- Tranh chấp gì? án hình sự — "Bản án số: 61/2025/HS-ST - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Xử phạt bị cáo Nguyễn Hoài N 03 (ba) năm 03 (ba) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam 03/7/2025
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1- TUYÊN QUANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 61/2025/HS-ST Ngày 05/11/2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT N
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TUYÊN QUANG, TỈNH TUYÊN QUANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Vương Thị Lan
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Thế Dũng
Ông Đinh Công Định
- Thư ký phiên tòa: Bà Phúc Hương Linh - Thư ký Tòa án nhân dân Khu vực 1- Tuyên Quang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 1- Tuyên Quang tham gia phiên tòa: Ông Trần Hà Giang - Kiểm sát viên.
Ngày 05 tháng 11 năm 2025, tại điểm cầu trung tâm Hội trường xét xử của Tòa án nhân dân Khu vực 1- Tuyên Quang, xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hình sự thụ lý số 54/2025/TLST-HS ngày 16 tháng 10 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 56/2025/QĐXXST-HS ngày 26/10/2025, đối với các bị cáo:
1. Nguyễn Hoài N; Giới tính: N; Sinh ngày 20/8/1991;
Nơi ĐKHKTT thường trú và chỗ ở: Tổ dân phố 11, phường B, tỉnh Tuyên Quang; Quốc tịch: Việt N; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 9/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Chức vụ trước khi phạm tội (đảng, chính quyền, đoàn thể): Không; Con ông Nguyễn Văn N, sinh năm 1953 và bà Ngô Thị M, sinh năm 1963; Anh, chị em ruột: Có 04 người, bị cáo là con thứ tư; Vợ: Nông Thị H, sinh năm 1996 (đã ly hôn); Con: Có 01 con, sinh năm 2021 (đã chết);
- Tiền án, tiền sự, nhân thân: Không.
* Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 03/7/2025 đến nay, hiện đang bị tạm giam tại Trại Tạm giam Số 1 Công an tỉnh Tuyên Quang. Có mặt.
2. Hoàng Văn M; Giới tính: N; Sinh ngày 25/10/1995;
Nơi ĐKHKTT thường trú và chỗ ở: Tổ dân phố 8, phường B, tỉnh Tuyên Quang; Quốc tịch: Việt N; Dân tộc: Cao Lan; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 6/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Chức vụ trước khi phạm tội (đảng, chính quyền, đoàn thể): Không; Con ông Hoàng Văn T (Đã chết) và bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1969; Anh, chị em ruột: Có 03 người, bị cáo là con thứ hai; Vợ: Vi Thị T, sinh năm 2006; Con: Chưa có;
- Tiền án, tiền sự, nhân thân: Không.
* Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 04/7/2025 đến nay, hiện đang bị tạm giam tại Trại Tạm giam Số 1 Công an tỉnh Tuyên Quang. Có măt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Ngày 28/6/2025, Nguyễn Hoài N trú tại tổ 11, phường B, tỉnh Tuyên Quang (N làm phụ xe khách Cường An, tuyến Tuyên Quang - Mỹ Đình) truy cập mạng xã hội Facebook thì thấy có một Fanpage có thông tin giao bán ma túy loại Cần sa (Không xác định được trang Fanpage), sau đó N gọi điện qua Messenger hỏi mua Cần sa thì người này đồng ý. Khoảng 20 giờ cùng ngày, N đi làm theo xe khách Cường An đến bến xe khách Mỹ Đình thì gặp và mua được từ một người đàn ông (không xác định được nhân thân) 18 túi nilon màu trắng, viền đỏ, bên trong chứa Cần sa với giá 3.750.000đồng. Sau khi mua được ma túy, N ra chỗ vắng người sử dụng hết 01 gói bằng hình thức đốt hút vào cơ thể, số ma túy còn lại cất giấu trên người, mục đích để bán.
Sáng ngày 29/6/2025, N phụ xe khách đi về Tuyên Quang và liên hệ với Hoàng Văn M trú tại tổ 8, phường B, tỉnh Tuyên Quang để cùng thống nhất việc mua bán ma túy. Khi có người hỏi mua, N sẽ nhắn tin số điện thoại người mua cho M để M cầm ma túy đi bán cho khách. Mỗi gói Cần sa giá 200.000đồng, M được hưởng 40.000đồng tiền công, N được hưởng 160.000đồng, M đồng ý.
