- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng dịch vụ — án dân sự — "CÔNG TY S-TRẦN HỮU KHÁNH"
- Căn cứ chính? Điều 5 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 13 Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP Hướng dẫn áp dụng một số quy đ…; Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 - VĨNH LONG TỈNH VĨNH LONG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 61/2026/DS-ST Ngày: 23 - 4 - 2026 V/v tranh chấp hợp đồng cầm cố tài sản |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 - VĨNH LONG, TỈNH VĨNH LONG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Cao Minh Tân.
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Nguyễn Thị Sương.
Ông Phan Châu Ngọc.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ngọc Ánh - Thư ký Tòa án.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 - Vĩnh Long tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Tấn Đạt - Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 4 năm 2026 tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 2 - Vĩnh Long tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 153/2025/TLST-DS ngày 20 tháng 10 năm 2025 về “Tranh chấp hợp đồng cầm cố tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 55/2026/QĐXXST-DS ngày 04 tháng 3 năm 2026 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 254/2026/QĐST-DS ngày 02 tháng 4 năm 2026 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Công ty Cổ phần S Có Ngay.
Địa chỉ trụ sở: Số A, đường N, phường T, tỉnh Nghệ An.
Người đại diện theo pháp luật của nguyên đơn:
1. Ông Kanokwtpaisal N, sinh năm 1972 (Chủ tịch Hội đồng quản trị Công ty Cổ phần S - Vắng mặt).
2. Ông Teeravikavee K, sinh năm 1977 (Chức vụ Giám đốc Công ty Cổ phần S - Vắng mặt).
Cùng địa chỉ thường trú: Số A, Tổ dân phố C, xã B, huyện P, tỉnh Nonthaburi, Thái Lan.
Cùng địa chỉ liên lạc: Số A, Tổ dân phố I, ngã ba B, xã C, tỉnh Hà Tĩnh.
Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Anh Nguyễn Hoàng K1, sinh năm 1996 (Văn bản ủy quyền số 1996/2024/UQ-SVN ngày 05 tháng 5 năm 2025 - Vắng mặt, đơn đề nghị xét xử vắng mặt ngày 23 tháng 4 năm 2026).
Địa chỉ làm việc: Số B, ấp A, xã L, tỉnh Vĩnh Long.
- Bị đơn: Anh Trần Hữu K2, sinh năm 2001 (Vắng mặt).
Địa chỉ: Ấp T, xã C, tỉnh Vĩnh Long.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện ngày 23 tháng 9 năm 2025, đơn rút một phần yêu cầu khởi kiện ngày 23 tháng 4 năm 2026 của nguyên đơn Công ty Cổ phần S Có Ngay và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, người đại diện hợp pháp của nguyên đơn anh Nguyễn Hoàng K1 trình bày:
Ngày 14/8/2024, Công ty Cổ phần S Có Ngay - ngành nghề kinh doanh chính “Hoạt động cấp tín dụng khác - Dịch vụ cầm đồ” (gọi tắt là Công ty S1) cùng với anh Trần Hữu K2 ký kết Hợp đồng cầm cố (loại cầm xe mượn lại xe) số: V2M240801005NA22X kèm theo Phụ lục Hợp đồng cầm cố quy định điều khoản chung; Phiếu yêu cầu đăng ký biện pháp bảo đảm, hợp đồng và Phiếu đăng ký cầm cố xe máy được Cục Đăng ký quốc gia chứng nhận đăng ký giao dịch bảo đảm số: 1577029383, trực tuyến tại trang website địa chỉ “”; văn bản Thoản thuận thuê tài sản. Với nội dung:
- Công ty S1 đồng ý nhận cầm cố tài sản thuộc quyền sở hữu của anh K2 là xe mô tô nhãn hiệu Honda, số loại KC441 WINNEX, số máy KC34E5007120, số khung RLHKC4410NY204753, biển kiểm soát 64G1-415.79 theo giấy Chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe gắn máy số: 64000376 do Công an xã C, huyện M, tỉnh Vĩnh Long (Nay là Công an xã C, tỉnh Vĩnh Long) cấp ngày 08/3/2023; số tiền nhận cầm cố tài sản 16.117.021 đồng, mục đích phục vụ tiêu dùng cá nhân và kinh doanh; thời hạn cầm cố 12 tháng, kể từ ngày 14/8/2024 đến ngày 14/8/2025; lãi suất trong hạn cố định 1,1%/tháng, phí quản lý hồ sơ cố định 0,5%/tháng tính trên dư nợ gốc giảm dần, lãi suất quá hạn bằng 150% lãi suất trong hạn tính trên dư nợ gốc thực tế chuyển nợ quá hạn; phương thức giải ngân chuyển khoản vào tài khoản số 7301918611 đứng tên anh K2 mở tại Ngân hàng thương mại cổ phần Đ; phương thức trả gốc, lãi trong hạn và phí quản lý hồ sơ định kỳ hàng tháng (01 tháng là 30 ngày), mỗi kỳ trả 1,486.828,36 đồng vào ngày 14 của tháng. Ngoài ra, các bên còn thỏa thuận các khoản phí tổ chức kiểm tra giá trị tài sản ban đầu, phí đăng ký và xóa giao dịch đảm bỏ, phí trả nợ trước hạn; những trường hợp bên nhận cầm cố có quyền chuyển nợ quá hạn, chấm dứt hợp đồng cầm cố, thu hồi nợ trước hạn, xử lý tài sản cầm cố để thu hồi nợ khi bên cầm cố vi phạm.
