vanban.org

Bản án 61/2024/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

1/ Về quan hệ hôn nhân: Tuyên bố không công nhận quan hệ vợ chồng giữa nguyên đơn bà Lê Thị B với bị đơn ông Võ Ngọc H.

2/ Về con chung: Các con đã trưởng thành, các đương sự không yêu cầu nên HĐXX không đặt ra xem xét 3/ Về tài sản chung, nợ chung: Các đương sự tự thỏa thuận, không yêu cầu nên HĐXX không đặt ra xem xét. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyên đơn bà Lê Thị B với bị đơn ông Võ Ngọc H"
  • Tòa quyết gì? 1/ Về quan hệ hôn nhân: Tuyên bố không công nhận quan hệ vợ chồng giữa nguyên đơn bà Lê Thị B với bị đơn ông Võ Ngọc H.
  • Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 271 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ NGÃ NĂM
TỈNH SÓC TRĂNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 61/2024/HNGĐ-ST.
Ngày: 26 - 7 - 2024
“Tranh chấp hôn nhân và gia đình”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ NGÃ NĂM, TỈNH SÓC TRĂNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Phước Toàn.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Đàm Thanh Vũ.

Ông Nguyễn Việt Trường.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kim Tỏa - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Ngã Năm, tỉnh Sóc Trăng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Ngã Năm, tỉnh Sóc Trăng tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thúy Hằng - Kiểm sát viên.

Trong ngày 26 tháng 7 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Ngã Năm, tỉnh Sóc Trăng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 72/2024/TLST-HNGĐ, ngày 10 tháng 5 năm 2024 về việc “Tranh chấp hôn nhân và gia đình”. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 147/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 26/6/2024; Quyết định hoãn phiên tòa số 164/2024/QĐST-HNGĐ ngày 15/7/2024 và Thông báo về việc dời phiên tòa sơ thẩm số 176/TB-TA ngày 18/7/2024 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Lê Thị B, sinh năm 1980. (vắng mặt)

Địa chỉ: ấp Mỹ Đ, xã Mỹ Q, thị xã N, tỉnh Sóc Trăng.

- Bị đơn: Ông Võ Ngọc H, sinh năm 1971. (vắng mặt)

Địa chỉ: ấp Mỹ Đ, xã Mỹ Q, thị xã N, tỉnh Sóc Trăng.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện nguyên đơn bà Lê Thị B trình bày:

Bà với ông Võ Ngọc H chung sống với nhau như vợ chồng từ năm 1998 nhưng không có đăng ký kết hôn. Thời gian đầu hai người chung sống với nhau rất vui vẻ hạnh phúc và có chung 02 đứa con tên Võ Ngọc N, sinh ngày 18/9/1999 và Võ Thị Kim D, sinh ngày 12/01/2006, hiện nay các con đã trưởng thành và tự làm để lo cuộc sống. Thời gian gần đây giữa bà với ông H thường xuyên phát sinh mâu thuẫn, bất đồng quan điểm trong cuộc sống dẫn đến cải vã nhau, hai người đã nhiều lần hàn gắn tình cảm nhưng không được và đã ly thân với nhau. Nay bà nhận thấy không còn tình cảm với ông H nên yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về hôn nhân: Bà yêu cầu Tòa án công nhận giữa bà với ông Võ Ngọc H không phải là vợ chồng.

- Về con chung: Do các con đã trưởng thành nên không yêu cầu giải quyết.

- Về tài sản chung, nợ chung: Tự thỏa thuận, không yêu cầu giải quyết.

* Bị đơn ông Võ Ngọc H vắng mặt. Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng gồm: thông báo về việc thụ lý vụ án, thông báo về việc mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải, Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên tòa và thông báo dời phiên tòa sơ thẩm. Tuy nhiên, phía ông H không có văn bản trình bày ý kiến đối với nội dung khởi kiện của nguyên đơn.

Quan điểm kiểm sát của đại diện Viện kiểm sát như sau:

Về tố tụng: Thẩm phán thực hiện đúng và đầy đủ các quy định về xác định thẩm quyền, thu thập chứng cứ, yêu cầu đương sự cung cấp chứng cứ, thủ tục tống đạt văn bản tố tụng, thời hạn chuẩn bị xét xử; Đồng thời tại phiên tòa, Hội đồng xét xử (HĐXX) và Thư ký tuân thủ trình tự tố tụng tại phiên tòa. Về nội dung: Về hôn nhân đề nghị HĐXX chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Tuyên bố không công nhận quan hệ vợ chồng giữa nguyên đơn bà Lê Thị B với bị đơn ông Võ Ngọc H. Về con chung: Các con đã trưởng thành, các đương sự không yêu cầu nên HĐXX không đặt ra xem xét. Về tài sản chung, nợ chung: Các đương sự tự thỏa thuận, không yêu cầu nên HĐXX không đặt ra xem xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