Khoảng 17 giờ cùng ngày, N mang 10 gói Cần sa sang quán ăn của M tại khu vực khu công nghiệp Long Bình An, thuộc tổ dân phố 4, phường B, tỉnh Tuyên Quang cất vào rổ đựng bát đĩa tại khu vực rửa bát của quán và báo cho M biết, sau đó M về cất số ma túy vào trong bếp, mục đích nếu ai hỏi mua thì bán.
Khoảng 22 giờ ngày 01/7/2025, Trần Lê Phương N, trú tại tổ 18, phường B, tỉnh Tuyên Quang gọi điện thoại cho Hoài N hỏi mua 200.000đồng Cần sa, Hoài N đồng ý và hẹn Phương N ra gần khu công nghiệp Long Bình An lấy ma túy. Sau đó Hoài N nhắn tin cho M về việc có người hỏi mua Cần sa với nội dung: "tí gọi số này nó lấy một gói 0363.388.583". Sau đó M mang 01 gói Cần sa ra khu vực cây xăng Km 11 đường Tuyên Quang - Hà Nội thuộc tổ dân phố 4, phường B, tỉnh Tuyên Quang bán cho Phương N với giá 200.000đồng. Sau khi bán ma tuý xong M đi về lấy 01 gói Cần sa ra sử dụng bằng hình thức đốt, hít vào cơ thể (Hoài N không biết M tự ý sử dụng 01 gói cần sa). Số tiền 200.000đồng bán ma túy M đã chi tiêu cá nhân hết. Đối với Phương N, sau khi mua được ma túy đã sử dụng hết bằng hình thức đốt, hít vào cơ thể.
Khoảng 12 giờ ngày 03/7/2024, Nguyễn Hoài N mang theo 03 túi nilon màu trắng viền đỏ, bên trong chứa Cần sa, điều khiển xe mô tô không gắn biển số (số khung RLHJA391XL Y049582, số máy JA39E11384412, nhãn hiệu Honda Wave) tham gia giao thông, khi đến đường Bình Thuận, thuộc tổ 8, phường M Xuân, tỉnh Tuyên Quang thì xảy ra va chạm với xe ô tô biển số 97A-067.05, sau khi xảy ra tai nạn Nguyễn Hoài N được đưa đến Bệnh viện Hoàng Việt khám và đưa về Phòng Cảnh sát giao thông Công an tỉnh Tuyên Quang làm việc. Quá trình làm việc nhận thấy Nguyễn Hoài N có biểu hiện sử dụng trái phép chất ma túy nên tiến hành xét nghiệm tìm chất ma túy trong cơ thể N, kết quả dương tính, có chất ma túy trong cơ thể. Nguyễn Hoài N khai nhận sử dụng ma túy Cần sa ngày 28/6/2025, đồng thời tự giác giao nộp trong túi quần bên trái đang mặc 03 túi nilon màu trắng viền đỏ, bên trong chứa Cần sa, N mang theo mục đích để bán.
Hồi 20 giờ 05 phút ngày 03/7/2025, tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Nguyễn Hoài N, kết quả thu giữ trên mặt bàn kê trong phòng ngủ tại tầng 2 của N: 04 túi nilon màu trắng, trên mép có đường viền màu đỏ, bên trong chứa chất thực vật màu xanh; 01 cân điện tử có ghi chữ "Digitali Pocket Scale 300g x 0,01g x AAA Batteries Made in China".
Cùng ngày 03/7/2025, Cơ quan điều tra tiến hành triệu tập Hoàng Văn M, kết quả M khai nhận đã bán ma túy cho Phương N như trên, đồng thời M giao nộp 08 túi nilon màu trắng, viền đỏ, bên trong chứa Cần sa.
Ngày 03/7/2025 tiến hành xét nghiệm tìm chất ma túy trong cơ thể Hoàng Văn M, Trần Lê Phương N, kết quả dương tính, có chất ma túy trong cơ thể.