- Tiếp theo Công ty S1 đồng ý cho anh K2 thuê lại tài sản cầm cố để sử dụng; thời hạn thuê 12 tháng, kể từ ngày 14/8/2024 đến ngày 14/8/2025; giá thuê nếu thanh toán trễ hạn không quá 05 ngày là 402.925,53 đồng/tháng, quá hạn là 870.319,15 đồng/tháng; phương thức trả tiền thuê hàng tháng vào ngày 14 của tháng. Ngoài ra, các bên còn thỏa thuận về mức phạt vi phạm; bên thuê tài sản phải có nghĩa vụ bảo quản đúng theo yêu cầu của bên cho thuê, bồi thường các khoản thiệt hại trong thời gian chậm trả lại tài sản và các nghĩa vụ khác đối với tài sản được cho thuê.
Thực hiện hợp đồng cầm cố và văn bản thỏa thuận thuê tài sản đã ký: Ngày 14/8/2024, anh K2 giao tài sản cầm cố xe mô tô biển kiểm soát 64G1-415.79 và giấy Chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe gắn máy số: 64000376 cho Công ty S1 nhận; Công ty S1 giải ngân cho anh K2 nhận số tiền 16.117.021 đồng và giao lại xe cho anh K2 thuê sử dụng. Kể từ khi được giải ngân và nhận tài sản cho thuê đến ngày 19/01/2025 (kỳ thanh toán lần thứ 6), anh K2 chỉ thanh toán được số tiền 7.970.000 đồng (Trong đó: gốc 5.036.000 đồng, lãi trong hạn 467.393,62 đồng, tiền thuê xe 2.446.606,38 đồng). Sau đó, anh K2 ngưng thanh toán các khoản nợ cho đến khi hợp đồng đáo hạn. Mặc dù, Công ty S1 đã nhiều lần làm việc, gửi thông báo nhắc nhở tạo điều kiện cho anh K2 thu xếp trả nợ, nhưng anh K2 vẫn không thực hiện. Tính đến ngày 23/4/2026, anh K2 nợ Công ty S1 tổng cộng số tiền 16.150.328 đồng (Trong đó: nợ gốc 11.081.021 đồng, nợ lãi trong hạn 1.418.298 đồng, nợ lãi quá hạn 1.035.079 đồng, nợ phí quản lý hồ sơ 251.559 đồng, nợ tiền thuê xe 1.236.180 đồng, nợ phí thanh toán trước hạn 1.128.191 đồng).
Nay Công ty S1 khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết:
- Buộc anh K2 phải có nghĩa vụ trả cho Công ty S1 nợ vay tính đến ngày 23/4/2026 số tiền 13.534.398 đồng (Trong đó: nợ gốc 11.081.021 đồng, nợ lãi trong hạn 1.418.298 đồng, nợ lãi quá hạn 1.035.079 đồng) và tiếp tục trả lãi quá hạn trên gốc chưa trả theo mức lãi suất thỏa thuận tại hợp đồng cầm cố đã ký, tính kể từ ngày 24/4/2026 cho đến khi trả xong nợ gốc số tiền 11.081.021 đồng. Đồng ý trả lại bản chính giấy Chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe gắn máy số: 64000376 cho anh K2.