- Về tố tụng:

Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu tuyên bố giữa nguyên đơn với bị đơn không phải là vợ chồng. Đồng thời, bị đơn có địa chỉ tại ấp Mỹ Đ, xã Mỹ Q, thị xã N, tỉnh Sóc Trăng nên xác định đây là vụ án hôn nhân và gia đình và thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã Ngã Năm theo quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

Tại phiên tòa vắng mặt nguyên đơn (có đơn đề nghị xét xử vắng mặt) và bị đơn (vắng mặt không lý do) Tòa án đã tống đạt hợp lệ lần thứ 2. Do đó, HĐXX quyết định xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn theo quy định tại khoản 1, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự.

- Về nội dung:

Về quan hệ hôn nhân: Theo nguyên đơn trình bày hai người sống chung với nhau như vợ chồng từ năm 1998, nhưng không có đăng ký kết hôn. Lời trình bày của nguyên đơn là phù hợp với công văn số 21/UBND ngày 04/6/2024 của Ủy ban nhân dân xã Mỹ Quới, thị xã Ngã Năm (BL 23) “Qua kiểm tra sổ lưu hộ tịch tại xã Mỹ Quới quản lý trường hợp bà Lê Thị B, sinh năm 1980, ông Võ Ngọc H, sinh năm 1971 giai đoạn từ 1998 đến 2024 sống tại xã Mỹ Quới, thị xã Ngã Năm, tỉnh Sóc Trăng, chưa đăng ký kết hôn với nhau”. Xét thấy, giữa nguyên đơn với bị đơn chung sống với nhau như vợ chồng sau ngày luật hôn nhân gia đình năm 1986 có hiệu lực là ngày 03/01/1987. Tuy nhiên, các đương sự không có đăng ký kết hôn nên đây được xem là hôn nhân không hợp pháp theo quy định tại Nghị quyết số 35/2000/NQ-QH10 ngày 09/6/2010 của Quốc hội về thi hành Luật hôn nhân và gia đình. Trong quá trình chung sống thì giữa nguyên đơn với bị đơn thường xuyên phát sinh mâu thuẫn, bất đồng quan điểm trong cuộc sống, mục đích hôn nhân không đạt được, hiện giữa hai người đã ly thân với nhau. Nay nguyên đơn yêu cầu tuyên bố giữa nguyên đơn với bị đơn không phải là vợ chồng. Căn cứ theo quy định tại khoản 2 Điều 53 của Luật hôn nhân và gia đình HĐXX tuyên bố không công nhận quan hệ giữa nguyên đơn với bị đơn là vợ chồng.

Về con chung: Theo nguyên đơn trình bày trong quá trình chung sống giữa nguyên đơn với bị đơn có 02 đứa con chung tên Võ Ngọc N, sinh ngày 18/9/1999 và Võ Thị Kim D, sinh ngày 12/01/2006. Hiện các con đã trưởng thành các đương sự không yêu cầu nên HĐXX không đặt ra xem xét.

Về tài sản chung, nợ chung: Các đương sự tự thỏa thuận, không yêu cầu nên HĐXX không đặt ra xem xét.

Về án phí: Nguyên đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án ly hôn theo quy định tại điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Từ những phân tích nêu trên xét lời đề nghị của Kiểm sát viên về hướng giải quyết vụ án là cơ sở nên HĐXX chấp nhận.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 1, khoản 3 Điều 228, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 2 Điều 53 của Luật hôn nhân và gia đình và điểm a Khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1/ Về quan hệ hôn nhân: Tuyên bố không công nhận quan hệ vợ chồng giữa nguyên đơn bà Lê Thị B với bị đơn ông Võ Ngọc H.

2/ Về con chung: Các con đã trưởng thành, các đương sự không yêu cầu nên HĐXX không đặt ra xem xét

3/ Về tài sản chung, nợ chung: Các đương sự tự thỏa thuận, không yêu cầu nên HĐXX không đặt ra xem xét.

4/ Về án phí: Nguyên đơn bà Lê Thị B phải chịu án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án ly hôn là 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng) nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí bà H đã nộp 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng) theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí tòa án số 0005201, ngày 07/5/2024 của Chi cục thi hành án dân sự thị xã Ngã Năm, tỉnh Sóc Trăng.

5/ Quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đối với đương sự vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo 15 ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Sóc Trăng xét xử theo trình tự phúc thẩm.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