vanban.org

Bản án 61/2025/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Nguyễn Thị Xuân Nguyên.

Về hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Xuân N được ly hôn với anh Nguyễn Minh L. Về con chung: Chị Nguyễn Thị Xuân N được ly hôn với anh Nguyễn Minh L có 01 con chung tên Nguyễn Thanh L1, sinh ngày 19/9/2021. Sau khi ly hôn, chị N là người trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc con chung cho đến khi con chung đủ 18 tu…

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyễn Thị Xuân N - Nguyễn Minh L"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Nguyễn Thị Xuân Nguyên.
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Luật tố tụng hành chính
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 7 – VĨNH LONG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 61/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 26-9-2025
V/v: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7 – VĨNH LONG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Phạm Minh Thơ

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Thành Đông

Ông Phạm Thành Đồng

- Thư ký phiên toà: Bà Lê Thị Thu Trúc - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 7 – Vĩnh Long.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7 – Vĩnh Long tham gia phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Duyên Em - Kiểm sát viên

Ngày 26 tháng 9 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 7 – Vĩnh Long xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 21/2025/TLST-HNGĐ ngày 22 tháng 7 năm 2025, về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 113/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 25 tháng 8 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 84/2025/QĐST-HNGĐ ngày 10 tháng 9 năm 2025, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Xuân N, sinh năm: 1995 (vắng mặt);

Địa chỉ: ấp T, xã H, huyện G, tỉnh B (nay là ấp T, xã H, tỉnh V).

2. Bị đơn: Anh Nguyễn Minh L, sinh năm: 1989 (vắng mặt);

Địa chỉ: ấp C, xã P, huyện G, tỉnh B (nay là ấp C, xã L, tỉnh V).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện; bản tự khai; đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt; các tài liệu, chứng cứ cung cấp cho Tòa án, nguyên đơn chị Nguyễn Thị Xuân N trình bày:

- Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Nguyễn Minh L quen biết, tìm hiểu, bắt đầu chung sống với nhau từ năm 2020, có tổ chức đám cưới. Anh chị tự nguyện đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã P, huyện G, tỉnh B (nay là Ủy ban nhân dân xã L, tỉnh V) vào ngày 30 tháng 12 năm 2020. Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc nhưng sau đó bắt đầu phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn là do bất đồng quan điểm sống, cách sinh hoạt, nuôi dạy con dẫn đến việc anh chị thường xuyên cự cãi; tình cảm vợ chồng không còn, mạnh ai nấy sống, không ai quan tâm đến ai. Chị đã nhiều lần khuyên can, chủ động hòa giải nhưng anh L vẫn không thay đổi nên vợ chồng đã ly thân từ tháng 9 năm 2021 cho đến nay. Hiện tại, chị nhận thấy tình cảm vợ chồng không thể hàn gắn nên chị có đơn khởi kiện và giữ nguyên yêu cầu xin được ly hôn với anh L.

- Về con chung: Chị và anh L có 01 người con chung tên Nguyễn Thanh L1, sinh ngày 19/9/2021. Sau khi ly hôn, chị yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung, yêu cầu anh L cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 1.000.000 (một triệu) đồng cho đến khi con chung đủ 18 tuổi. Chị và anh L không có con riêng, không có con nuôi.

- Về tài sản chung, về nợ chung: Trong thời gian chung sống, chị và anh L không có tài sản chung, không có nợ chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án nhân dân khu vực 7 – Vĩnh Long đã tống đạt hợp lệ Thông báo về việc thụ lý vụ án; các Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; Quyết định đưa vụ án ra xét xử; Quyết định hoãn phiên tòa và các Giấy triệu tập nhưng bị đơn là anh Nguyễn Minh L đều vắng mặt không lý do.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7 – Vĩnh Long phát biểu ý kiến:

Về việc tuân theo pháp luật: Trong quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và nguyên đơn thực hiện đúng, đầy đủ quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn chưa thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự do không tham gia đầy đủ các phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ, các phiên hòa giải.

