vanban.org

Bản án 61/2026/HN-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: cho bà Lê Thị D được ly hôn với ông Nguyễn Tuấn K.

Về con chung: bà Lê Thị D được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng 02 con chung tên Nguyễn KB, sinh ngày 13/10/2013 và Nguyễn HĐ, sinh ngày 10/3/2019; ông Nguyễn Tuấn K không phải cấp dưỡng nuôi con. Bà Lê Thị D cùng các thành viên gia đình (nếu có) không được cản trở ông Nguyễn Tuấn K trong việc thăm no… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn, nuôi con"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: cho bà Lê Thị D được ly hôn với ông Nguyễn Tuấn K.
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa án
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 11

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH AN GIANG
Bản án số: 61/2026/HN-ST
Ngày: 30/01/2026
V/v “tranh chấp ly hôn, nuôi con”

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 11, TỈNH AN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: ông Phạm Văn Dương

Các Hội thẩm nhân dân: bà Nguyễn Thị Ly, ông Đặng Văn Tâm;

- Thư ký phiên tòa: bà Lê Tường Vi, Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 11, tỉnh An Giang.

Đại Dện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 11, tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: ông Lê Trần Long, Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 01 năm 2026 tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 11 - An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 295/2025/TLST-HN ngày 23 tháng 10 năm 2025 về việc “tranh chấp ly hôn, nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 454/2025/QĐXXST-HN ngày 26 tháng 12 năm 2025, Quyết định hoãn phiên tòa số 27/2025/QĐST-HN, ngày 14 tháng 01 năm 2025 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: bà Lê Thị D, sinh năm 1991, cư trú: số nhà 439, tổ 17, ấp LT, xã NM, tỉnh An Giang (có đơn xin xét xử vắng mặt).

2. Bị đơn: ông Nguyễn Tuấn K, sinh năm 1993, cư trú: số nhà 741, ấp LT2, xã NM, tỉnh An Giang (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, bản tự khai nguyên đơn bà Lê Thị D trình bày:

Bà và ông Nguyễn Tuấn K cưới nhau vào năm 2013, có tổ chức lễ cưới, hôn nhân do tự tìm hiểu và được gia đình hai bên chấp thuận. Vợ chồng có đăng kí kết hôn tại Uỷ ban nhân dân xã LG, huyện CM, tỉnh An Giang (nay là Ủy ban nhân dân xã NM, tỉnh An Giang) vào ngày 17/10/2013. Vợ chồng sống hạnh phúc đến năm 2024 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do vợ chồng thường xuyên cãi nhau, chồng ăn chơi, cờ bạc gây ra nợ nần, không quan tâm chăm sóc vợ con nên vợ chồng ly thân từ 30/4/2024 đến nay. Nay nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, bà yêu cầu ly hôn với ông K. Về con chung: vợ chồng có 02 con chung tên Nguyễn KB, sinh ngày 13/10/2013 và Nguyễn HĐ, sinh ngày 10/3/2019 hiện các con đang sống cùng bà D. Khi ly hôn bà yêu cầu được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng cháu Nguyễn KB và Nguyễn HĐ, không yêu cầu chồng cấp dưỡng nuôi con. Bị đơn ông Nguyễn Tuấn K đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự nhưng ông vắng mặt không lý do nên không ghi nhận ý kiến và hòa giải được Đại Dện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 11 - An Giang phát biểu:

- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của nguyên đơn, bị đơn trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án là đúng quy định pháp luật.

- Việc tuân theo pháp luật tố tụng của người tham gia tố tụng: nguyên đơn đã thực hiện đúng quy định tại Điều 70, Điều 71 Bộ luật Tố tụng dân sự và tại phiên tòa có đơn xin xét xử vắng mặt theo Điều 228 bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn từ khi thụ lý vụ án và tại phiên tòa vắng mặt theo quy định tại Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự.

- Về hướng giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điều 56, 81,82, 83 và Dều 84 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014:

- Chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Lê Thị D đối với ông Nguyễn Tuấn K.

- Bà Lê Thị D được tiếp tục nuôi 02 con chung tên Nguyễn KB, sinh ngày 13/10/2013 và Nguyễn HĐ, sinh ngày 10/3/2019, ông Nguyễn Tuấn K không hải cấp dưỡng nuôi con.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định: [1]. Về thủ tục tố tụng: Bà Lê Thị D khởi kiện ly hôn với ông Nguyễn Tuấn K, ông K có nơi cư trú ấp LT, xã NM, tỉnh An Giang. Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự, khoản 2 Điều 1 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng dân sự, Luật Tố tụng hành chính, Luật tư pháp người chưa thành niên, Luật Phá sản, Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa án, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 11 - An Giang. Nguyên đơn bà Lê Thị D có đơn xin xét xử vắng mặt; bị đơn ông Nguyễn Tuấn K đã được triệu tập hợp lệ tham gia phiên tòa lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt. Căn cứ Điều 227, Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án.

