vanban.org

Bản án 61/2025/HS-ST — Hình sự

TAND tỉnh Quảng Ngãi Tuyên án 29/07/2025 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Hữu H, Phan Quang T1 phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

1. Áp dụng: Điểm h khoản 3 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 58; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017; Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Hữu H 17 (Mười bảy) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giữ, tạm giam (Ngày 18/9/2024). Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Hữu H và đồng phạm "Mua bán trái phép chất ma tuý" - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số đi…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Hữu H, Phan Quang T1 phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 17 Bộ luật Hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH QUẢNG NGÃI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 61/2025/HS-ST
Ngày: 29 - 7 - 2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NGÃI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Mỹ Giang.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Hoài Trung;

Ông Nguyễn Đăng Thương.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Tuấn Phong - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ngãi.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ngãi tham gia phiên tòa: Ông Võ Duy Khải – Kiểm sát viên.

Trong các ngày 28 và 29 tháng 7 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ngãi xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 79/2025/TLST-HS ngày 09 tháng 6 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 81/2025/QĐXXST-HS ngày 14 tháng 7 năm 2025 đối với các bị cáo:

1. Họ và tên: Nguyễn Hữu H; sinh ngày: 02/01/2003 tại tỉnh Phú Thọ; nơi cư trú: Xã X, huyện H, tỉnh Phú Thọ (Nay là xã H, tỉnh Phú Thọ); nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa: 8/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Hữu T (đã chết) và bà Nguyễn Thị H1; vợ, con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không; về nhân thân: ngày 15/01/2025, bị Phòng CSĐTTP về ma túy Công an tỉnh Q xử phạt vi phạm hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, theo quyết định số 01/QĐ-XPHC, hình thức: phạt tiền, số tiền 3.500.000 đồng, đã nộp phạt xong; bị cáo bị tạm giữ, tạm giam tại Trại tạm giam số 01 Công an tỉnh Q từ ngày 18/9/2024 cho đến nay; bị cáo có mặt tại phiên tòa.

2. Họ và tên: Phan Quang T1; sinh ngày: 07/10/2001 tại tỉnh Quảng Ngãi; nơi cư trú: Thôn S, xã B, huyện B, tỉnh Quảng Ngãi (Nay là xã B, tỉnh Quảng Ngãi); nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa: 11/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phan Quang T2 và bà Trần Thị T3; vợ, con: Chưa có; tiền án; tiền sự: Không; bị cáo bị tạm giữ, tạm giam tại Trại tạm giam số 01 Công an tỉnh Q từ ngày 18/9/2024 cho đến nay; bị cáo có mặt tại phiên tòa.

- Người bào chữa theo luật định cho bị cáo Nguyễn Hữu H: Ông Nguyễn Xuân V – Luật sư Văn phòng L2; địa chỉ: Tầng E tòa nhà R, số A đường H, phường N, tỉnh Quảng Ngãi; vắng mặt.

- Người bào chữa theo luật định cho bị cáo Phan Quang T1: Luật sư Phan H2 – Văn phòng L3, thuộc Đoàn luật sư tỉnh Q; địa chỉ: Xóm B, thôn T, Phường T, tỉnh Quảng Ngãi; có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào chiều ngày 15/9/2024, Nguyễn Hữu H liên lạc qua ứng dụng telegram với người tên N (không rõ lai lịch, ở thành phố Q) mua 50 (năm mươi) viên ma túy kẹo và ma túy khay với số tiền 25.000.000 đồng (hai mươi lăm triệu đồng). Sau đó, Nguyễn Hữu H đưa số điện thoại của người giao ma túy cho Phan Quang T1 để T1 liên lạc nhận ma túy tại hẻm Đ, thành phố Q. Khi nhận được ma túy, T1 đem về nhà Lô N, Lộc Phát 3 cất giấu (ngôi nhà do T1 thuê theo yêu cầu của H vào ngày 09/8/2024 để ở). Đến chiều ngày 17/9/2024, Nguyễn Hữu H từ Thành phố Hồ Chí Minh về đến thành phố Q. Tại ngôi nhà trên T1 lấy ma túy ra cùng phân chia ma túy khay thành 74 (bảy mươi bốn) túi và cất giấu tất cả số ma túy (khay, kẹo) tại phòng ở của H để bán lại cho người khác. H lấy một ít ma túy khay bỏ vào đĩa sứ để sử dụng một mình.

