- Tranh chấp gì? án hình sự — "Bị cáo M, Đ phạm tội mua bán trái phép chất ma túy - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của…"
- Tòa quyết gì? [1] Về trách nhiệm hình sự:
- Căn cứ chính? Điều 47 Bộ luật hình sự và điểm a; Điều 251 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2-BẮC NINH TỈNH BẮC NINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 61/2025/HS-ST Ngày: 15-9-2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT N
TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2-BẮC NINH, TỈNH BẮC NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Vân
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Tiến Ngọc
2. Ông Nguyễn Quang Kim
- Thư ký phiên toà: Bà Phạm Thị Sỹ- Thư ký Toà án nhân dân khu vực 2-Bắc Ninh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2- Bắc Ninh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Việt Anh- Kiểm sát viên.
Ngày 15 tháng 9 năm 2025 tại Trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 2-Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 46/2025/TLST- HS ngày 28 tháng 8 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 62/2025/QĐXXST-HS ngày 30 tháng 8 năm 2025 đối với các bị cáo:
1. Lục Văn M, sinh năm 2005; Giới tính: N; Tên gọi khác: Không; Nơi cư trú: Thôn Làng Cại, xã Phúc An, huyện Yên Bình, tỉnh Yên Bái (nay là thôn Làng Cại, xã Yên Thành, tỉnh Lào Cai); Quốc tịch: Việt N; Dân tộc: Dao; Tôn giáo: Không; Đảng, chính quyền, đoàn thể: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 6/12; Con ông: Lục Văn Đo; Con bà: Lý Thị H; Gia đình có 06 chị em, bị cáo là con thứ tư; Vợ, con: Chưa có; Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Ngày 29/9/2020, M bị Công an xã Phúc An, huyện Yên Bình, tỉnh Yên Bái ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức cảnh cáo về hành vi Đánh bạc; Bị cáo bị bắt quả tang, bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 16/4/2025 đến nay; Hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam số 2- Công an tỉnh Bắc Ninh (có mặt).
2. Tô Văn Đ, sinh năm 2004; Giới tính: N; Tên gọi khác: Không; Nơi cư trú: Thôn Pàn Dào, xã Kim Đồng, huyện Tràng Định, tỉnh Lạng Sơn (nay là thôn Pàn Dào, xã Tân Tiến, tỉnh Lạng Sơn); Quốc tịch: Việt N; Dân tộc: Tày; Tôn giáo: không; Đảng, chính quyền, đoàn thể: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 10/12; Con ông: Tô Văn Dũng (đã chết); Con bà: Nông Thị Hợp; Gia đình có 02 chị em, bị cáo là con thứ hai; Vợ, con: Chưa có; Tiền án, tiền sự: 01 tiền án tại Bản án hình sự sơ thẩm số 46/2022/HS-ST ngày 20/9/2022 của Tòa án nhân dân huyện Tràng Định, tỉnh Lạng Sơn xử phạt Đ 12 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, chấp hành xong hình phạt tù ngày 21/5/2023; Nhân thân: Ngày 07/7/2022, Đ bị Công an thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang xử phạt hành chính 3.000.000 đồng về hành vi trộm cắp tài sản và 2.500.000 đồng về hành vi không trả lại tài sản cho người khác do mượn; Bị cáo bị bắt quả tang, bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 16/4/2025 đến nay, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam số 2- Công an tỉnh Bắc Ninh (có mặt).
* Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
1. Ông Đỗ Viết N, sinh năm 1986 (vắng mặt)
Nơi cư trú: Thôn Tiến Thịnh, xã Tam Tiến, tỉnh Bắc Ninh.
2. Bà Lý Thị H, sinh năm 1978 (có mặt)
Nơi cư trú: Thôn Làng Cại, xã Yên Thành, tỉnh Lào Cai
3. Bà Nguyễn Thị Thu H, sinh năm 1979 (có đơn xin xét xử vắng mặt)
Nơi cư trú: Số 146, đường Lê Lai, phường Bắc Giang, tỉnh Bắc Ninh
* Người làm chứng:
1. Ông Phùng Ngọc N, sinh năm 1969 (vắng mặt)
Nơi cư trú: Tổ dân phố My Điền 1, phường Nếnh, tỉnh Bắc Ninh
2. Ông Nghiêm Xuân V, sinh năm 1974 (vắng mặt)
Nơi cư trú: Tổ dân phố My Điền 1, phường Nếnh, tỉnh Bắc Ninh.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 16 giờ 28 phút ngày 16/4/2025, tại phòng trọ của Lục Văn M, sinh năm 2005, trú tại thôn Làng Cại, xã Phúc An, huyện Yên Bình, tỉnh Yên Bái (nay là thôn Làng Cại, xã Yên Thành, tỉnh Lào Cai), hiện đang thuê trọ tại tầng 4, ký túc xá Công ty trách nhiệm hữu hạn Mạ Thiên Đông, địa chỉ tại tổ dân phố My Điền 1, phường Nếnh, thị xã Việt Yên, tỉnh Bắc Giang (nay là tổ dân phố My Điền 1, phường Nếnh, tỉnh Bắc Ninh); Tổ công tác của Công an phường Nếnh phối hợp với Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy- Công an tỉnh Bắc Giang (nay là Công an tỉnh Bắc Ninh) kiểm tra, phát hiện bắt quả tang Lục Văn M và Tô Văn Đ, sinh năm 2004, trú tại thôn Pàn Dào, xã Kim Đồng, huyện Tràng Định, tỉnh Lạng Sơn (nay là thôn Pàn Dào, xã Tân Tiến, tỉnh Lạng Sơn) về hành vi mua bán trái phép chất ma túy.
