- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "NĐ: Ngân hàng TMCP Đ Việt Nam; BĐ: Nguyễn Văn M, Trần Thị H"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng thương mại cổ phần Đ Việt Nam, buộc ông Nguyễn Văn M, bà Trần Thị H trả cho Ngân hàng thương mại cổ phần Đ Việt Nam số tiền: 639.
- Căn cứ chính? Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN EA H’LEO TỈNH ĐẮK LẮK | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 61/2024/DS-ST Ngày 16 tháng 9 năm 2024 “Vv Tranh chấp Hợp đồng vay tài sản” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN EA H’LEO TỈNH ĐẮK LẮK
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đỗ Văn Dũng
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lương Tú Huân, ông Võ Ánh Sửu
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thúy Hằng, là Thư ký Tòa án của Tòa án nhân dân huyện Ea H’Leo, tỉnh Đắk Lắk
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ea H’Leo, tỉnh Đắk Lắk tham gia phiên tòa: Ông Ksơr Y Kơn - Kiểm sát viên
Ngày 16 tháng 9 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện E, tỉnh Đắk Lắk xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 402/2023/TLST-DS ngày 01 tháng 12 năm 2023 về việc tranh chấp Hợp đồng vay tài sản theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 68A/2024/ QĐXXST-DS ngày 09 tháng 8 năm 2024 và theo Quyết định hoãn phiên tòa số 47A/2024/ QĐST-DS ngày 27 tháng 8 năm 2024, giữa:
Nguyên đơn: Ngân hàng thương mại cổ phần Đ Việt Nam.
Địa chỉ: Tháp B, số 194, đường T, quận H, thành phố Hà Nội.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Phan Đức T; Chức vụ: Chủ tịch Hội đồng quản trị.
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Đinh Tiến H; Chức vụ: Chuyên viên Phòng khách hàng 2.
Nơi làm việc: Ngân hàng thương mại cổ phần Đ Việt Nam, Chi nhánh B, Đắk Lắk.
Địa chỉ: Số 476, đường H, phường A, thị xã B, tỉnh Đắk Lắk.
Theo Văn bản ủy quyền số 1780/BIDV.BH ngày 10 tháng 9 năm 2024 (Có mặt).
Bị đơn: Ông Nguyễn Văn M, sinh năm 1977; bà Trần Thị H, sinh năm 1971 (Đều vắng mặt).
Địa chỉ: Thôn 5, xã D, huyện E, tỉnh Đắk Lắk.
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
1. Bà Nguyễn Thị Ngọc H, sinh năm 2000 (Vắng mặt).
2. Ông Nguyễn Trường S, sinh năm 2003 (Vắng mặt).
3. Ông Nguyễn Văn H, sinh năm 2005 (Vắng mặt).
Địa chỉ: Thôn 5, xã D, huyện E, tỉnh Đắk Lắk
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện, quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày:
Ngày 09 tháng 10 năm 2019, Ngân hàng thương mại cổ phần Đ Việt Nam (Gọi tắt là Ngân hàng) cho ông Nguyễn Văn M, bà Trần Thị H (Ông M, bà H) vay 250.000.000đ (Hai trăm năm mươi triệu đồng). Lãi suất: 10,6%/ năm và được điều chỉnh khi có sự thay đổi lãi suất của B; lãi suất quá hạn: 150% lãi suất cho vay trong hạn; Lãi suất chậm trả đối với lãi: 10%/năm. Thời hạn vay: 12 tháng.
Ngày 09 tháng 01 năm 2020, Ngân hàng tiếp tục cho ông M, bà H vay thêm 130.000.000đ (Một trăm ba mươi triệu đồng). Lãi suất: 11,6%/năm và được điều chỉnh khi có sự thay đổi lãi suất của B; lãi suất quá hạn: 150% lãi suất cho vay trong hạn; Lãi suất chậm trả đối với lãi: 10%/năm. Thời hạn vay: 12 tháng.
Hình thức vay của cả hai hợp đồng là có bảo đảm bằng giá trị quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất.