Sau đó, đến khoảng 17 giờ ngày 17/9/2024, H đã bán cho một người phụ nữ tên L ở B (một) túi ma túy khay với giá 1.200.000đồng (một triệu hai trăm nghìn đồng), T1 là người trực tiếp cầm ma túy đi giao cho L tại thị trấn C, huyện B (L chưa trả tiền mua ma túy cho H). Đến khoảng 22 giờ 00 cùng ngày, một người có tài khoản zalo tên “Hùng K” gọi điện vào tài khoản zalo của H tên “Nguyễn Thành K1” hỏi mua ma túy gồm nửa hộp 5 ma túy “khay” và 02 (hai) viên ma túy “kẹo”, Hiệp đồng Ý và nói giá là 2.200.000 đồng (hai triệu hai trăm nghìn đồng), rồi nói người mua ma túy chuyển tiền vào tài khoản B tên Ninh Thị Q, sau khi “Hùng K” chuyển tiền thì H đưa cho T1 cuộn băng keo màu vàng quấn bên trong một mảnh giấy gói 01 (một) túi ni lông màu trắng chứa chất rắn màu trắng và 02 (hai) viên nén màu vàng để T1 đi giao, H nhắn tin qua ứng dụng Telegram số điện thoại người mua ma túy là 0762307916 cho T1. Khi T1 cầm ma túy mở cửa ra khỏi nhà thì bị lực lượng Công an phát hiện, bắt quả tang, thu giữ: 01 (một) cuộn băng keo màu vàng quấn bên trong một mảnh giấy gói 01 (một) túi ni lông màu trắng chứa chất rắn màu trắng và 02 (hai) viên nén màu vàng. Tiến hành kiểm tra phòng ở của Nguyễn Hữu H, phát hiện tại chỗ H ngồi có 01 (một) túi vải màu đen bên trong chứa 07 (bảy) túi ni lông màu trắng viền đỏ, bên trong chứa chất rắn màu trắng; 01 (một) túi ni lông màu trắng viền trắng, bên trong chứa chất rắn màu trắng và 01 (một) cân tiểu ly có chữ Amput; 06 (sáu) túi ni lông màu trắng viền đỏ bên trong chứa chất rắn màu trắng; 01 (một) túi ni lông màu trắng viền đỏ bên trong chứa 20 (hai mươi) túi ni lông màu trắng viền trắng, bên trong chứa chất rắn màu trắng; 01 (một) túi ni lông màu trắng viền đỏ bên trong chứa 20 (hai mươi) túi ni lông màu trắng viền trắng, bên trong chứa chất rắn màu trắng; 01 (một) túi ni lông màu trắng viền đỏ bên trong chứa 18 (mười tám) túi ni lông màu trắng, viền trắng bên trong chứa chất rắn màu trắng; 01 (một) túi ni lông màu trắng viền trắng, bên trong chứa 47 (bốn mươi bảy) viên nén màu vàng và 01 (một) viên nén màu xanh; 01 điện thoại di động IPHONE 11 PRO MAX màu vàng của Phan Quang T1 và 01 điện thoại di động IPHONE 15 PRO màu xám của Nguyễn Hữu H.

Khám xét khẩn cấp chỗ ở của Phan Quang T1 và Nguyễn Hữu H tại nhà Lô N, L, khu đô thị A, thu giữ: 01 (một) đĩa sứ màu trắng, trên đĩa có bám dính chất rắn màu trắng; 01 (một) viên nén không rõ hình dạng màu vàng, 01 (một) túi ni lông màu trắng bên trong chứa 80 (tám mươi) túi ni lông viền đỏ màu trắng, rỗng; 01 (một) túi ni lông màu trắng chứa 70 (bảy mươi) túi ni lông màu trắng, rỗng; 01 (một) thẻ màu vàng hình chữ nhật, trên thẻ có ghi chữ “LOUIS VUITTON” và một số đồ vật có liên quan.

