ. Tại phiên tòa bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình phù hợp với nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 3- Ninh Bình đã truy tố. Bị cáo không có ý kiến tranh luận với đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 3- Ninh Bình. Lời nói sau cùng của bị cáo biết lỗi về hành vi phạm tội của mình và xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ mức hình phạt cho bị cáo. NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau: [1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an tỉnh N, Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 3- Ninh Bình, Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp. [2]. Về hành vi của bị cáo: Hồi 20 giờ 45 phút ngày 17/12/2025, tại khu vực cổng làng S, thuộc địa phận thôn S, xã Q, tỉnh Ninh Bình, Nguyễn Văn T có hành vi tàng trữ trái phép 0,9102 gam Ketamine với mục đích sử dụng cho bản thân, bị bắt quả tang. Hành vi nêu trên của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội“Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo quy định tại Điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự. Điều 249: Tội tàng trữ trái phép chất ma tuý. ‘‘1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma tuý mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma tuý thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 05 năm: … c) Heroine, C, Methamphetamine, A, Ketamine, F, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam; … 5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản”. Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, bị cáo nhận thức được việc mua bán, tàng trữ, sử dụng ma túy trái phép là vi phạm pháp luật, tuy nhiên bị cáo vẫn cố ý thực hiện. Hành vi tàng trữ ma túy trái phép của bị cáo đã xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước đối với các chất ma túy, tính chất vụ án là nghiêm trọng. Lời khai của bị cáo tại phiên tòa hôm nay hoàn toàn phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, phù hợp với kết luận giám định và các chứng cứ, tài liệu có liên quan khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 3- Ninh Bình đã truy tố bị cáo với tội danh và điều luật đã viện dẫn như trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật cần chấp nhận. [3]. Về các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự, nhân thân bị cáo: Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo được áp dụng tình tiết giảm nhẹ “Người phạm tội thành khẩn khai báo” quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng. Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân tổt. [4] Về hình phạt: Xét tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nên cần phải xử phạt nghiêm minh, buộc bị cáo phải chịu hình phạt tù có thời hạn, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để giáo dục cải tạo bị cáo, đồng thời đảm bảo tác dụng răn đe phòng ngừa chung cho xã hội. Về hình phạt bổ sung: Bị cáo tàng trữ ma túy nhằm mục đích sử dụng nên không cần thiết áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền với bị cáo. [5]. Nguyễn Văn T không thuộc trường hợp quản lý sau cai, không thuộc đối tượng đang phải uống thuốc điều trị Methadone. Do đó, không có căn cứ để xử lý đối với Nguyễn Văn T về tội “Sử dụng trái phép chất ma túy” quy định tại khoản 1 Điều 256a Bộ luật Hình sự. Đối với nam thanh niên đã bán ma túy cho Nguyễn Văn T ngày 17/12/2025 (theo lời khai của T). Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh N đã tiến hành điều tra, xác minh, nhưng không đủ căn cứ để xác định, xử lý. [6]. Về xử lý vật chứng:
- Đối với 01 xe mô tô Biển kiểm soát 35N1-635.83 và 01 điện thoại Iphone 12 promax, quá trình điều tra xác định là tài sản của Nguyễn Văn T, không liên quan đến việc phạm tội cần trả lại cho bị cáo.
- Đối với 01 tờ tiền mệnh giá 1.000 đồng, T sử dụng để cuộn ma túy cần tịch thu sung ngân sách Nhà nước.
- Đối với chất dạng tinh thể màu trắng còn lại trong mẫu gửi giám định ký hiệu M1 có khối lượng 0,7214 gam, ký hiệu M2 có khối lượng 0,0678 gam, đều là ma túy, loại Ketamine; toàn bộ vỏ, bao gói niêm phong. Đây là vật chứng của vụ án bị cấm lưu hành, sử dụng, cần tịch thu tiêu hủy. [7]. Về án phí: Bị cáo bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Vì các lẽ trên, QUYẾT ĐỊNH: Căn cứ Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự. Căn cứ Điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; khoản 2, khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự. Căn cứ vào Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. 1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”. 2.Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T 39(ba mươi chín) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ 17/12/2025. 3. Về xử lý vật chứng:
- Tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì ghi số 84/KL-KTHS, bên trong gồm: Chất dạng tinh thể màu trắng còn lại trong mẫu gửi giám định ký hiệu M1 có khối lượng 0,7214 gam, ký hiệu M2 có khối lượng 0,0678 gam, đều là ma túy, loại Ketamine; toàn bộ vỏ, bao gói niêm phong. 01 phong bì dán kín niêm phong theo quy định, bên trong gồm: 01 vỏ phong bì niêm phong vật chứng ban đầu, 01 vỏ túi nilon.
- Trả lại cho bị cáo: 01 xe mô tô Biển kiểm soát 35N1-635.83 và 01 điện thoại Iphone 12 promax.
- Sung ngân sách Nhà nước 01 tờ tiền mệnh giá 1.000 đồng. (Chi tiết theo biên bản giao nhận vật chứng giữa Cơ quan điều tra Công an Cơ quan Thi hành án dân sự). 4. Về án phí hình sự sơ thẩm: Buộc bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm. Án xử công khai sơ thẩm bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Ninh Bình; - VKSND tỉnh Ninh Bình; - VKSND Khu vực 3- Ninh Bình; - Cơ quan Điều tra Công an tỉnh Ninh Bình; - Cơ quan THA hình sự CA tỉnh Ninh Bình; - Thi hành án Dân sự tỉnh Ninh Bình - Bị cáo; - Lưu HSVA, VP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Nguyễn Thị Hương Quỳnh |