Trong quá trình thực hiện hợp đồng, theo Hợp đồng tín dụng số 02/2019/8260114/ HĐTD ngày 09 tháng 10 năm 2019 (Gọi tắt là Hợp đồng số 02), thì ông M, bà H mới trả cho Ngân hàng được 19.893.151đ tiền lãi, gốc chưa trả. Theo Hợp đồng tín dụng số 01/2020/8260114/HĐTD ngày 09 tháng 01 năm 2020 (Gọi tắt là Hợp đồng số 01), thì ông M, bà H mới trả cho Ngân hàng được 7.519.342 tiền lãi, gốc chưa trả.
Tính đến ngày 16 tháng 9 năm 2024, ông M, bà H còn nợ Ngân hàng tổng số tiền theo hai hợp đồng là 639.818.406đ [Trong đó: Hợp đồng số 02 còn nợ: 415.914.941đ (Gốc: 250.000.000đ, lãi suất trong hạn: 111.082.191đ, lãi quá hạn: 52.201.229đ, lãi chậm trả: 2.631.521đ); Hợp đồng số 01 còn nợ: 223.903.465đ (Gốc: 130.000.000đ; lãi suất trong hạn: 63.212.055đ, lãi quá hạn: 27.763.903đ, lãi chậm trả: 2.927.507đ)] .
Mặc dù đã quá hạn trả nợ nhưng ông M, bà H không thanh toán, do đó Ngân hàng khởi kiện yêu cầu Tòa án buộc ông M, bà H trả số tiền tạm tính đến 16 tháng 9 năm 2024 là 639.818.406đ và yêu cầu trả lãi suất phát sinh theo các hợp đồng, kể từ ngày 17 tháng 9 năm 2024 cho đến khi trả xong nợ. Trường hợp ông M, bà H trả xong nợ, thì Ngân hàng đồng ý trả cho ông M, bà H toàn bộ tài sản đã thế chấp theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất số 01/2016/ 8260114/ HĐBĐ ngày 27 tháng 01 năm 2016. Trường hợp ông M, bà H vi phạm nghĩa vụ trả nợ, thì Ngân hàng yêu cầu xử lý tài sản thế chấp theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất số 01/2016/ 8260114/ HĐBĐ ngày 27 tháng 01 năm 2016 để thu hồi nợ.
Tại Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất số 01/2016/ 8260114/ HĐBĐ ngày 27 tháng 01 năm 2016 thể hiện:
Ông M thế chấp cho Ngân hàng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất của thửa đất số 31, tờ bản đồ 115, diện tích 14.404,6m2 theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BQ 591267 ngày 12 tháng 02 năm 2015 của UBND huyện E, tỉnh Đắk Lắk.
Tại Giấy ủy quyền ngày 27 tháng 01 năm 2016 ghi nhận:
Bà Trần Thị H ủy quyền cho ông Nguyễn Văn M dùng toàn bộ tài sản thế chấp để đảm bảo nghĩa vụ trả nợ theo hợp đồng tín dụng.
Tại Hợp đồng tín dụng số 02/2019/8260114/HĐTD ngày 09 tháng 10 năm 2019 có nội dung tóm tắt:
Ngày 09 tháng 10 năm 2019, Ngân hàng cho ông Nguyễn Văn M vay 250.000.000đ (Hai trăm năm mươi triệu đồng). Lãi suất: 10,6%/ năm và được điều chỉnh khi có sự thay đổi lãi suất của B; lãi suất quá hạn: 150% lãi suất cho vay trong hạn; Lãi suất chậm trả đối với lãi: 10%/năm. Thời hạn vay: 12 tháng.
Tại Hợp đồng tín dụng số 01/2020/8260114/HĐTD ngày 09 tháng 01 năm 2020 thể hiện nội dung:
Ngày 09 tháng 01 năm 2020, Ngân hàng cho ông Nguyễn Văn M vay 130.000.000đ (Một trăm ba mươi triệu đồng). Lãi suất: 11,6%/năm và được điều chỉnh khi có sự thay đổi lãi suất của B; lãi suất quá hạn: 150% lãi suất cho vay trong hạn; Lãi suất chậm trả đối với lãi: 10%/năm. Thời hạn vay: 12 tháng.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến:
Khẳng định Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã tuân thủ đầy đủ theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án; Đại diện của nguyên đơn chấp hành nghiêm chỉnh pháp luật kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử vào nghị án. Mặc dù Tòa án triệu tập hợp lệ, nhưng bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa.
Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; các điều 147; 227; 235; 271 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự. Áp dụng các điều 463, 466, 468 của Bộ luật dân sự. Áp dụng Điều 91 của Luật các tổ chức tín dụng. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc bị đơn trả số tiền 639.818.406đ và lãi suất phát sinh, kể từ ngày 17 tháng 9 năm 2024 cho đến khi trả xong nợ. Sau khi bị đơn trả xong nợ, thì nguyên đơn có nghĩa vụ trả lại cho bị đơn tài sản đã thế chấp. Trường hợp bị đơn vi phạm nghĩa vụ trả nợ, thì nguyên đơn có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự phát mại tài sản thế chấp để thu hồi nợ. Về án phí và chi phí tố tụng đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và được xem xét tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
. Về quan hệ pháp luật có tranh chấp và thụ lý vụ án:
+ Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bị đơn trả tiền vay theo hợp đồng tín dụng mà các bên đã ký kết. Như vậy quan hệ pháp luật ở đây là:“Tranh chấp hợp đồng vay tài sản" được quy định tại khoản 3 Điều 26 của Bộ luật tố tụng dân sự.
+ Nguyên đơn làm đơn khởi kiện và có nộp tiền tạm ứng án phí. Bị đơn có hộ khẩu thường trú tại xã D, huyện E, tỉnh Đắk Lắk, vì vậy Tòa án nhân dân huyện E, tỉnh Đắk Lắk căn cứ vào các Điều 35, 39 và khoản 3 Điều 195 của Bộ luật tố tụng dân sự để thụ lý vụ án.
. Về thủ tục tố tụng: Mặc dù Tòa án tiến hành hòa giải nhưng không hòa giải được. Tòa án đã triệu tập hợp lệ, nhưng bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vẫn vắng mặt, vì vậy Tòa án căn cứ Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự tiến hành giải quyết vụ án theo thủ tục chung.
. Về nội dung quan hệ pháp luật có tranh chấp:
Đối với yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng, thì Hội đồng xét xử thấy rằng:
Tại Hợp đồng số 02 thể hiện: Ngày 09 tháng 10 năm 2019, Ngân hàng cho ông Nguyễn Văn M vay 250.000.000đ (Hai trăm năm mươi triệu đồng). Lãi suất: 10,6%/ năm và được điều chỉnh khi có sự thay đổi lãi suất của B; lãi suất quá hạn: 150% lãi suất cho vay trong hạn; Lãi suất chậm trả đối với lãi: 10%/năm. Thời hạn vay: 12 tháng. Tại Hợp đồng số 01 thể hiện: Ngày 09 tháng 01 năm 2020, Ngân hàng cho ông Nguyễn Văn M vay 130.000.000đ (Một trăm ba mươi triệu đồng). Lãi suất: 11,6%/năm và được điều chỉnh khi có sự thay đổi lãi suất của B; lãi suất quá hạn: 150% lãi suất cho vay trong hạn; Lãi suất chậm trả đối với lãi: 10%/năm. Thời hạn vay: 12 tháng.
Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, đại diện theo ủy quyền của Ngân hàng, thừa nhận theo Hợp đồng số 02, thì ông M, bà H mới trả cho Ngân hàng được 19.893.151đ tiền lãi. Theo Hợp đồng số 01, thì ông M, bà H mới trả cho Ngân hàng được 7.519.342đ tiền lãi (Chưa trả gốc và lãi suất phát sinh).
Trong thời hạn chuẩn bị xét xử và tại phiên tòa, ông M, bà H không có mặt nên không ghi được ý kiến. Ngoài tài liệu chứng cứ mà Ngân hàng cung cấp ra, thì không có tài liệu, chứng cứ khác chứng minh ông M, bà H đã trả xong nợ. Đến nay, Ngân hàng xác định ông M, bà H còn nợ số tiền 639.818.406đ.
Xét thấy khoản tiền ông M, bà H vay của Ngân hàng đã quá hạn trả nợ theo Hợp đồng tín dụng và theo quy định tại Điều 466 của Bộ luật dân sự, cho nên Ngân hàng khởi kiện yêu cầu ông M, bà H trả số tiền 639.818.406đ là có căn cứ, phù hợp với quy định của pháp luật, do đó Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng và quan điểm của đại diện Viện kiểm sát, buộc ông M, bà H trả cho Ngân hàng số tiền là 639.818.406đ.