* Về kết luận giám định:

Ngày 25/9/2024, Phòng K2 công an tỉnh Q có Kết luận giám định số 978/KL-KTHS, kết luận:

Đối với số ma túy thu giữ của Phan Quang T1 khi bắt quả tang: 02 (hai) viên nén màu vàng không rõ hình dạng là ma túy, loại: MDMA, khối lượng mẫu: 0,93 gam; chất rắn màu trắng bên trong 01 túi ni lông là ma túy, loại: Ketamine, khối lượng mẫu: 0,98 gam.

Đối với số ma túy thu giữ của Nguyễn Hữu H khi bắt quả tang: chất rắn màu trắng bên trong 07 túi ni lông là ma túy, loại: Ketamine, khối lượng mẫu: 17,79 gam; chất rắn màu trắng bên trong 01 túi ni lông là ma túy, loại: Ketamine, khối lượng mẫu: 0,98 gam; chất rắn màu trắng bên trong 06 túi ni lông là ma túy, loại: Ketamine, khối lượng mẫu: 15,29 gam; chất rắn màu trắng bên trong 20 túi ni lông thứ nhất là ma túy, loại: Ketamine, khối lượng mẫu: 19,94 gam; chất rắn màu trắng bên trong 20 túi ni lông thứ hai là ma túy, loại: Ketamine, khối lượng mẫu: 20,01 gam; chất rắn màu trắng bên trong 18 túi ni lông là ma túy, loại: Ketamine, khối lượng mẫu: 17,84 gam; 01 (một) viên nén màu xanh không rõ hình dạng là ma túy, loại: MDMA, khối lượng mẫu: 0,47 gam; 47 (bốn mươi bảy) viên nén màu vàng không rõ hình dạng là ma túy, loại: MDMA, khối lượng mẫu: 21,69 gam.

Đối với số ma túy khi khám xét khẩn cấp: 01 (một) viên nén màu vàng không rõ hình dạng là ma túy, loại: MDMA, khối lượng mẫu: 0,47 gam; chất rắn màu trắng bám dính trên đĩa sứ là ma túy, loại: Ketamine, khối lượng mẫu: 0,07 gam.

Tổng khối lượng các chất ma túy là: 23,56 gam MDMA; 92,83 gam Ketamine.

Căn cứ khoản 3 Điều 5 Nghị định 19/2018/NĐ-CP, ngày 02/02/2018 của Chính phủ quy định về tính tổng khối lượng hoặc thể tích chất ma túy tại một số Điều của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tổng tỷ lệ phần trăm về khối lượng của các chất ma túy so với mức tối thiểu đối với từng chất đó được quy định tại khoản 3 Điều 251 Bộ luật Hình sự là: (23,56/30) X 100% + (92,83/100) X 100% = 171,36% > 100%.

- Ngày 21/11/2024, Phòng K2 Công an tỉnh Q có Kết luận giám định số 1018/KL-KTHS, kết luận giám định trích xuất dữ liệu điện tử trong điện thoại của Phan Quang T1 và Nguyễn Hữu H, xác định có dữ liệu liên quan đến việc mua bán trái phép chất ma túy.

Tại bản Cáo trạng số: 43/CT-VKSQN-P1 ngày 05/6/2025 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ngãi truy tố Nguyễn Hữu H và Phan Quang T1 về tội "Mua bán trái phép chất ma túy" theo quy định tại điểm h khoản 3 Điều 251 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ngãi giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

1. Áp dụng: Điểm h khoản 3 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017;

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Hữu H từ 17 năm đến 18 năm tù.

2. Áp dụng: Điểm h khoản 3 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017;

Xử phạt: Bị cáo Phan Quang T1 từ 16 năm đến 17 năm tù.

- Về xử lý vật chứng: Đề nghị Toà án giải quyết theo quy định của pháp luật.

Bị cáo Nguyễn Hữu H tự bào chữa: Bị cáo biết hành vi của bị cáo là sai trái, vi phạm pháp luật nhưng bị cáo đã thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để bị cáo sớm được về hòa nhập với cộng đồng, làm lại cuộc đời.

Luận cứ bào chữa của Luật sư Phan H2 cho bị cáo Phan Văn T4: Thống nhất với tội danh, khung hình phạt, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự như Đại diện Viện kiểm sát đã phát biểu. Bị cáo phạm tội lần đầu, thật thà khai báo, mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, xử phạt bị cáo T4 mức án đầu khung hình phạt của điều khoản áp dụng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tố tụng:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên, người bào chữa trong quá trình điều tra, truy tố đã được thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.