Về nội dung vụ án: Căn cứ vào các Điều 56, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và gia đình, đề nghị Hội đồng xét xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Nguyễn Thị Xuân N.

- Về hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Xuân N được ly hôn với anh Nguyễn Minh L.

- Về con chung: giao con chung là Nguyễn Thanh L1, sinh ngày 19/9/2021 cho chị N tiếp tục nuôi dưỡng, buộc anh L cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 1.000.000 (một triệu) đồng cho đến khi con chung đủ 18 tuổi, thời gian cấp dưỡng tính từ ngày 26/9/2025.

- Về tài sản chung, nợ chung: Chị N khai không có nên không xem xét giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, căn cứ lời trình bày của đương sự đã được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng:

- Về quan hệ pháp luật: Chị Nguyễn Thị Xuân N khởi kiện yêu cầu Tòa án nhân dân khu vực 7 – Vĩnh Long giải quyết ly hôn, tranh chấp về việc nuôi con chung với anh Nguyễn Minh L. Căn cứ vào yêu cầu khởi kiện của chị N xác định vụ án có quan hệ pháp luật “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

- Về thẩm quyền thụ lý, giải quyết của Tòa án: Anh Nguyễn Minh L là bị đơn có nơi cư trú tại ấp C, xã P, huyện G, tỉnh B (nay là ấp C, xã L, tỉnh V) nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 7 – Vĩnh Long theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 2 Điều 1 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng dân sự, Luật tố tụng hành chính, Luật Tư pháp người chưa thành niên, Luật phá sản và Luật hòa giải đối thoại tại tòa án.

- Về việc vắng mặt của đương sự tại phiên tòa: Nguyên đơn chị N vắng mặt tại phiên tòa nhưng có đơn yêu cầu giải quyết, xét xử vắng mặt. Bị đơn anh L đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt tại phiên tòa không có lý do. Căn cứ vào khoản 1 và điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 và khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt chị N và anh L.

[2] Về nội dung:

[2.1] Về quan hệ hôn nhân:

- Chị Nguyễn Thị Xuân N và anh Nguyễn Minh L tự nguyện kết hôn và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã P, huyện G, tỉnh B (nay là Ủy ban nhân dân xã L, tỉnh V) vào ngày 30 tháng 12 năm 2020 nên quan hệ hôn nhân của chị N và anh L là hợp pháp, được pháp luật công nhận và bảo vệ.

- Trong quá trình chung sống, theo chị N trình bày vợ chồng phát sinh mâu thuẫn nguyên nhân chính là do anh L không quan tâm chăm lo cho cuộc sống cho gia đình, chị đã nhiều lần trao đổi nhưng anh L không khắc phục nên vợ chồng thường xuyên cải vã, từ đó bất đồng quan điểm trong cuộc sống. Chị và anh L không còn chung sống với nhau từ tháng 9 năm 2021 cho đến nay, hiện tại tình cảm vợ chồng không còn nữa. Chị N có yêu cầu được giải quyết cho được ly hôn với anh L.

- Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án nhân dân khu vực 7 – Vĩnh Long đã nhiều lần mời chị N và anh L đến Tòa án tiến hành hòa giải nhằm hàn gắn nhưng chị N xác định không còn tình cảm với anh L, kiên quyết xin ly hôn; anh L đều vắng mặt không có lý do.

Như vậy, trong quá trình chung sống, giữa chị N và anh L đã có phát sinh mâu thuẫn, anh chị đã không còn yêu thương, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau; không cùng nhau chia sẽ, thực hiện các công việc trong gia đình. Tòa án nhiều lần mời chị N và anh L đến Tòa án tiến hành hòa giải nhằm hàn gắn nhưng chị N xác định không còn tình cảm với anh L, kiên quyết xin ly hôn; anh L đều vắng mặt không có lý do, điều này thể hiện anh L đã bỏ mặc mối quan hệ hôn nhân giữa anh và chị N. Mặt khác, chị N và anh L đã sống ly thân thời gian dài nhưng đến nay cũng không hàn gắn được. Từ đó có đủ cơ sở khẳng định chị N và anh L đã vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Căn cứ Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị N, chị N được ly hôn với anh L.