Vật chứng thu giữ gồm:
+ Thu tại mặt chiếu trên giường ở gần khu vực M và Đ đang ngồi có: 03 gói giấy bạc đều có một mặt màu trắng, một mặt màu vàng, bên trong đều chứa chất cục bột màu trắng; 06 mảnh giấy bạc đều có một mặt màu trắng, một mặt màu vàng, bên trên mỗi mảnh giấy đều có chất cục bột màu trắng, nghi là ma túy Heroin và trên mặt sau chiếc điện thoại nhãn hiệu Iphone 8 Plus, màu đen của Tô Văn Đ để trên mặt chiếu: 01 cục chất bột màu trắng, đều nghi là ma túy Heroin; M và Đ đều khai nhận đây là số ma túy của M đang chia nhỏ ra các gói giấy bạc để bán lẻ, Đ đang giúp M gói các gói ma túy trên. Toàn bộ vật chứng nghi là ma túy nêu trên được cho vào túi ni lon một đầu có rãnh khóa bằng nhựa viền màu đỏ, niêm phong trong phong bì thư ký hiệu “QT1”.
+ Thu giữ giữ trên mặt giường cạnh vị trí M ngồi: 01 gói giấy bằng mảnh giấy vỏ bao thuốc lá Thăng Long, bên trong có chứa chất cục bột màu trắng, nghi là ma túy Heroin; 01 gói giấy bạc có một mặt màu trắng, một mặt màu vàng, bên trong chứa chất cục bột màu trắng nghi là ma túy Heroin; M khai là các gói ma túy của M tự chia nhỏ từ trước, mục đích để bán; toàn bộ được niêm phong trong phong bì thư ký hiệu “QT2”.
+ Thu giữ trên mặt giường gần vị trí Đ ngồi: 04 mảnh giấy bạc, trên mặt giấy có bám dính chất màu đen; Đ khai nhận là các mảnh giấy bạc Đ dùng sử dụng ma túy Heroin mua được của M và thu tại gần vị trí M ngồi: 01 túi ni lon màu trắng, một đầu túi có rãnh khóa nhựa, bên trong bám dính chất bột màu trắng, nghi là ma túy, M khai là túi ni lon đựng số ma túy mua được. Toàn bộ đồ vật nêu trên được niêm phong trong phong bì ký hiệu “QT3”.
+ Ngoài ra còn thu giữ trên mặt giường: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 8 plus màu đen đã qua sử dụng, bên trong lắp sim số: 0853.111.765, có số IMEI: 353012097480139 của Tô Văn Đ; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy S9 màu đen đã qua sử dụng, lắp sim số: 0336.389.450, có số IMEI: 356417098266543/58 của Lục Văn M, được niêm phong trong phong bì ký hiệu “ĐT”; 01 dao lam có chữ CROMA; 01 túi da màu đen- ghi có nhãn hiệu “GUCCI”, bên trong có số tiền 1.700.000 đồng.
Công an phường Nếnh tiến hành kiểm tra việc sử dụng trái phép chất ma túy đối với Lục Văn M và Tô Văn Đ bằng que test, kết quả cả hai đều dương tính với chất ma túy MOP. Cùng ngày 16/4/2025, Công an phường Nếnh đã bàn giao Lục Văn M, Tô Văn Đ cùng vật chứng, tài liệu có liên quan đến Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Bắc Giang (nay là Công an tỉnh Bắc Ninh) để giải quyết theo thẩm quyền.
Tại Cơ quan điều tra, M khai nguồn gốc ma túy bị Công an thu giữ là M mua của Đỗ Viết N, sinh năm 1986, trú tại thôn Tiến Thịnh, xã Tam Tiến, tỉnh Bắc Ninh đang ở trọ tại tổ dân phố Ninh Khánh, phường Nếnh, thị xã Việt Yên, tỉnh Bắc Giang (nay là tổ dân phố Ninh Khánh, phường Nếnh, tỉnh Bắc Ninh). Cơ quan điều tra tiến hành khám xét khẩn cấp phòng trọ của M và N nêu trên, kết quả: Thu giữ tại khu vực giường trong phòng trọ của M: 03 mảnh giấy bạc và 01 bật lửa gas màu đỏ; Thu tại phòng trọ của N: 01 căn cước công dân mang tên Đỗ Viết N.