Về xử lý tài sản thế chấp: Tài sản thế chấp là của ông M, bà H. Bà H ủy quyền cho ông M thế chấp đề vay vốn. Việc thế chấp đã thực hiện tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Vì vậy trong trường hợp ông M, bà H thanh toán xong nợ, thì Ngân hàng phải trả lại cho ông M, bà H tài sản thế chấp. Trường hợp ông M, bà H vi phạm nghĩa vụ trả nợ, thì Ngân hàng yêu cầu phát mại tài sản thế chấp để thu hồi nợ.
Về chi phí tố tụng: Do yêu cầu của Ngân hàng được Tòa án chấp nhận, do đó ông M, bà H phải chịu 1.400.000đ tiền chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ. Do Ngân hàng nộp số tiên trên, vì vậy trả lại cho Ngân hàng sau khi thu được của ông M, bà H.
. Về án phí: Do yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng được chấp nhận, nên ông M, bà H phải chịu toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm đối với tranh chấp về dân sự có giá ngạch với số tiền là 29.592.736đ (Làm tròn 29.592.000đ), được tính như sau: (400.000.000đ có mức thu 20.000.000đ; 239.818.406đ có mức thu là 239.818.406đ x 4% = 9.592.736đ). Trả lại cho Ngân hàng số tiền tạm ứng án phí đã nộp.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Áp dụng khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; các điều 147; 227; 235; 271 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự;
- Căn cứ các điều 385; 398; 463, 466 và Điều 468 của Bộ luật dân sự;
- Căn cứ Điều 91 của Luật các tổ chức tín dụng;
- Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng thương mại cổ phần Đ Việt Nam, buộc ông Nguyễn Văn M, bà Trần Thị H trả cho Ngân hàng thương mại cổ phần Đ Việt Nam số tiền: 639.818.406đ (Gốc: 380.000.000đ, lãi suất tính đến ngày 16 tháng 9 năm 2024 là 259.818.406đ).
Tiếp tục tính lãi suất phát sinh theo các Hợp đồng tín dụng: Hợp đồng tín dụng số 02/2019/8260114/HĐTD ngày 09 tháng 10 năm 2019 và Hợp đồng tín dụng số 01/2020/ 8260114/HĐTD ngày 09 tháng 01 năm 2020, kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi ông Nguyễn Văn M, bà Trần Thị H trả xong nợ.
Trường hợp ông Nguyễn Văn M, bà Trần Thị H trả xong nợ, thì Ngân hàng thương mại cổ phần Đ Việt Nam phải trả lại cho ông Nguyễn Văn M, bà Trần Thị H tài sản thế chấp theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất số 01/2016/ 8260114/ HĐBĐ ngày 27 tháng 01 năm 2016.
Trường hợp ông Nguyễn Văn M, bà Trần Thị H vi phạm nghĩa vụ trả nợ, thì Ngân hàng thương mại cổ phần Đ Việt Nam có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự xử lý tài sản mà ông Nguyễn Văn M, bà Trần Thị H đã thế chấp theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất số 01/2016/ 8260114/ HĐBĐ ngày 27 tháng 01 năm 2016 để thu hồi nợ.
2. Về chi phí tố tụng: Ông Nguyễn Văn M, bà Trần Thị H phải chịu 1.400.000đ tiền chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ. Trả lại cho Ngân hàng thương mại cổ phần Đ Việt Nam 1.400.000đ sau khi thu được của ông Nguyễn Văn M, bà Trần Thị H.
3. Về án phí:
+ Ông Nguyễn Văn M, bà Trần Thị H phải chịu 29.592.000 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch.
+ Trả lại cho Ngân hàng thương mại cổ phần Đ Việt Nam số tiền 13.252.000đ đã nộp tại Chi cục thi hành án dân sự huyện K, tỉnh Đắk Lắk theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AA/2022/ 0002154 ngày 12 tháng 7 năm 2023.
4. Về quyền và thời hạn kháng cáo: Các đương sự có mặt tại phiên tòa, có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt tại phiên tòa, có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án.
Trường hợp bản án, được thi hành theo quy định tại điều 2 của Luật thi hành án dân sự, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 của Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - VKSND huyện E ; - Các đương sự ; - Lưu hồ sơ. | T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Đỗ Văn Dũng |