- Rút lại một phần yêu cầu khởi kiện buộc anh K2 trả nợ phí mượn xe 1.236.180 đồng, phí quản lý hồ sơ 251.559 đồng, phí thanh toán trước hạn 1.128.191 đồng; yêu cầu biên tài sản xe mô tô biển kiểm soát 64G1-415.79 anh K2 đang quản lý sử dụng.
Trong quá trình giải quyết vụ án:
Anh K2 đã được tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng, nhưng đều vắng mặt tại các phiên họp, không giao nộp văn bản trình bày ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của Công ty S1 và cũng không giao nộp tài liệu, chứng cứ theo yêu cầu của Tòa án.
Tại phiên tòa sơ thẩm:
Anh K1, anh K2 đã được triệu tập xét xử hợp lệ lần thứ hai vắng mặt. Anh K1 có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Anh K2 vắng mặt không có lý do chính đáng vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan và không có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 - Vĩnh Long phát biểu ý kiến:
Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Thông qua kiểm sát việc giải quyết vụ án từ khi thụ lý đến thời điểm hiện nay thấy rằng Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và người tham gia tố tụng là người đại diện hợp pháp của nguyên đơn đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự, không có vi phạm; riêng bị đơn anh K2 không chấp hành đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về việc giải quyết vụ án: Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào lời trình bày của nguyên đơn, người đại diện hợp pháp của nguyên đơn, các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa đã được Kiểm sát viên nhận định, phân tích, cùng với điều luật viện dẫn đề nghị áp dụng như trong Phát biểu. Đề nghị Tòa án giải quyết:
- Về nội dung:
+ Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Công ty S1: Buộc anh K2 có nghĩa vụ trả cho Công ty S1 số tiền cầm cố tính đến ngày 23/4/2026 là 13.534.398 đồng (Trong đó: nợ gốc 11.081.021 đồng; nợ lãi trong hạn 1.418.298 đồng; nợ lãi quá hạn 1.035.079 đồng) và tiếp tục trả lãi quá hạn trên gốc chưa trả theo mức lãi suất thỏa thuận tại hợp đồng cầm cố đã ký. Thời điểm trả lãi quá hạn tiếp theo được tính kể từ ngày 24/4/2026 cho đến khi trả xong nợ gốc số tiền 11.081.021 đồng.
+ Đình chỉ xét xử một phần yêu cầu khởi kiện của Công ty S1 đã rút đối với yêu cầu anh K2 trả nợ phí mượn xe 1.236.180 đồng, phí quản lý hồ sơ 251.559 đồng, phí thanh toán trước hạn 1.128.191 đồng; yêu cầu biên tài sản xe mô tô biển kiểm soát 64G1-415.79 anh K2 đang quản lý sử dụng.
+ Ghi nhận sự tự nguyện của Công ty S1 đồng ý giao trả lại bản chính giấy Chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe gắn máy số: 64000376 cho anh K2.
- Về án phí dân sự sơ thẩm: Buộc anh K2 phải nộp án phí tính tròn số tiền 676.720 đồng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Tòa án nhận định như sau:
Về tố tụng:
Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Căn cứ vào khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án xác định đây là tranh chấp hợp đồng cầm cố tài sản thuộc loại vụ án tranh chấp về hợp đồng dân sự, thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 2 - Vĩnh Long.
Về việc rút một phần yêu cầu khởi kiện và phạm vi xét xử:
Căn cứ vào khoản 2 Điều 5, khoản 2 Điều 244 Bộ luật Tố tụng dân sự, xét thấy Công ty S1 rút lại một phần yêu cầu khởi kiện đối với yêu cầu anh K2 trả nợ tiền thuê xe, các khoản phí số tiền 2.615.930 đồng (Trong đó: nợ phí quản lý hồ sơ 251.559 đồng, nợ tiền thuê xe 1.236.180 đồng, nợ phí thanh toán trước hạn 1.128.191 đồng); yêu cầu kê biên xử lý tài sản cầm cố xe mô tô biển kiểm soát 64G1-415.79 hiện anh K2 đang quản lý sử dụng để thu hồi nợ là tự nguyện được Hội đồng xét xử chấp nhận và đình chỉ xét xử đối với phần yêu cầu khởi kiện đã rút.