Cơ quan Cảnh sát điều tra- Công an tỉnh Bắc Giang (nay là Công an tỉnh Bắc Ninh) trưng cầu Phòng Kỹ thuật hình sự- Công an tỉnh Bắc Giang (nay là Công an tỉnh Bắc Ninh) giám định chất ma túy đối với vật chứng thu giữ nêu trên.
Tại Kết luận giám định số 751/KL-KTHS ngày 23/4/2025 của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Bắc Giang, kết luận:
“5.1. Trong 01 (một) phong bì có ký hiệu “QT1” đã được niêm phong gửi giám định: Trong 01 (một) túi ni lon màu trắng một đầu có rãnh khóa bằng nhựa, viền màu đỏ: Chất cục bột màu trắng đựng trong 09 (chín) gói giấy bạc đều có một mặt màu trắng, một mặt màu vàng là ma túy, có tổng khối lượng 0,501 gam, loại Heroine (Heroin); 01 (một) cục chất bột màu trắng là ma túy, có khối lượng 0,059 gam, loại Heroine (Heroin).
5.2. Trong 01 (một) phong bì có ký hiệu “QT2” đã được niêm phong gửi giám định: Chất cục bột màu trắng đựng trong 01 (một) gói giấy bạc có một mặt màu trắng, một mặt màu vàng là ma túy, có tổng khối lượng 0,050 gam, loại Heroine (Heroin); Chất cục bột màu trắng đựng trong 01 (một) gói được gói trong mảnh giấy loại vỏ bao thuốc là Thăng Long là ma túy, có tổng khối lượng 0,117 gam, loại Heroine (Heroin).
5.3. Trong 01 (một) phong bì có ký hiệu “QT3” đã được niêm phong gửi giám định: Chất cục bột màu trắng bám dính trong 01 (một) túi ni lon màu trắng một đầu có rãnh khóa bằng nhựa là ma túy, loại Heroine (Heroin), không xác định được khối lượng; Không tìm thấy chất ma túy trên 04 (bốn) mảnh giấy bạc, trên một mặt của mỗi mảnh đều có vết màu đen.”
Quá trình điều tra, Lục Văn M và Tô Văn Đ khai nhận: M và Đ có quen biết nhau và đều là đối tượng nghiện ma túy Heroine. M đang thuê trọ ở một mình tại phòng trọ tầng 4, ký túc xá Công ty trách nhiệm hữu hạn Mạ Thiên Đông, thuộc tổ dân phố My Điền 1, phường Nếnh, thị xã Việt Yên, tỉnh Bắc Giang. Do không có công việc ổn định nên M nảy sinh ý định mua bán trái phép chất ma túy Heroine để thu lời bất chính. Qua bạn bè cùng nghiện ma túy giới thiệu, M biết Đỗ Viết N đang ở trọ tại tổ dân phố Ninh Khánh, phường Nếnh, thị xã Việt Yên, tỉnh Bắc Giang (nay là tổ dân phố Ninh Khánh, phường Nếnh, tỉnh Bắc Ninh) có bán ma túy nên M đến gặp mua ma túy của N để sử dụng và bán lại kiếm lời. Trước ngày 15/10/2024, M đã đến phòng trọ của N mua ma túy Heroine của N đem về phòng trọ cất giấu, nhưng không nhớ thời gian, số lượng tiền mua ma túy. Khoảng 10 giờ ngày 15/4/2025, Đ một mình đến phòng trọ của M mua ma túy Heroine, mục đích để tự sử dụng. Tại đây, Đ bảo M bán cho 700.000 đồng tiền ma túy Heroine và bảo trả tiền sau, M đồng ý và đưa cho Đ 01 (một) cục ma túy Heroine. Sau đó, Đ ngồi trên giường trong phòng trọ của M, bỏ số ma túy mua được ra tự sử dụng hết bằng cách để ma túy trên giấy bạc, dùng bật lửa hơ nóng để hít khói. Khi Đ sử dụng ma túy trên giường thì M biết và đồng ý cho Đ sử dụng ma túy. Sau khi sử dụng hết ma túy, đến khoảng 11 giờ cùng ngày thì Đ bỏ đi khỏi phòng trọ.