- Kết luận giám định số 760/KL-KTHS ngày 08/7/2025 của Phòng KTHS Công an tỉnh Tuyên Quang kết luận: Mẫu vật thu giữ của Nguyễn Hoài N gửi giám định là chất ma túy, loại Cần sa, khối lượng 5,447g (Năm phẩy bốn bốn bảy gam).
- Kết luận giám định số 761/KL-KTHS ngày 08/7/2025 của Phòng KTHS Công an tỉnh Tuyên Quang kết luận: Mẫu vật thu giữ của Hoàng Văn M gửi giám định là chất ma túy, loại Cần sa, khối lượng 4,454g (Bốn phẩy bốn năm bốn gam).
Tại Cơ quan điều tra, các bị can Nguyễn Hoài N và Hoàng Văn M đã khai nhận hành vi phạm tội của mình. Hành vi phạm tội của bị can còn được chứng M bằng: Biên bản khám xét, vật chứng thu giữ, kết luận giám định cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.
Tại bản Cáo trạng số 02/CT-VKSTP ngày 16/10/2025 của Viện kiểm sát nhân dân nhân Khu vực 1- Tuyên Quang đã truy tố các bị cáo Nguyễn Hoài N và Hoàng Văn M về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, theo quy định tại khoản 1, Điều 251 Bộ luật Hình sự (sửa đổi, bổ sung năm 2025).
Tại phiên tòa: Kết thúc phần xét hỏi, Kiểm sát viên giữ quyền công tố giữ nguyên quan điểm truy tố các bị cáo Nguyễn Hoài N và Hoàng Văn M về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, theo quy định tại khoản 1, Điều 251 Bộ luật Hình sự (sửa đổi, bổ sung năm 2025) và đề nghị Hội đồng xét xử:
* Áp dụng khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17, Điều 58, Điều 38 của Bộ luật Hình sự ((sửa đổi, bổ sung năm 2025). Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Hoài N và Hoàng Văn M phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”;
Xử phạt các bị cáo Nguyễn Hoài N, Hoàng Văn M từ 03 (ba) năm đến 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giam;
Đề nghị HĐXX không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.
* Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
Tịch thu tiêu hủy: 4,354g Cần sa (Số còn lại sau giám định) tang vật thu giữ Nguyễn Hoài N; 3,148g Cần sa (Số còn lại sau giám định) tang vật thu giữ của Hoàng Văn M; 01 Cân điện tử, 02 thẻ sim: thẻ sim có số thuê bao 0979.779.998 và thẻ sim có số thuê bao 0859.144.962 của Nguyễn Hoài N; 01 thẻ sim có só thuê bao 0325.708.99 của Hoàng Văng M.
Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước: Đối với Nguyễn Hoài N: 01 điện thoại nhãn hiệu Iphone 12 Pro Max; Đối với Hoàng Văn M: 01 điện thoại nhãn hiệu Redmi Note 12 5G.
Truy thu nộp ngân sách Nhà nước đối Hoàng Văn M số tiền 2.00.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) do bị cáo Hoàng Văn M phạm tội mà có.
Tình trạng vật chứng như Biên bản giao nhận vật chứng ngày 05/11/2025 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Tuyên Quang Tuyên Quang và Phòng thi hành án dân sự tỉnh Tuyên Quang Tuyên Quang.
+ Tuyên nghĩa vụ chịu án phí của các bị cáo và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
- Các bị cáo không kêu oan và tiếp tục nhận tội, nội dung khai báo của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra, không có tình tiết gì mới; các bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại gì về kết luận giám định của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Tuyên Quang; Các bị cáo nhất trí với luận tội của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tuyên Quang, không có ý kiến tranh luận và cũng không có ý kiến gì để bào chữa cho hành vi phạm tội của mình.
