- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "Trần Bá Đ-Lý Văn C"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Trần Bá Đ với bị đơn ông Lý Văn C và bà Nguyễn Thị Thanh P về tranh chấp hợp đồng vay tài sản.
- Căn cứ chính? Điều 144 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 16 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH Bản án số: 61/2026/DS-ST Ngày: 05-02-2026 V/v tranh chấp hợp đồng vay tài sản |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 16 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: bà Phan Thị Hiền.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Trịnh Văn Lực;
2. Bà Nguyễn Thị Bửu Huệ.
- Thư ký phiên tòa: bà Phùng Kim Ngân, Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 16-Thành phố Hồ Chí Minh.
Vào ngày 05 tháng 02 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 16-Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 1068/2025/TLST-DS ngày 08 tháng 12 năm 2025 về tranh chấp hợp đồng vay tài sản theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 45/2026/QĐXXST-DS ngày 22 tháng 01 năm 2026, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: ông Trần Bá Đ, sinh năm 1968; địa chỉ: C, khu phố T, phường T, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn:
Bà Đinh Thị H, sinh năm 1991; địa chỉ: B đường N, khu nhà ở Đ, khu phố T, phường Đ, Thành phố Hồ Chí Minh. Có mặt.
Bà Nguyễn Ngọc Thùy L, sinh năm 2002; thường trú: Thôn A, xã Đ, tỉnh Lâm Đồng; địa chỉ liên hệ: Nhà D, đường N, khu nhà ở Đ, khu phố T, phường Đ, Thành phố Hồ Chí Minh. Có mặt.
- Bị đơn: Ông Lý Văn C, sinh năm 1974 và bà Nguyễn Thị Thanh P, sinh năm 1975; cùng địa chỉ: 1 khu phố B, phường D, Thành phố Hồ Chí Minh. Có yêu cầu giải quyết vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Theo đơn khởi kiện ngày 26/11/2025 và lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, người đại diện hợp pháp của nguyên đơn ông Trần Bá Đ là bà Đinh Thị H và bà Nguyễn Ngọc Thùy L trình bày:
Tháng 5/2024, ông Trần Bá Đ và ông Lý Văn C có quen biết nhau. Ngày 25/05/2024, ông Lý Văn C và bà Nguyễn Thị Thanh P vay ông Đ số tiền 100.000.000 đồng, hai bên lập giấy vay tiền, thời hạn trả gốc ngày 25/05/2025, lãi suất thoả thuận 20%/năm. Ông C, bà Phước đã nhận đủ tiền và thanh toán lãi đầy đủ đến hết ngày 25/05/2025. Tuy nhiên, đến hạn trả nợ, bị đơn không thực hiện nghĩa vụ thanh toán cho nguyên đơn. Ông Trần Bá Đ nhiều lần yêu cầu nhưng ông C, bà Phước né tránh, không liên lạc được.
Nay ông Trần Bá Đ yêu cầu Tòa án giải quyết: Buộc ông Lý Văn C và bà Nguyễn Thị Thanh P liên đới trả cho nguyên đơn số tiền nợ gốc 100.000.000 đồng và tiền lãi tính từ ngày 26/05/2025 đến 05/02/2026 là: 100.000.000 đồng x (10%/năm: 365 ngày) x 256 ngày = 7.012.000 đồng. Tổng cộng cả gốc và lãi là 107.012.000 đồng. Nguyên đơn yêu cầu được thanh toán khoản tiền nêu trên một lần ngay khi bản án có hiệu lực pháp luật.
- Tại phiên tòa, bị đơn ông Lý Văn C và bà Nguyễn Thị Thanh P trình bày: Ngày 25/5/2024, ông C và bà Phước vay ông Đ số tiền 100.000.000 đồng. Ông C và bà Phước đồng ý trả cho nguyên đơn số tiền còn nợ 100.000.000 đồng và tiền lãi theo mức lãi suất ngân hàng. Hiện nay, gia đình ông C, bà Phước kinh tế khó khăn nên xin trả cho ông Đ mỗi tháng từ 1.000.000 đồng đến 2.000.000 đồng cho đến khi thanh toán hết toàn bộ số nợ.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa, Tòa án nhận định như sau:
Về tố tụng: Bị đơn ông Lý Văn C và bà Nguyễn Thị Thanh P có yêu cầu giải quyết vắng mặt. Căn cứ Điều 227, 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án xét xử vắng mặt bị đơn.