Những tài liệu, chứng cứ do Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên thu thập là phù hợp với quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Tại phiên tòa, người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Hữu H là ông Nguyễn Xuân V vắng mặt và có đơn xin hoãn phiên toà, bị cáo Nguyễn Hữu H đề nghị Hội đồng xét xử tiếp tục xét xử vụ án. Hội đồng xét xử căn cứ Điều 291 Bộ luật Tố tụng hình sự quyết định tiến hành xét xử.

Về nội dung: Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Hữu H và bị cáo Phan Quang T1 khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời khai nhận tội của các bị cáo phù hợp với lời khai của các bị cáo tại hồ sơ vụ án và các kết luận giám định cùng các tài liệu, chứng cứ khác, Hội đồng xét xử sơ thẩm đủ cơ sở kết luận:

Vào chiều ngày 15/9/2024, bị cáo Nguyễn Hữu H liên lạc qua ứng dụng telegram với người tên N (không rõ lai lịch, ở thành phố Q) mua 50 (năm mươi) viên ma túy “kẹo” và ma túy “khay” với số tiền 25.000.000 đồng. Sau đó, Nguyễn Hữu H đưa số điện thoại của người giao ma túy cho Phan Quang T1 để T1 liên lạc nhận ma túy tại hẻm Đ, thành phố Q và đem về cất giấu tại ngôi nhà Lô N, L mà H và T1 thuê để ở và mua bán ma tuý. Chiều ngày 17/9/2024, Nguyễn Hữu H từ Thành phố Hồ Chí Minh về thành phố Q, H và T1 lấy ma túy ra cùng phân chia ma túy “khay” thành 74 (bảy mươi bốn) túi và cất giấu tất cả số ma túy (khay, kẹo) tại phòng ở của H để bán lại cho người khác. Sau đó, H và T1 đã thực hiện hành vi bán ma tuý 2 lần; lần 01, vào khoảng 17 giờ ngày 17/9/2024, H và T1 đã bán cho một người phụ nữ tên L ở B (một) túi ma túy khay với giá 1.200.000 đồng; lần 02, vào khoảng 22 giờ cùng ngày, một người có tài khoản zalo tên “Hùng K” gọi điện vào tài khoản zalo của H tên “Nguyễn Thành K1” hỏi mua ma túy gồm nửa hộp 5 ma túy “khay” và 02 (hai) viên ma túy “kẹo”, khi T1 vừa đi ra khỏi nhà để giao ma túy thì bị bắt quả tang, đồng thời thu giữ tại nơi ở của H số ma túy: 22,63 gam MDMA và 91,85 gam Ketamine để bán lại cho người khác.

Hành vi của các bị cáo Nguyễn Hữu H, Phan Quang T1 đã đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy” quy định tại điểm h khoản 3 Điều 251 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017. Do đó, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ngãi truy tố các bị cáo Nguyễn Hữu H, Phan Quang T1 là đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

Xét tính chất và mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội của các bị cáo: Các bị cáo Nguyễn Hữu H, Phan Quang T1 thực hiện hành vi phạm tội mang tính chất đồng phạm giản đơn, các bị cáo cùng thống nhất ý chí và tiếp nhận ý chí cùng nhau thực hiện hành vi phạm tội.

Bị cáo Nguyễn Hữu H là người khởi xướng, thuê nhà để ở, bán ma tuý và là người liên lạc mua ma túy về để phân chia bán cho người khác;

Bị cáo Phan Quang T1 là người giúp sức cho bị cáo H nhận ma túy, cùng H phân chia ma túy và 02 lần mang ma túy đi giao cho người mua ma túy thì bị phát hiện bắt quả tang.

Tại phiên toà 02 bị cáo thừa nhận trước đó đã nhiều lần bán ma tuý cho nhiều người nhưng không nhớ rõ số lượng ma tuý đã bán, số tiền bán ma tuý và không biết người mua ma tuý là ai. Vì vậy, không có căn cứ để làm rõ hành vi phạm tội của các bị cáo.