. Về nội dung:

. Về quan hệ hôn nhân: bà Lê Thị D và ông K quen biết tìm hiểu nhau sau đó tiến tới hôn nhân và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Long Giang, huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang (nay là Ủy ban nhân dân xã NM, tỉnh An Giang) nên quan hệ hôn nhân giữa bà D và ông K là hợp pháp, được pháp luật thừa nhận và bảo vệ. Bà D cho rằng vợ chồng sống hạnh phúc đến năm 2024 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do vợ chồng thường xuyên cãi nhau, chồng ăn chơi, cờ bạc gây ra nợ nần, không quan tâm chăm sóc vợ con nên vợ chồng ly thân từ 30/4/2024 đến nay. Bà xác định tình cảm không còn yêu cầu được ly hôn với ông Nguyễn Tuấn K. Hội đồng xét xử xét thấy, ông Nguyễn Tuấn K đã được tòa án tống đạt thông báo thụ lý vụ án về việc bà D khởi kiện yêu cầu ly hôn và thông báo đến Tòa án tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng ông không có ý kiến phản hồi đối với yêu cầu khởi kiện của bà D, cũng như tạo điều kiện hàn gắn hạnh phúc vợ chồng. Trong thời gian ly thân vợ chồng không tới lui thăm nhau để hàn gắn tình cảm, điều này cho thấy mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng. Mặc khác, bà D xác định không còn tình cảm với ông K nếu tiếp tục chung sống cũng không hạnh phúc. Vì vậy, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Lê Thị D là phù hợp với quy định tại Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.

. Về quan hệ con chung: Bà D xác định bà và ông K có tên Nguyễn KB, sinh ngày 13/10/2013 và Nguyễn HĐ, sinh ngày 10/3/2019 hiện nay đang sống cùng bà. Bà D yêu cầu được nuôi con chung không yêu cầu ông K cấp dưỡng nuôi con. Hội đồng xét xử xét thấy, việc giao con cho cha hoặc mẹ chăm sóc nuôi dưỡng phải căn cứ vào điều kiện sinh sống, phát triển cũng như nguyện vọng của con. Từ lúc vợ chồng ly thân đến nay bà D là người trực tiếp nuôi con chung nên tình cảm, tâm tư gắn liền với người nuôi dưỡng, thời gian chung sống với bà D cháu KB, HĐ vẫn phát triển bình thường về thể chất, tinh thần và được bà D tạo điều kiện cho đi học. Mặc khác tòa án đã tiến hành ghi nhận ý kiến của cháu Trần Nguyễn KB, qua ghi nhận cháu KB có nguyện vọng tiếp tục sống với mẹ. Do đó, cần để bà D đươc nuôi 02 con chung là phù hợp với Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình cũng như nguyện vọng của con.

Do bà D không yêu cầu ông K cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không đề cập đến.

. Về quan hệ tài sản chung, nợ chung: do bà D không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đề cập giải quyết.

. Về án phí sơ thẩm: Bà D phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 273, Điều 278 và Điều 280 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; khoản 2 Điều 1 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng dân sự, Luật Tố tụng hành chính, Luật tư pháp người chưa thành niên, Luật Phá sản, Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa án, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 11 - An Giang; Căn cứ Điều 56, 57, 81, 82, 83 và Điều 84 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014. Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Lê Thị D.

- Về quan hệ hôn nhân: cho bà Lê Thị D được ly hôn với ông Nguyễn Tuấn K.

- Về con chung: bà Lê Thị D được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng 02 con chung tên Nguyễn KB, sinh ngày 13/10/2013 và Nguyễn HĐ, sinh ngày 10/3/2019; ông Nguyễn Tuấn K không phải cấp dưỡng nuôi con. Bà Lê Thị D cùng các thành viên gia đình (nếu có) không được cản trở ông Nguyễn Tuấn K trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con. Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của người thân thích của con, cơ quan có thẩm quyền, Toà án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con, thay đổi mức cấp dưỡng nuôi con chung dựa trên các căn cứ do pháp luật quy định.

- Về án phí sơ thẩm: Bà Lê Thị D phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm 300.000 (ba trăm nghìn) đồng nhưng được trừ vào tiền tạm ứng án phí 300.000 (ba trăm nghìn) đồng đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0005911 do Phòng Thi hành án dân sự khu vực 11 - An Giang cấp ngày 23 tháng 10 năm 2025. Bà D đã nộp đủ. Ông Nguyễn Tuấn K không phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm. Đương sự có quyền kháng cáo trong thời hạn kháng cáo của các đương sự vắng mặt được tính là 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