Về nội dung: Xét thấy, nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bị đơn trả số tiền vay còn nợ 100.000.000 đồng. Bị đơn thừa nhận còn nợ nguyên đơn 100.000.000 đồng và đồng ý trả cho nguyên đơn số tiền còn nợ, đây là sự tự nguyện của bị đơn nên Hội đồng xét xử ghi nhận.
Về tiền lãi: Căn cứ giấy vay tiền ngày 25/5/2024 do nguyên đơn cung cấp thể hiện nội dung: nguyên đơn cho bị đơn vay 100.000.000 đồng, thời hạn thanh toán nợ gốc là ngày 25/5/2025, thời điểm thanh toán tiền lãi ngày 25/5 tây hàng tháng. Nguyên đơn không cung cấp được thỏa thuận về tiền lãi giữa nguyên đơn và bị đơn 20%/năm. Bị đơn đề nghị Tòa án giải quyết tiền lãi theo lãi suất ngân hàng. Như vậy, căn cứ giấy cho vay tiền ngày 25/5/2024 có cơ sở xác định đây là khoản tiền vay có thời hạn, không xác định mức lãi suất. Nguyên đơn xác định, kể từ ngày 25/5/2025, bị đơn chưa thanh toán cho nguyên đơn. Bị đơn không cung cấp chứng cứ về việc đã thanh toán tiền lãi và gốc cho nguyên đơn là vi phạm thỏa thuận giữa các bên. Vì vậy, nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bị đơn thanh toán tiền lãi tính từ ngày 26/5/2025 đến ngày 05/02/2026 mức lãi suất 10%/năm là 100.000.000 đồng x (10%/năm: 365 ngày) x 256 ngày = 7.012.000 đồng. Tổng cộng cả gốc và lãi: 107.012.000 đồng là phù hợp quy định tại các Điều 468, 470 Bộ luật Dân sự.
Về phương thức thanh toán: Bị đơn cho rằng do hoàn cảnh kinh tế khó khăn, yêu cầu trả cho nguyên đơn mỗi tháng từ 1.000.000 đồng đến 2.000.000 đồng nhưng không được nguyên đơn đồng ý nên không có cơ sở chấp nhận.
Từ những phân tích trên, có căn cứ chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Về án phí dân sự sơ thẩm: ông Lý Văn C và bà Nguyễn Thị Thanh P phải chịu theo quy định của Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự và khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ các Điều 144, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ các Điều 357, 468, 470 của Bộ luật Dân sự năm 2015;
Căn cứ khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí và lệ phí Tòa án.
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Trần Bá Đ với bị đơn ông Lý Văn C và bà Nguyễn Thị Thanh P về tranh chấp hợp đồng vay tài sản.
Buộc ông Lý Văn C và bà Nguyễn Thị Thanh P có trách nhiệm liên đới trả cho ông Trần Bá Đ số tiền 107.012.000 (một trăm lẻ bảy triệu không trăm mười hai nghìn) đồng; trong đó: nợ gốc 100.000.000 (một trăm triệu) đồng và nợ lãi 7.012.000 (bảy triệu không trăm mười hai nghìn) đồng.
Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, người phải thi hành án không thực hiện nghĩa vụ thanh toán thì người phải thi hành án phải chịu khoản tiền lãi theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015 tương ứng với số tiền và thời gian chậm thi hành án.
2. Án phí dân sự sơ thẩm: ông Lý Văn C và bà Nguyễn Thị Thanh P phải chịu 5.350.600 đồng.
Hoàn trả cho ông Trần Bá Đ 2.875.000 (hai triệu tám trăm bảy mươi lăm nghìn) đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tiền số 0044782 ngày 02/12/2025 của Thi hành án Dân sự Thành phố Hồ Chí Minh.
3. Đương sự có mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
4. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.
| Nơi nhận: -TAND Tp Hồ Chí Minh; -VKSND KV16-Thành phố Hồ Chí Minh; -CCTHA KV16-Thành phố Hồ Chí Minh; - Đương sự; - Lưu: VP, hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phan Thị Hiền |