Các bị cáo Nguyễn Hữu H, Phan Quang T1 đều là người có đầy đủ năng lực nhận thức, điều khiển hành vi, nhận thức được hành vi mua bán trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật nhưng vì lợi nhuận các bị cáo đã cố ý thực hiện hành vi phạm tội. Hành vi của các bị cáo Nguyễn Hữu H, Phan Quang T1 là rất nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy, xâm phạm trật tự an toàn xã hội; ảnh hưởng đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương nên cần phải xử lý nghiêm minh đối với các bị cáo nhằm giáo dục, răn đe tội phạm và phòng ngừa chung cho xã hội.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo Nguyễn Hữu H, Phan Quang T1 bán ma túy nhiều lần cho người khác nên bị áp dụng tình tiết tăng nặng “phạm tội hai lần trở lên” quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa các bị cáo Nguyễn Hữu H, Phan Quang T1 đã thành khẩn khai báo, có thái độ ăn năn hối cải nên các bị cáo đều được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Một số tình tiết có liên quan:

- Đối với người tên “N” ở thành phố Q là người bán ma túy cho Nguyễn Hữu H và người tên L ở huyện B là người mua ma tuý của Nguyễn Hữu H, H không biết thông tin lai lịch của những người này nên không có cơ sở để tiến hành xác minh.

- Đối với người sử dụng zalo tên “Hùng K” số thuê bao 0762307916 mua ma túy của Nguyễn Hữu H: Cơ quan Cảnh sát điều tra đã xác minh, xác định số thuê bao 0762307916 là do ông Trần Quang Á, sinh ngày 10/10/1949, nơi thường trú: thôn C, xã N, thành phố Q, tỉnh Quảng Ngãi đứng tên đăng ký chủ sở hữu, làm việc với ông Trần Quang Á xác định ông Á không sử dụng số điện thoại 076230916, ông không phải là người tên “Hùng K” mua ma túy của Nguyễn Hữu H. Tiến hành tra cứu tài khoản ngân hàng chuyển tiền cho Nguyễn Hữu H mua ma túy xác định: người chuyển tiền là Nguyễn Ngọc V1, sinh ngày: 23/11/1997, địa chỉ: Tịnh Ấ, thành phố Q, tỉnh Quảng Ngãi. Qua làm việc xác định vào tối ngày 17/9/2024 có một người thanh niên (không rõ lai lịch) đến quán tạp hóa 24H của Nguyễn Ngọc V1 (địa chỉ F Q, phường C, thành phố Q, tỉnh Quảng Ngãi) nhờ chuyển tiền đến tài khoản ngân hàng B, tên tài khoản “NINH THI QUYET” của H, sau đó người này đưa tiền mặt cho V1, V1 không biết mục đích chuyển tiền là để mua ma túy, nên không đề cập xử lý đối với Trần Quang Á và Nguyễn Ngọc V1. Đối với người mua ma túy tên “Hùng K” sẽ tiếp tục xác minh, làm rõ và xử lý sau.

- Đối với người sử dụng số điện thoại 0935153838 liên lạc với Phan Quang T1 mua ma túy: Cơ quan Cảnh sát điều tra đã xác minh, xác định số thuê bao 0935153838 do ông Võ Ngọc V2 (sinh ngày 02/4/1989, địa chỉ: 1 B, tổ A, phường N, thành phố Q, tỉnh Quảng Ngãi) đứng tên đăng ký chủ sở hữu. Cơ quan Cảnh sát điều tra đã tiến hành xác minh nhưng V2 không có mặt tại địa phương nên chưa làm việc được. Cơ quan Cảnh sát điều tra sẽ tiếp tục điều tra, xác minh và xử lý sau.

- Đối với số tài khoản 1690963032, Ngân hàng B, tên tài khoản NINH THI QUYET: Nguyễn Hữu H nhờ bạn gái là Hoàng Thị Thu H3 (sinh năm: 1997, trú tại: Thôn H, xã E, huyện E, tỉnh Đắk Lắk) mở tài khoản ngân hàng để cho H mượn thực hiện giao dịch phục vụ mục đích cá nhân, H3 nhờ mẹ ruột là bà Ninh Thị Q (sinh ngày: 09/09/1973, trú tại: Thôn H, xã E, huyện E, tỉnh Đắk Lắk) mở tài khoản, sau đó H3 cung cấp tài khoản này để H sử dụng. Cơ quan Cảnh sát điều tra đã tiến hành lấy lời khai đối với bà Ninh Thị Q xác định: Việc H sử dụng tài khoản này để mua bán ma túy thì bà Ninh Thị Q không biết. H khai nhận việc H sử dụng tài khoản này để mua bán ma túy thì bà Q và H3 không biết. Tiến hành xác minh Hoàng Thị Thu H3 nhưng H3 không có mặt tại địa phương nên chưa làm việc được, Cơ quan Cảnh sát điều tra sẽ tiếp tục điều tra, xác minh và xử lý sau.