Khoảng 08 giờ ngày 16/4/2025, M một mình đi bộ tới phòng trọ của Đỗ Viết N để mua ma túy Heroine về bán cho người khác. Thấy trong phòng chỉ có N nên M hỏi mua 1.500.000 đồng tiền ma túy Heroine và đưa tiền cho N cầm. N đưa lại cho M 01 túi ni lon một đầu có rãnh khóa bằng nhựa, viền màu đỏ bên trong chứa chất cục bột màu trắng là ma túy Heroine. M cất giấu túi ma túy vừa mua được trên người rồi đi về phòng trọ của M cất giấu. Khoảng 10 giờ cùng ngày 16/4/2025, Đ một mình đi bộ đến phòng trọ của M để trả tiền mua ma túy. Đ sử dụng ứng dụng ví MOMO cài đặt trên điện thoại nhãn hiệu Iphone 8 plus màu đen của Đ chuyển khoản số tiền 700.000 đồng đến tài khoản Ngân hàng của M đang sử dụng (Ngân hàng Thương mại cổ phần Tiên Phong số 10000525948, đăng ký tên Lý Thị H, sinh năm 1978 là mẹ đẻ của M, cho M sử dụng trước đó) để trả nợ tiền mua ma túy của M ngày 15/4/2025. Trả tiền xong, Đ vẫn ngồi chơi tại phòng trọ của M. Đến khoảng 13 giờ cùng ngày, do có nhu cầu sử dụng ma túy, Đ bảo M bán cho 200.000 đồng ma túy Heroine, M đồng ý. Đ tiếp tục dùng ví MOMO cài đặt trên điện thoại chuyển khoản 200.000 đồng mua ma túy đến tài khoản Ngân hàng nêu trên của M. Nhận được tiền, M lấy 01 cục ma túy Heroine trong túi ni lon đưa cho Đ. Nhận được ma túy, Đ ngồi trên giường trong phòng trọ bỏ số ma túy mua được ra tự sử dụng hết bằng cách thức nêu trên. Khi sử dụng ma túy thì M có biết và cho Đ sử dụng trong phòng trọ. Lúc này, M cũng tự lấy một ít ma túy Heroine ra tự sử dụng. Khoảng 15 giờ cùng ngày, Đ lại tiếp tục bảo M bán cho 600.000 đồng ma túy Heroine, nhưng Đ chỉ dùng ví MOMO chuyển khoảng cho M 400.000 đồng, bảo nợ lại 200.000 đồng thì M đồng ý. Nhận được tiền, M đưa cho Đ 01 cục ma túy Heroine. Sau đó, Đ tiếp tục ngồi trên giường tự sử dụng hết số ma túy mua được và khi này M cũng cho Đ sử dụng ma túy trong phòng trọ. Bán ma túy cho Đ xong, M sử dụng số tiền bán ma túy Đ trả để chơi game hết, còn Đ nằm nghỉ trong phòng.
Đến khoảng 16 giờ cùng ngày 16/4/2025, M lấy túi ni lon chứa ma túy Heroine để trên mặt giường, mục đích chia nhỏ để bán lại cho người khác. M lấy mảnh giấy bạc trong bao thuốc lá “Thăng Long” của M và dùng tay xé ra được 09 (chín) mảnh nhỏ, xếp ra mặt chiếu trên giường trước vị trí M, Đ đang ngồi. Sau đó, M hỏi mượn chiếc điện thoại Iphone 8 Plus, màu đen của Đ dùng làm tấm kê để cắt chia ma túy Heroine, thì Đ đồng ý. M đổ ma túy Heroine ra mặt sau điện thoại di động của Đ để ở mặt chiếu rồi dùng dao lam cắt chia nhỏ ma túy và dùng tờ tiền mệnh giá 100.000 đồng xúc ma túy vào 09 mảnh giấy bạc đã để sẵn. Khi M chia ma túy thì M có bảo Đ gói giúp các mảnh giấy bạc mà M vừa xúc ma túy vào, thì Đ đồng ý. Trong lúc Đ vừa gói được 03 (ba) gói ma túy và M đang cắt, chia ma túy thì phát hiện Công an vào phòng trọ. M chỉ vừa cất tờ tiền dùng xúc ma túy vào túi da màu đen có nhãn hiệu “GUCCI” để trên mặt giường thì bị Công an bắt giữ, lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, cùng toàn bộ số ma túy nêu trên và vật chứng khác có liên quan. Đ đều dùng dụng cụ tự mang theo để sử dụng trái phép chất ma túy. Toàn bộ số ma túy thu giữ, M dùng để bán cho người mua, trong đó có 02 (hai) gói giấy bạc chứa ma túy Heroine của M đã gói trước đó, không có sự giúp sức của Đ.
Cơ quan điều tra kiểm tra điện thoại di động thu giữ của Đ, M, tra cứu thông tin lịch sử giao dịch Ngân hàng của M sử dụng nêu trên. Kết quả, trong điện thoại của các bị cáo và tài khoản ví MOMO, Ngân hàng của M sử dụng có thông tin giao dịch chuyển, nhận tiền tài khoản mua bán ma túy của Đ và M như nêu trên. Ngoài ra trong điện thoại di động của M có cài đặt tài khoản Zalo của M có tên “M Chip”. Trong tài khoản Zalo có thông tin một số tài khoản Zalo khác không xác định được là ai, ở đâu có nhắn tin hỏi mua ma túy của M. Tuy nhiên, M khai không biết những người này là ai và không bán ma túy cho những người này.