Kết thúc phần tranh luận, các bị cáo nói lời sau cùng: Các bị cáo đều xác định hành vi của mình là vi phạm pháp luật, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho các bị cáo được hưởng mức án nhẹ nhất.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng: Quá trình khởi tố, điều tra, truy tố các Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Tại phiên tòa, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng nhiệm vụ, quyền hạn khi thực hành quyền công tố. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về hành vi phạm tội của các bị cáo: Tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa, các bị cáo Nguyễn Hoài N và Hoàng Văn M khai nhận hành vi phạm tội của mình, lời khai của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra. Hành vi phạm tội của các bị cáo còn được chứng M bằng biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản khám xét khẩn cấp; vật chứng thu giữ; kết luận giám định cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Do vậy Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 22 giờ 00 phút ngày 01/7/2025, tại tổ dân phố 4, phường B, tỉnh Tuyên Quang Nguyễn Hoài N trú tại tổ dân phố 11, phường B, tỉnh Tuyên Quang và Hoàng Văn M trú tại tổ dân phố 8, phường B, tỉnh Tuyên Quang đã có hành vi bán cho Trần Lê Phương N, trú tại tổ dân phố 18, phường B, tỉnh Tuyên Quang 01 gói Cần sa với giá 200.000đồng.
Ngoài ra Nguyễn Hoài N còn có hành vi tàng trữ trái phép 5,447g (Năm phẩy bốn bốn bảy gam) Cần sa và giao cho Hoàng Văn M 4,454g (Bốn phẩy bốn năm bốn gam) Cần sa mục đích để bán, nhưng chưa kịp bán thì bị phát hiện.
Các bị cáo Nguyễn Hoài N, Hoàng Văn M là người có năng lực trách nhiệm hình sự, hành vi mua bán trái phép chất ma túy của các bị cáo thực hiện với lỗi cố ý, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma tuý. Do vậy, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tuyên Quang truy tố các bị cáo Nguyễn Hoài N, Hoàng Văn M về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” theo quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự (sửa đổi, bổ sung năm 2025) Bộ luật hình sự là đúng người đúng tội, đúng quy định của pháp luật cần chấp nhận.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo Nguyễn Hoài N, Hoàng Văn M không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên Hội đồng xét xử áp dụng cho các bị cáo tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Về hình phạt: Hành vi phạm tội của các bị cáo nguy hiểm cho xã hội đã gây mất trật tự trị an tại địa phương, làm ảnh hưởng đến phong trào đấu tranh phòng, chống tội phạm và bài trừ tệ nạn ma tuý trên địa bàn thành phố Tuyên Quang. Do vậy, cần buộc các bị cáo phải chấp hành hình phạt tại cơ sở giam giữ trong một thời hạn nhất định nhằm giáo dục bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung. Tuy nhiên, các bị cáo đều có nhân thân tốt, không có tiền án tiền sự nên khi lượng hình HĐXX cũng cân nhắc để xem xét mức hình phạt phù hợp đối với các bị cáo để đảm bảo tính khoan hồng của Nhà nước đối với người phạm tội.
Trong vụ án này, các bị cáo Nguyễn Hoài N và bị cáo Hoàng Văn M là đồng phạm nhưng xét thấy về tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi của bị cáo Nguyễn Hoài N là nguy hiểm hơn. Do vậy, khi quyết định hình phạt Hội đồng xét xử xét thấy cần tuyên phạt đối với bị cáo Nguyễn Hoài N với mức án cao hơn bị cáo Hoàng Văn M. Căn cứ tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội của các bị cáo nhân thân của các bị cáo, khối lượng ma túy tàng trữ, cũng như tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự áp dụng đối với các bị cáo, Hội đồng xét xử thấy mức án mà Viện kiểm sát đề nghị là phù hợp cần chấp nhận.
Theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của các bị cáo tại phiên tòa cũng như các tài liệu có trong hồ sơ vụ án cho thấy các bị cáo Nguyễn Hoài N và Hoàng Văn M đều là lao động tự do, không có tài sản riêng. Do đó, Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là tiền phạt bổ sung đối với các bị cáo như đề nghị của Kiểm sát viên là phù hợp nên chấp nhận.
Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của Hoàng Văn M, Trần Lê Phương N, Nguyễn Hoài N. Ngày 09/7/2025, Công an tỉnh Tuyên Quang đã xử phạt vi phạm hành chính tại Quyết định số 110, 111/QĐ-XPHC, hình thức phạt Cảnh cáo đối với M; phạt tiền 1.000.000đồng đối với Phương N. Ngày 16/7/2025, Phòng CSGT Công an tỉnh Tuyên Quang đã xử phạt vi phạm hành chính đối với Hoài N tại Quyết định số G01.809.308.006-981-25-005018/QĐ-XPHC, hình thức phạt tiền 20.000.000đồng.
Đối với người đàn ông bán Cần sa cho Nguyễn Hoài N tại khu vực bến xe khách Mỹ Đình, thành phố Hà Nội, quá trình điều tra không xác định được họ, tên, địa chỉ cụ thể nên không có căn cứ để điều tra xử lý.
Về vật chứng: Ngày 03/7/2025, Cơ quan điều tra thu giữ của Nguyễn Hoài N: 01 điện thoại nhãn hiệu Iphone 12 Pro Max, bên trong lắp 02 thẻ sim 0979.779.998 và 0859.144.962; 4,354g Cần sa (Số còn lại sau giám định) cùng bao gói được niêm phong trong 01 bì giấy còn nguyên vẹn, được dán kín, mặt trước bì ghi "Tang vật vụ Nguyễn Hoài N giám định ngày 04/7/2025", mặt sau trên các mép dán có chữ ký giáp lai của Nguyễn Hoài N, thành phần tham gia niêm phong cùng 05 hình dấu của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Tuyên Quang; 01 Cân điện tử có ghi chữ "Digitali Pocket Scale 300g x 0,01g x AAA Batteries Made in China" được niêm phong trong bì giấy còn nguyên vẹn, được dán kín.
Ngày 04/7/2025, Cơ quan điều tra thu giữ của Hoàng Văn M: 01 điện thoại nhãn hiệu Redmi Note 12 5G, trong điện thoại có lắp 01 sim 0325.708.995; 3,148g Cần sa (Số còn lại sau giám định) cùng bao gói được niêm phong trong bì giấy còn nguyên vẹn, được dán kín, mặt trước bì ghi "Tang vật vụ Hoàng Văn M giám định ngày 04/7/2025", mặt sau trên các mép dán có chữ ký giáp lai của Hoàng Văn M, thành phần tham gia niêm phong cùng 05 hình dấu của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Tuyên Quang.
Quá trình điều tra Cơ quan điều tra còn tạm giữ của Nguyễn Hoài N 01 xe mô tô không gắn biển số, số khung RLHJA391XL Y049582, số máy JA39E11384412, nhãn hiệu Honda, màu sơn đen-bạc, số loại Wave, không có gương chiếu hậu, xe cũ đã qua sử dụng.
Xét thấy khối lượng ma túy là Cần sa còn lại sau khi lấy mẫu giám định là tang vật của vụ án, là chất Nhà nước cấm tàng trữ và lưu hành; 01 Cân điện tử thu giữ của Nguyễn Hoài N và các sim điện thoại thu giữ của các bị cáo là tang vật của vụ án không có giá trị sử dụng cần tịch thi tiêu hủy.
Đối với điện thoại Cơ quan Cảnh sát điều tra thu giữ của bị cáo Nguyễn Hoài N và bị cáo Hoàng Văn M, các bị cáo sử dụng làm công cụ phạm tội, do vậy tịch thu nộp ngân sách Nhà nước;
Đối với số tiền 2.00.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) do bị cáo Hoàng Văn M bán ma túy, xác định là tiền do bị cáo Hoàng Văn M tội mà có, bị cáo đã chi tiêu hết. Do vậy, cần truy thu để nộp ngân sách Nhà nước.