- Đối với xe mô tô 76E1- 173.37: người đứng tên trong giấy đăng ký xe mô tô là Trần Thị N1 (sinh năm 1967, trú tại: thôn H, xã N, huyện T, tỉnh Quảng Ngãi). Tiến hành xác minh, xác định: Vào năm 2013, ông Trần Ngọc L1 (sinh năm 1997, trú tại: thôn H, xã N, huyện T, tỉnh Quảng Ngãi) mua chiếc xe mô tô này nhưng nhờ chị ruột là Trần Thị N1 đứng tên chủ sở hữu. Sau đó, bán cho ông Huỳnh Văn T5 (sinh năm 1999, trú tại: thôn A, xã B, huyện B, tỉnh Quảng Ngãi (chủ cửa hàng xe máy tại địa chỉ A Q thuộc tổ G, phường C, thành phố Q, tỉnh Quảng Ngãi). Đến ngày 30/6/2024, Huỳnh Văn T5 bán lại chiếc xe này cho Nguyễn Hữu H với số tiền 10.000.000 đồng. Qua tra cứu xác định xe mô tô 76E1-173.37 không phải là vật chứng trong vụ án khác.

- Đối với ông Võ Minh T6 (sinh năm 1981, trú tại thôn H, xã H, huyện N) là chủ ngôi nhà Lô N, L, ông T6 cho Phan Quang T1 thuê căn nhà này, hai bên có hợp đồng thuê nhà, việc T1 và H thuê căn nhà này để cất giấu ma túy bán cho người khác ông T6 không biết, nên không đề cập xử lý đối với ông T6.

- Đối với số ma túy Ketamine còn bám dính trên đĩa sứ màu trắng, có khối lượng 0,07 gam, Nguyễn Hữu H sử dụng còn lại, quá trình điều tra xác định, H chưa có tiền án, tiền sự về hành vi liên quan đến ma túy, khối lượng ma túy chưa đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại Điều 249 Bộ luật Hình sự nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Q đã chuyển tài liệu cho Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an tỉnh Q ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với Nguyễn Hữu H về hành vi “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định.

Biện pháp tư pháp: Căn cứ Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự và áp dụng Điều 46 và Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017;

Tịch thu tiêu hủy các vật chứng sau đây:

- Chất ma túy MDMA, Ketamine và toàn bộ vỏ bao gói hoàn lại sau giám định được niêm phong tại phong bì mã số NS1 2013803, bên ngoài có chữ ký của Vy Cao T7, Huỳnh Minh N2, Trần Đông A và đóng dấu của Phòng K2 Công an tỉnh Q.

- 01 (một) túi vải màu đen, là vật chứa ma túy.

- 01 (một) muỗng bằng kim loại là vật dùng để phân chia ma túy.

- 01 (một) túi ni lông màu trắng trong bên trong chứa 80 (tám mươi) túi ni lông màu trắng trong viền đỏ và 01 (một) túi ni lông màu trắng chứa 70 (bảy mươi) túi ni lông màu trắng trong, là vật dùng để phân chia ma túy.

- 01 (một) cân tiểu ly có chữ Amput, là vật dùng để phân chia ma túy.

Lưu hồ sơ vụ án 01 (một) hợp đồng thuê nhà, bên cho thuê Võ Minh

T6, bên thuê Phan Quang T1.

Tịch thu sung công quỹ nhà nước:

- 01 (một) điện thoại di động Iphone, màu vàng, số loại Iphone 11 Promax, số sêri G6TCD5MTN70F, số IMEI1: 353893107678857, IMEI2: 353893107781131 bên trong có gắn 01 thẻ sim Viettel có dãy số 8984048000068367014; đây là điện thoại Phan Quang T1 sử dụng để liên lạc mua bán ma tuý.