Cơ quan điều tra tiến hành cho Lục Văn M và Tô Văn Đ tự thực nghiệm lại hành vi Đ cùng M cắt chia ma túy, xúc ma túy Heroine vào các mảnh giấy bạc và Đ gói các gói ma túy giúp M. Kết quả, M và Đ tự thực hiện thành thục các hành vi như đã khai nêu trên.
Tại Bản cáo trạng số 44/CT-VKS ngày 28/8/2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2-Bắc Ninh truy tố bị cáo Lục Văn M về các tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 2 Điều 251 của Bộ luật hình sự và tội “ Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 2 Điều 256 của Bộ luật hình sự. Bị cáo Tô Văn Đ truy tố về các tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 251 của Bộ luật hình sự
* Tại phiên tòa hôm nay, Đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố đối với các bị cáo. Sau khi phân tích tính chất vụ án, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của các bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử, xử:
a) Về trách nhiệm hình sự:
- Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 17, Điều 58, Điều 38 BLHS xử phạt bị cáo Lục Văn M từ 08 năm đến 08 năm 06 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 256, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 BLHS xử phạt bị cáo Lục Văn M từ 07 năm đến 07 năm 06 tháng tù về tội “Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy”.
Áp dụng Điều 55 Bộ luật Hình sự, buộc bị cáo Lục Văn M phải chấp hành hình phạt của hai tội là từ 15 năm đến 16 năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 16/4/2025.
- Áp dụng khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 17, Điều 58, Điều 38 BLHS xử phạt bị cáo Tô Văn Đ từ 03 năm đến 03 năm 06 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 16/4/2025.
b) Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm khoản 1, khoản 2 Điều 47 BLHS; khoản 2, khoản 3 Điều 106 BLTTHS:
- Tịch thu tiêu hủy: 03 (ba) phong bì thư niêm phong có ký hiệu lần lượt "QT1", “QT2”, “QT3”, bên trong chứa mẫu vật hoàn lại sau giám định ma túy; 01 (một) dao lam có chữ CROMA; 03 (ba) mảnh giấy bạc; 01 (một) bật lửa gas màu đỏ và 01 (một) túi da màu đen- ghi có nhãn hiệu “GUCCI”.
- Tịch thu sung công quỹ Nhà nước: 01 (một) điện thoại nhãn hiệu Iphone 8 plus, màu đen, đã qua sử dụng, bên trong lắp sim điện thoại số: 0853111765 có số IMEI: 353012097480139; 01 (một) điện thoại nhãn hiệu Samsung Galaxy S9 màu đen, đã qua sử dụng, lắp sim điện thoại số: 0336389450 có số IMEI: 356417098266543/58 và 01 tờ tiền mệnh giá 100.000 đồng.
- Truy thu đối với Lục Văn M số tiền 1.300.000 đồng, đối với Đ số tiền 200.000 đồng để sung quỹ Nhà nước.
- Trả lại bị cáo Lục Văn M số tiền 1.600.000 đồng nhưng cần tiếp tục tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
c) Về án phí: Áp dụng Điều 135, 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12, Điều 23 Nghị quyết số 326 ngày 30/12/2016 của Quốc hội: Bị cáo Lục Văn M phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm; Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Tô Văn Đ.
* Tại cơ quan điều tra, truy tố và tại phiên toà hôm nay, các bị cáo M, Đ đã khai nhận rõ hành vi của mình như cáo trạng đã nêu và nhận thức được việc làm của mình là sai, bị cáo không có ý kiến tranh luận gì với bản luận tội của đại diện Viện kiểm sát, lời nói sau cùng các bị cáo không có ý kiến gì.
* Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Lý Thị H có mặt trình bày: Bà là mẹ của bị cáo M, toàn bộ diễn biến sự việc bị cáo M mua bán ma túy và chứa chấp sử dụng ma túy bà không biết, bà không biết bị cáo M sử dụng tài khoản ngân hàng mang tên bà vào việc mua bán trái phép chất ma túy, ngoài ra bà không có ý kiến gì khác.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tố tụng: Tại phiên tòa người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị Thu H vắng mặt đã có đơn xin xét xử vắng mặt, ông Đỗ Viết N; Người làm chứng ông Phùng Ngọc N, ông Nghiêm Xuân V đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến phiên tòa nhưng vắng mặt. Tuy nhiên, tại giai đoạn điều tra và truy tố đã có lời khai nên sự vắng mặt của họ không ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án. Do vậy, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt họ là phù hợp với quy định tại Điều 292; Điều 293; Điều 305 của Bộ luật tố tụng hình sự.