Căn cứ vào khoản 1 Điều 5, khoản 1 Điều 188 Bộ luật Tố tụng dân sự, xét thấy ngoài các yêu cầu đã đình chỉ xét xử như nhận định tại đoạn [4] và yêu cầu anh K2 trả nợ vay, xử lý giấy tờ liên quan đến hợp đồng cầm cố đã được giải quyết như nhận định tại các mốc đơn [8], [9], Công ty S1 không yêu cầu giải quyết vấn đề gì khác trong hợp đồng cầm cố tài sản nên Tòa án không xem xét, giải quyết.
Về thủ tục xét xử: Căn cứ vào điểm a và điểm b khoản 1 Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt anh K1, anh K3 theo thủ tục chung.
Về nội dung:
Công ty S1 là pháp nhân Việt Nam có ngành nghề kinh doanh chính “Hoạt động cấp tín dụng khác - Dịch vụ cầm đồ” thuộc lĩnh vực ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện. Xét việc thỏa thuận xác lập, thực hiện hợp đồng cầm cố tài sản xe mô tô biển kiểm soát 64G1-415.79 bảo đảm thực hiện nghĩa vụ trả nợ có kỳ hạn cho khoản tiền vay 16.117.021 đồng và tiền lãi phát sinh với mức lãi suất trong hạn 1,1%/tháng, quá hạn 1,65%/tháng, thời hạn tính lãi 01 tháng là 30 ngày, giữa Công ty S1 và anh K2 trên cơ sở ký kết Hợp đồng cầm cố (loại cầm xe mượn lại xe) số: V2M240801005NA22X kèm theo Phụ lục Hợp đồng cầm cố quy định điều khoản chung; Phiếu yêu cầu đăng ký biện pháp bảo đảm, hợp đồng và Phiếu đăng ký cầm cố xe máy đã được Cục Đ1 chứng nhận đăng ký giao dịch bảo đảm số: 1577029383 là đúng trình tự, thủ tục, điều kiện có hiệu lực và hình thức của hợp đồng, chuyển giao tài sản tiền vay và mức lãi suất áp dụng, chuyển giao tài sản cầm cố, giấy tờ liên quan và đăng ký biện pháp bảo đảm được quy định tại khoản 1 Điều 117, Điều 119, điểm c khoản 1 Điều 146, khoản 1 Điều 292, các điều 295, 298, 309, 310, 311, 464, khoản 5 Điều 466, khoản 1 Điều 468 Bộ luật Dân sự; khoản 4 Điều 3, các khoản 2, 3 và 6 Điều 29 Nghị định số: 96/2016/NĐ-CP ngày 01/7/2016 của Chính phủ quy định về điều kiện an ninh, trật tự đối với một số ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện.
Trong quá trình thực hiện hợp đồng và đáo hạn hợp đồng, anh K2 vi phạm nghĩa vụ trả nợ tiền vay. Công ty S1 khởi kiện yêu cầu anh K2 trả nợ tính đến ngày 23/4/2026 số tiền 13.534.398 đồng (Trong đó: nợ gốc 11.081.021 đồng, nợ lãi trong hạn 1.418.298 đồng, nợ lãi quá hạn 1.035.079 đồng) và tiếp tục trả lãi quá hạn trên gốc chưa trả theo mức lãi suất thỏa thuận tại hợp đồng cầm cố đã ký, thời điểm trả lãi quá hạn tiếp theo được tính kể từ ngày 24/4/2026 cho đến khi trả xong nợ gốc số tiền 11.081.021 đồng; đồng ý tự nguyện giao trả lại bản chính giấy Chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe gắn máy số: 64000376 cho anh K2 là đúng quy định tại Điều 280, Điều 357, điểm b khoản 5 Điều 466, khoản 1 Điều 468 Bộ luật Dân sự; điểm a khoản 1 và khoản 2 Điều 13 Nghị quyết số: 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm.
Từ những phân tích và điều luật viện dẫn áp dụng, Tòa án chấp nhận đề nghị của Viện kiểm sát, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Công ty S1 giải quyết theo hướng đã nhận định như trên.
Về án phí dân sự sơ thẩm: Căn cứ vào Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; áp dụng khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, kèm theo danh mục án phí, lệ phí Toà án. Tòa án giải quyết:
Anh K2 phải chịu án phí tính tròn số tiền 676.720 đồng.