[2.2] Về con chung:

- Chị N và anh L chung sống với nhau có 01 con là Nguyễn Thanh L1, sinh ngày 19/9/2021, đang sống với chị N. Chị N có yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng con chung. Hội đồng xét xử xét thấy để cho con chung của anh chị được ổn định về tâm lý nên giao con chung của anh chị cho chị N được tiếp tục, trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi con chung đủ 18 tuổi.

- Về việc cấp dưỡng cho con: Theo quy định tại khoản 2 Điều 82 và khoản 1 Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình thì chị N có quyền yêu cầu anh L thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con. Trong quá trình giải quyết anh L vắng mặt nhưng để đảm bảo quyền lợi cho con chung nên Hội đồng xét xử quyết định buộc anh L có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng số tiền 1.000.000 (một triệu) đồng cho đến khi con chung đủ 18 tuổi, thời gian cấp dưỡng tính từ ngày 26/9/2025.

[2.3] Về tài sản chung, nợ chung: Chị N khai không có nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[3] Đối với đề nghị của Kiểm sát viên về việc tuân theo pháp luật tố tụng của người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng và ý kiến đề nghị về việc giải quyết vụ án là phù hợp với quy định của pháp luật nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

[4] Về án phí: Căn cứ quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

- Chị Nguyễn Thị Xuân N phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm.

- Anh Nguyễn Minh L phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí của người có nghĩa vụ cấp dưỡng.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; khoản 1 và điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1 và khoản 3 Điều 228; Điều 271; Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 2 Điều 1 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng dân sự, Luật tố tụng hành chính, Luật Tư pháp người chưa thành niên, Luật phá sản và Luật hòa giải đối thoại tại tòa án;

Căn cứ các Điều 56, 57, 81, 82, 83 và Điều 84 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

Căn cứ Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Nguyễn Thị Xuân Nguyên.

1. Về hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Xuân N được ly hôn với anh Nguyễn Minh L.

2. Về con chung: Chị Nguyễn Thị Xuân N được ly hôn với anh Nguyễn Minh L có 01 con chung tên Nguyễn Thanh L1, sinh ngày 19/9/2021. Sau khi ly hôn, chị N là người trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc con chung cho đến khi con chung đủ 18 tuổi. Anh L có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con chung mỗi tháng 1.000.000 đồng cho đến khi con chung đủ 18 tuổi, thời gian cấp dưỡng tính từ ngày 26/9/2025.

Anh Nguyễn Minh L có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung mà không ai được quyền cản trở.

Khi có lý do chính đáng, mức cấp dưỡng có thể thay đổi. Việc thay đổi mức cấp dưỡng do các bên thỏa thuận, nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án giải quyết.

Trong trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức quy định tại khoản 5 Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con chung.

3. Về tài sản chung, nợ chung: Chị N khai không có nên Hội đồng xét xử không xem xét.

4. Về án phí sơ thẩm:

Án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm là 300.000 (ba trăm nghìn) đồng do chị Nguyễn Thị Xuân N phải nộp nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí mà chị đã nộp là 300.000 (ba trăm nghìn) đồng theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0000335 ngày 17 tháng 7 năm 2025 của Thi hành án dân sự tỉnh Vĩnh Long. Chị N đã nộp đủ án phí.

Anh Nguyễn Minh L phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí của người có nghĩa vụ cấp dưỡng và còn phải nộp đủ số tiền này.

5. Về quyền kháng cáo:

Trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai, nguyên đơn và bị đơn vắng mặt tại phiên tòa sơ thẩm có quyền kháng cáo bản án này để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Long xét xử phúc thẩm.

Cỡ chữ