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh Bắc Giang (nay là tỉnh Bắc Ninh), Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Việt Yên (nay là Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2- Bắc Ninh), Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà các bị cáo, người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về hành vi phạm tội: Lời khai của các bị cáo M, Đ tại phiên tòa hôm nay phù hợp với lời khai của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người làm chứng, biên bản bắt người phạm tội quả tang, vật chứng thu giữ và Kết luận giám định của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bắc Giang và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ, Hội đồng xét xử xét thấy đã có đủ cơ sở kết luận:
Các bị cáo Lục Văn M, Tô Văn Đ quen biết nhau và đều là đối tượng sử dụng trái phép chất ma túy Heroine. Do không có công việc ổn định nên M nảy sinh ý định mua bán trái phép chất ma túy Heroine. Trong ngày 15/4/2025 và ngày 16/4/2025, tại phòng trọ của Lục Văn M đang thuê trọ tại tầng 4, ký túc xá Công ty Mạ Thiên Đông, địa chỉ ở tổ dân phố My Điền 1, phường Nếnh, thị xã Việt Yên, tỉnh Bắc Giang (nay là tổ dân phố My Điền 1, phường Nếnh, tỉnh Bắc Ninh), M đã 03 lần bán trái phép chất ma túy Heroine cho Đ và sau đó 03 lần cho Đ sử dụng ma túy mua được tại phòng trọ của M. Ngoài ra, Đ còn giúp M chia ma túy Heroine để bán cho người khác, nhưng chưa được trả công, cụ thể:
Khoảng 10 giờ ngày 15/4/2025, M đã 01 lần bán bán trái phép chất ma túy Heroine cho Đ, thu được 700.000 đồng, rồi cho Đ sử dụng ma túy mua được tại phòng trọ. Trong ngày 16/4/2025: M bán ma túy Heroine cho Đ lần thứ nhất vào khoảng 13 giờ, thu được số tiền 200.000 đồng; lần thứ hai vào khoảng 15 giờ với số tiền 600.000 đồng, nhưng Đ mới trả trước 400.000 đồng, còn nợ lại 200.000 đồng; đồng thời mỗi lần mua ma túy thì M đều cho Đ sử dụng ngay tại phòng trọ. Khoảng 16 giờ 28 phút ngày 16/4/2025, khi Đ cho M mượn điện thoại di động để chia ma túy và cùng giúp M chia tổng cộng 0,560 gam ma túy Heroine vào các gói giấy để bán thì Công an phát hiện bắt quả tang, thu giữ toàn bộ số ma túy nêu trên và 0,167 gam ma túy Heroine của M cất giấu riêng trước đó để bán cùng vật chứng khác có liên quan. Tổng khối lượng ma túy Heroine thu giữ được của M dùng để bán trái phép là 0,727 gam, trong đó Đ giúp sức cho M chia nhỏ 0,560 gam để bán nhưng chưa được hưởng lợi gì. Số tiền bán trái phép chất ma túy M đã thu được là 1.300.000 đồng.
Khi thực hiện hành vi phạm tội các bị cáo đã đủ tuổi chịu năng lực trách nhiệm hình sự. Với hành vi nêu trên của bị cáo M đã đủ yếu tố cấu thành tội "Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 của Bộ luật hình sự và tội “ Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 256 của Bộ luật hình sự; bị cáo Đ đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 251 của BỘ luật hình sự. Do đó, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2-Bắc Ninh truy tố các bị cáo theo tội danh và điều khoản trên là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Về vai trò, tính chất, mức độ hành vi phạm tội:
- Về vai trò: Trong vụ án này đối với tội “Mua bán trái phép chất ma túy” các bị cáo phạm tội với vai trò đồng phạm giản đơn. Bị cáo M có vai trò chính là người trực tiếp bỏ tiền mua ma túy và về tự chia nhỏ ma túy để sử dụng và bán kiếm lời, bị cáo trực tiếp là người bán ma túy 03 lần cho Đ. Bị cáo Đ có vai trò giúp sức cho M chia nhỏ 0,560 gam để bán nhưng chưa được hưởng lợi gì nên đối với tội này bị cáo M có vai trò chính và cao hơn bị cáo Đ. Ngoài ra, bị cáo M còn chịu độc lập về hành vi phạm tội “ Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy”
- Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội: Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến việc độc quyền quản lý các chất ma tuý của Nhà nước, bị cáo M mua và tàng trữ ma túy với mục đích để sử dụng và bán kiếm lời, bị cáo Đ là người mua ma túy sử dụng và giúp sức bị cáo M chia nhỏ ma túy để bán, hành vi của các bị cáo đã gây ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an của địa phương và sức khỏe của người khác, gây ảnh hưởng không tốt đến trật tự gia đình và xã hội và là nguyên nhân làm phát sinh một số tội phạm nguy hiểm khác, là con đường lây lan của một số căn bệnh xã hội nguy hiểm cho xã hội. Vì vậy, vụ án cần phải được xử lý tương xứng với tính chất và mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo để nhằm giáo dục riêng và phòng ngừa chung đối với loại tội phạm này.
Xét về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo thấy:
Tại cơ quan điều tra, truy tố và tại phiên toà hôm nay các bị cáo M, Đ có thái độ khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải. Đây là tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự, cần xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho các bị cáo khi quyết định hình phạt.