Hoàn trả cho Công ty S1 được nhận lại số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ vào khoản 1 Điều 117, Điều 119, điểm c khoản 1 Điều 146, các điều 280, 309, 310, 357, điểm b khoản 5 Điều 466, khoản 1 Điều 468 Bộ luật Dân sự; Điều 5, khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, khoản 1 Điều 188, điểm a và điểm b khoản 1 Điều 238, khoản 2 Điều 244 Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Áp dụng khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, kèm theo danh mục án phí, lệ phí Toà án; khoản 4 Điều 3, khoản 2 và khoản 6 Điều 29 Nghị định số: 96/2016/NĐ-CP ngày 01 tháng 7 năm 2016 của Chính phủ quy định về điều kiện an ninh, trật tự đối với một số ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện; điểm a khoản 1 và khoản 2 Điều 13 Nghị quyết số: 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11 tháng 01 năm 2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm.
Tuyên xử:
1. Về nội dung:
1.1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Công ty Cổ phần S Có Ngay.
1.1.1 Buộc anh Trần Hữu K2 có nghĩa vụ trả cho Công ty Cổ phần S Có Ngay số tiền 13.534.398 (Mười ba triệu năm trăm ba mươi bốn nghìn ba trăm chín mươi tám) đồng.
1.1.2. Buộc anh Trần Hữu K2 có nghĩa vụ tiếp tục trả lãi quá hạn tính trên nợ gốc chưa trả theo mức lãi suất quá hạn thỏa thuận tại Hợp đồng cầm cố (loại cầm xe mượn lại xe) số: V2M240801005NA22X kèm theo Phụ lục Hợp đồng cầm cố quy định điều khoản chung đã ký ngày 14 tháng 8 năm 2024 cho Công ty Cổ phần S Có Ngay. Thời điểm trả lãi quá hạn tiếp theo được tính kể từ ngày 24 tháng 4 năm 2026 cho đến khi trả xong nợ gốc số tiền 11.081.021 (Mười một triệu không trăm tám mươi mốt nghìn không trăm hai mươi mốt) đồng.
1.1.3. Ghi nhận ý kiến của Công ty Cổ phần S Có Ngay đồng ý giao trả lại anh Trần Hữu K2 giấy Chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe gắn máy số: 64000376 do Công an xã C, huyện M, tỉnh Vĩnh Long (Nay là Công an xã C, tỉnh Vĩnh Long) cấp ngày 08 tháng 3 năm 2023.
1.2. Đình chỉ xét xử một phần yêu cầu khởi kiện của Công ty Cổ phần S Có Ngay đã rút đối với yêu cầu anh Trần Hữu K2 trả nợ tiền thuê xe và các khoản phí số tiền 2.615.930 (Hai triệu sáu trăm mười lăm nghìn chín trăm ba mươi) đồng; yêu cầu kê biên xử lý tài sản cầm cố xe mô tô biển kiểm soát 64G1-415.79 hiện anh Trần Hữu K2 đang quản lý sử dụng để thu hồi nợ.
1.3. Đối với các vấn đề khác: Không có tranh chấp yêu cầu nên Tòa án không xem xét giải quyết.
2. Về án phí dân sự sơ thẩm:
2.1. Buộc anh Trần Hữu K2 phải nộp án phí số tiền 676.720 (Sáu trăm bảy mươi sáu nghìn bảy trăm hai mươi) đồng.
2.2. Hoàn trả cho Công ty Cổ phần S Có Ngay được nhận lại số tiền 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số: 0005361 ngày 13 tháng 10 năm 2025 của Thi hành án dân sự tỉnh Vĩnh Long.
3. Vụ án được xét xử công khai. Có mặt anh Nguyễn Hoàng K1; vắng mặt ông Kanokwtpaisal N, ông Teeravikavee K, anh Trần Hữu K2. Báo cho ông Kanokwtpaisal N, ông Teeravikavee K, anh K1 biết có quyền đại diện Công ty Cổ phần S Có Ngay kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án để Tòa án cấp trên xem xét theo thủ tục phúc thẩm. Riêng anh K2 vắng mặt thì thời hạn kháng cáo nêu trên được tính kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
4. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Vĩnh Long: 02; - VKSND khu vực 2 - Vĩnh Long: 02; - THADS tỉnh Vĩnh Long: 02; - ĐS + ĐD.ĐS: 04; - Lưu hồ sơ vụ án: 01; - Lưu án văn: 06. - | THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ (Đã ký) Cao Minh Tân |