Đối với 01 xe mô tô không gắn biển số, số khung RLHJA391XL Y049582, số máy JA39E11384412, nhãn hiệu Honda, màu sơn đen-bạc, số loại Wave, không có gương chiếu hậu, xe cũ đã qua sử dụng. N khai mua chiếc xe trên giữa năm 2023 của một người đàn ông không quen biết tại quán nước thuộc phường B, tỉnh Tuyên Quang (N không biết nguồn gốc xe). Kết quả điều tra xác định chiếc xe là tài sản của chị Đặng Thị L, sinh năm 1986, trú tại thôn 1 Vàn, xã P, tỉnh Lào Cai, chị L bị mất trộm chiếc xe trên khoảng đầu năm 2020. Ngày 25/9/2025 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Tuyên Quang đã ban hành Quyết định số 4869/QĐ-CSMT, tách hành vi và tài liệu trong vụ án, chuyển chiếc xe mô tô trên đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Lào Cai để giải quyết theo thẩm quyền. Do vậy, HĐXX không xem xét giải quyết trong vụ án này.
Các bị cáo không thuộc trường hợp được miễn án phí. Do vậy, mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm; các bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 17; Điều 58 của Bộ luật Hình sự (sửa đổi, bổ sung năm 2025) đối với các bị cáo Nguyễn Hoài N, Hoàng Văn M Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Hoài N, Hoàng Văn M phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy;
- Xử phạt bị cáo Nguyễn Hoài N 03 (ba) năm 03 (ba) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam 03/7/2025
- Xử phạt bị cáo Hoàng Văn M 03 (ba) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam 04/7/2025
2. Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
- Tịch thu tiêu hủy:
+ 4,354g Cần sa (Số còn lại sau giám định) cùng bao gói được niêm phong trong 01 bì giấy còn nguyên vẹn, được dán kín, mặt trước bì ghi "Tang vật vụ Nguyễn Hoài N giám định ngày 04/7/2025", mặt sau trên các mép dán có chữ ký giáp lai của Nguyễn Hoài N, thành phần tham gia niêm phong cùng 05 hình dấu của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Tuyên Quang; 01 Cân điện tử có ghi chữ "Digitali Pocket Scale 300g x 0,01g x AAA Batteries Made in China" được niêm phong trong bì giấy còn nguyên vẹn, được dán kín.
+ 3,148g Cần sa (Số còn lại sau giám định) cùng bao gói được niêm phong trong bì giấy còn nguyên vẹn, được dán kín, mặt trước bì ghi "Tang vật vụ Hoàng Văn M giám định ngày 04/7/2025", mặt sau trên các mép dán có chữ ký giáp lai của Hoàng Văn M, thành phần tham gia niêm phong cùng 05 hình dấu của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Tuyên Quang.
+ 01 Cân điện tử của Nguyễn Hoài N;
+ 02 thẻ sim: thẻ sim có số thuê bao 0979.779.998 và thẻ sim có số thuê bao 0859.144.962 của Nguyễn Hoài N;
+ 01 thẻ sim có só thuê bao 0325.708.99 của Hoàng Văng M.
- Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước: Đối với Nguyễn Hoài N: 01 điện thoại nhãn hiệu Iphone 12 Pro Max; Đối với Hoàng Văn M: 01 điện thoại nhãn hiệu Redmi Note 12 5G.
- Truy thu nộp ngân sách Nhà nước: Đối Hoàng Văn M số tiền 2.00.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) do bị cáo Hoàng Văn M phạm tội mà có.
Tình trạng vật chứng như Biên bản giao nhận vật chứng ngày 05/11/2025 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Tuyên Quang Tuyên Quang và Phòng thi hành án dân sự tỉnh Tuyên Quang Tuyên Quang.
3. Căn cứ khoản 2 Điều 136; khoản 1 Điều 331, khoản 1 Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:
Các bị cáo Nguyễn Hoài N, bị cáo Hoàng Văn M, mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Các bị cáo Nguyễn Hoài N, bị cáo Hoàng Văn M được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án 05/11/2025.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Tuyên Quang; - VKSND tỉnh Tuyên Quang; - VKSND Khu vực 1- Tuyên Quang; - Thi hành án dân sự tỉnh Tuyên Quang; - Trại tạm giam số 1 - CA tỉnh Tuyên Quang; - UBND phường B, tỉnh Tuyên Quang; - Bị cáo; bị hại; - Người có QLNVLQ; - Hồ sơ vụ án hình sự; THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG Hà Hữu Bình Lý Thị Nhân | T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Vương Thị Lan THẨM PHÁN CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Vương Thị Lan |