- 01 (một) điện thoại di động Iphone 15 Pro, số sêri: J1962KT7W4, màu xám, số EMEI1: 350719117702903, IMEI2: 350719111706033, bên trong có gắn 01 (một) thẻ sim mobifone có dãy số 8401231024083655; đây là điện thoại Nguyễn Hữu H sử dụng để liên lạc mua bán ma tuý.

- 01 (một) xe mô tô biển số 76E1- 173.37, màu xám – đen, số máy 55P1-282784 nhãn hiệu Yamaha, số loại Exciter, xe đã qua sử dụng không kiểm tra chất lượng bên trong. Đây là phương tiện dùng để mua bán trái phép chất ma túy.

Buộc bị cáo Nguyễn Hữu H phải nộp lại số tiền thu lợi từ việc mua bán ma túy là 2.200.000 đồng để nộp ngân sách nhà nước.

Buộc bị cáo Phan Quang T1 phải nộp lại số tiền 4.000.000 đồng là tiền công bán ma tuý do Nguyễn Hữu H trả cho Phan Quang T1.

Đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát và Luật sư được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về án phí: Các bị cáo Nguyễn Hữu H, Phan Quang T1 mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Hữu H, Phan Quang T1 phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

1.1. Áp dụng: Điểm h khoản 3 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 58; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017;

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Hữu H 17 (Mười bảy) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giữ, tạm giam (Ngày 18/9/2024).

1.2. Áp dụng: Điểm h khoản 3 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 58; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017;

Xử phạt: Bị cáo Phan Quang T1 15 (Mười lăm) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giữ, tạm giam (Ngày 18/9/2024).

2. Biện pháp tư pháp: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 và căn cứ Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự;

2.1. Tịch thu tiêu hủy các vật chứng sau đây:

- Chất ma túy MDMA, Ketamine và toàn bộ vỏ bao gói hoàn lại sau giám định được niêm phong tại phong bì mã số NS1 2013803, bên ngoài có chữ ký của Vy Cao T7, Huỳnh Minh N2, Trần Đông A và đóng dấu của Phòng K2 Công an tỉnh Q.

- 01 (một) túi vải màu đen.

- 01 (một) muỗng bằng kim loại.

- 01 (một) túi ni lông màu trắng trong bên trong chứa 80 (tám mươi) túi ni lông màu trắng trong viền đỏ và 01 (một) túi ni lông màu trắng chứa 70 (bảy mươi) túi ni lông màu trắng trong.

- 01 (một) cân tiểu ly có chữ Amput.

2.2. Lưu hồ sơ vụ án 01 (một) hợp đồng thuê nhà, bên cho thuê Võ Minh T6, bên thuê Phan Quang T1.

2.3. Tịch thu sung công quỹ nhà nước:

- 01 (một) điện thoại di động Iphone, màu vàng, số loại Iphone 11 Promax, số sêri G6TCD5MTN70F, số IMEI1: 353893107678857, IMEI2: 353893107781131 bên trong có gắn 01 thẻ sim Viettel có dãy số 8984048000068367014;

- 01 (một) điện thoại di động Iphone 15 Pro, số sêri: J1962KT7W4, màu xám, số EMEI1: 350719117702903, IMEI2: 350719111706033, bên trong có gắn 01 (một) thẻ sim mobifone có dãy số 8401231024083655;

- 01 (một) xe mô tô biển số 76E1- 173.37, màu xám – đen, số máy 55P1-282784 nhãn hiệu Yamaha, số loại Exciter, xe đã qua sử dụng không kiểm tra chất lượng bên trong.

(Theo biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản ngày 09/6/2025 giữa Công an tỉnh Q và Cục Thi hành án dân sự tỉnh Quảng Ngãi).

- Buộc bị cáo Nguyễn Hữu H phải nộp lại số tiền 2.200.000 đồng (Hai triệu hai tram nghìn đồng) để nộp ngân sách nhà nước.

- Buộc bị cáo Phan Quang T1 phải nộp lại số tiền 4.000.000 đồng (Bốn triệu đồng) để nộp ngân sách nhà nước.

3. Về án phí: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa XIV “Quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án”.

Các bị cáo Nguyễn Hữu H, Phan Quang T1 mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331 và Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Các bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Cỡ chữ