Xét nhân thân, tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự của bị cáo:
- Về nhân thân: Các bị cáo M, Đ đều có nhân thân xấu. Bị cáo M ngày 29/9/2020 bị Công an xã Phúc An, huyện Yên Bình, tỉnh Yên Bái ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức cảnh cáo về hành vi Đánh bạc. Bị cáo Đ ngày 07/7/2022 bị Công an thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang xử phạt hành chính 3.000.000 đồng về hành vi trộm cắp tài sản và 2.500.000 đồng về hành vi không trả lại tài sản cho người khác do mượn.
- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo M không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào quy định tại khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự. Bị cáo Đ đang có tiền án chưa được xóa án tích lại tiếp tục phạm tội nên phải chịu tình tiết tăng nặng “Tái phạm” quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
Từ những phân tích trên, đánh giá về tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội của các bị cáo và nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Hội đồng xét xử thấy các bị cáo là đối tượng nghiện ma túy, không chịu tu dưỡng rèn luyện, thực hiện với lỗi cố ý, các bị cáo phạm tội nghiêm trọng và rất nghiêm trọng nên cần buộc các bị cáo phải chấp hành hình phạt tù có thời hạn một thời gian để cách ly bị cáo với xã hội, mới có tác dụng giáo dục các bị cáo trở thành người công dân có ích cho xã hội, có ý thức tuân theo pháp luật.
Xét mức đề nghị hình phạt của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa đối với các bị cáo là tương đối phù hợp.
Về hình phạt bổ sung: Bị cáo M mua bán ma túy với mục đích sử dụng và bán kiếm lời, bị cáo không thuộc hộ nghèo, cận nghèo nên cần áp dụng phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo. Bị cáo Đ không có nghề nghiệp ổn định, không có tài sản riêng, là người dân tộc thiểu số sống ở vùng kinh tế, xã hội đặc biệt khó khăn nên xét thấy không cần phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo Đ cũng thể hiện sự khoan H của pháp luật.
Về vật chứng của vụ án:
- Đối với 03 (ba) phong bì thư niêm phong có ký hiệu lần lượt “QT1”, “QT2”, “QT3”, bên trong chứa mẫu vật hoàn lại sau giám định ma túy, kết luận là chất ma túy, vật Nhà nước cấm lưu hành nên Hội đồng xét xử xét thấy cần tịch thu tiêu hủy.
- Đối với 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 8 Plus, màu đen, đã qua sử dụng, bên trong lắp sim điện thoại số 0853111765 có số Imei 353012097480139 là tài sản của Tô Văn Đ và 01(một) điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy S9 màu đen, đã qua sử dụng, lắp sim điện thoại số 0336389450 có số Imei 356417098266543/58 là tài sản của Lục Văn M, các bị cáo sử dụng vào phạm tội. Nên Hội đồng xét xử xét thấy cần tịch thu sung ngân sách Nhà nước.
- Đối với số tiền 1.700.000 đồng thu giữ của bị cáo M là tài sản của M, trong đó chỉ có 01 tờ tiền mệnh giá 100.000 đồng sử dụng để xúc chia ma túy, còn lại không sử dụng phạm tội. Nên Hội đồng xét thấy cần trả lại cho bị cáo M số tiền 1.600.000 đồng nhưng tại giữ lại số tiền trên để đảm bảo thi hành án. Đối với 01 tờ tiền mệnh giá 100.000 đồng, bị cáo sử dụng để xúc chia ma túy nên cần tịch thu sung ngân sách Nhà nước.
- Đối với 01(một) dao lam có chữ CROMA, 03 mảnh giấy bạc, 01 bật lửa ga màu đỏ, 01 (một) túi da màu đen-ghi có nhãn hiệu “GUCCI” là công cụ bị cáo dùng vào phạm tội, xét thấy không có giá trị sử dụng, cần tịch thu tiêu hủy.
- Đối với số tiền bán trái phép chất ma túy M đã thu được 1.300.000 đồng là số tiền M bán ma túy mà có, đối với số tiền 200.000 đồng bị cáo Đ mua ma túy của M còn nợ M là tiền mua ma túy. Nên Hội đồng xét xử xét thấy cần truy thu số tiền trên đối với bị cáo M, Đ để sung ngân sách Nhà nước.
Về các vấn đề khác:
- Đối với Đỗ Viết N không thừa nhận có hành vi bán trái phép chất ma túy cho M như M khai; Cơ quan điều tra khám xét khẩn cấp nơi ở của N nhưng không thu giữ được đồ vật, tài liệu gì liên quan đến chất ma túy. Ngoài lời khai của M thì không có tài liệu gì khác nên Cơ quan điều tra không có căn cứ đề cập xử lý đối với N.
- Đối với một số tin nhắn Zalo của một số người không biết tên tuổi, địa chỉ nhắn đến Zalo của M như nêu trên; M khai không biết là ai, không mua bán ma túy với những người này nên Cơ quan điều tra không có căn cứ xác minh và đề cập xử lý.
- Đối với bà Lý Thị H không biết bị cáo sử dụng tài khoản Ngân hàng mang tên bà H vào mua bán trái phép chất ma túy, đồng thời chủ nhà trọ không biết bị cáo dùng phòng trọ để mua bán trái phép chất ma túy nên Cơ quan điều tra không đề cập xử lý.
- Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của Tô Văn Đ và Lục Văn M nêu trên đã bị Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an tỉnh Bắc Ninh đã ra quyết định xử phạt hành chính theo quy định pháp luật.
Về án phí:
- Bị cáo M phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 135; khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự và quy định tại Điều 21; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội ngày 30/12/2016;
- Bị cáo Đ là người dân tộc thiểu số sống ở vùng kinh tế, xã hội đặc biệt khó khăn nên bị cáo được miễn án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Toà án.
Về quyền kháng cáo: Bị cáo; Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo theo quy định tại Điều 331; khoản 1 Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
[1] Về trách nhiệm hình sự:
1.1 Căn cứ điểm b khoản 2, khoản 5 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 38; Điều 58 của Bộ luật hình sự.
Xử phạt bị cáo Lục Văn M 08 (tám) năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
Phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo M 5.000.000 đồng (năm triệu đồng) để sung ngân sách Nhà nước.
Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 256; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự;
Xử phạt bị cáo Lục Văn M 07 (bẩy) năm 6 (sáu) tháng tù về tội “Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy”.
Căn cứ Điều 55 của Bộ luật hình sự: Tổng hợp hình phạt buộc bị cáo Lục Văn M phải chấp hành hình phạt chung cho cả hai tội là 15 (mười lăm) năm 6 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 16/4/2025.
1.2 Căn cứ khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 38; Điều 58 của Bộ luật hình sự.
Xử phạt bị cáo Tô Văn Đ 03 (ba) năm 6 (sáu) tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 16/4/2025.
Không phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo Đ.
[2] Về vật chứng: Căn cứ điểm a, b, c khoản 1, khoản 2 Điều 47 của Bộ luật hình sự và điểm a, b, c khoản 2, khoản 3 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.
* Tịch thu tiêu hủy:
- 03 (ba) phong bì thư niêm phong có ký hiệu lần lượt “QT1”, “QT2”, “QT3”, bên trong chứa mẫu vật hoàn lại sau giám định ma túy
- 01(một) dao lam có chữ CROMA,
- 03 (ba) mảnh giấy bạc,
- 01(một) bật lửa ga màu đỏ
- 01 (một) túi da màu đen-ghi có nhãn hiệu “GUCCI”
* Tịch thu sung ngân sách Nhà nước:
- 01(một) tờ tiền mệnh giá 100.000 đồng
- 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 8 Plus, màu đen, đã qua sử dụng, bên trong lắp sim điện thoại số 0853111765 có số Imei 353012097480139
- 01(một) điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy S9 màu đen, đã qua sử dụng, lắp sim điện thoại số 0336389450 có số Imei 356417098266543/58
* Trả lại cho bị cáo M: Số tiền 1.600.000 đồng (một triệu sáu trăm nghìn đồng). Nhưng tạm giữ lại để đảm bảo thi hành án.
* Truy thu của bị cáo M số tiền 1.300.000 đồng (một triệu ba trăm nghìn đồng), bị cáo Đ 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) để sung ngân sách Nhà nước.
[3] Về án phí: Căn cứ Điều 135, khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12; Điều 21; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội ngày 30/12/2016;
Buộc bị cáo Lục Văn M phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo Tô Văn Đ được miễn án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
[4] Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, khoản 1 Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự.
Các bị cáo; Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án theo thủ tục tố tụng hình sự.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự. Nơi nhận:
T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- TAND tỉnh Bắc Ninh;
THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- VKSND tỉnh Bắc Ninh;
- Trại tạm giam số 2 CA tỉnh Bắc Ninh;
- Phòng hồ sơ CA tỉnh Bắc Ninh;
- VKSND khu vực 2-Bắc Ninh;
- Cơ quan CSĐT CA tỉnh Bắc Ninh;
- THADS tỉnh Bắc Ninh;
- Bị cáo; NCQLNVLQ vắng mặt;
- Lưu hồ sơ.
Nguyễn Thị Vân THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Nguyễn Thị Vân
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Bắc Ninh; - VKSND tỉnh Bắc Ninh; - Trại tạm giam số 2 CA tỉnh Bắc Ninh; - Phòng hồ sơ CA tỉnh Bắc Ninh; - VKSND khu vực 2-Bắc Ninh; - Cơ quan CSĐT CA tỉnh Bắc Ninh; - THADS tỉnh Bắc Ninh; - Bị cáo; NCQLNVLQ vắng mặt; - Lưu hồ sơ. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ | T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Vân THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Vân |