vanban.org

Bản án 61/2023/HSST — Hình sự

TAND huyện Hóc Môn, TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 30/03/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Phụng H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Phụng H 05 (năm) năm 03 (ba) tháng tù. Thời hạn tù được tính từ ngày 02/8/2022. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Phụng H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số đi…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Phụng H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN HÓC MÔN
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 61/2023/HSST
Ngày: 30/03/2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÓC MÔN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Dương Thị Mỹ Linh.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Nguyễn Thị Tịnh Tâm

2. Bà Nguyễn Thị Thu Hiền

- Thư ký phiên tòa: Bà Hồ Thị Như Oanh - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Hà Thị Mai Hương - Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 03 năm 2023, Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 04/2023/TLST-HS ngày 11 tháng 01 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 58/2023/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 03 năm 2023, đối với bị cáo:

Họ và tên: Nguyễn Phụng H, sinh năm: 1980; Nơi sinh: Thành phố Hồ Chí Minh; Giới tính: Nam; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: 233/4 B, Phường 15, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 6/12; Nghề nghiệp: Không; Họ tên cha: Nguyễn Văn H, sinh năm: 1954 (chết); Họ tên mẹ: Trần Thu H, sinh năm: 1957 (chết); Anh chị em ruột: Có 02 người kể cả bị cáo; Bị cáo có vợ là Nguyễn Thị Thu T, sinh năm 1990; Tiền án: Ngày 04/4/2019, bị Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 01 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo bản án số 49/2019/HS-ST, chưa xóa án tích; Ngày 05/05/2020, bị Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 01 năm 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo bản án số 65/2020/HSST, chưa xóa án tích; Nhân thân: Ngày 01/10/2015, bị Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh Quyết định đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc thời hạn 18 tháng theo quyết định số 261/QĐ-TA; Bị cáo bị cáp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giữ, tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Hóc Môn từ ngày 02/8/2022 cho đến nay; Bị cáo được trích xuất có mặt tại phiên tòa.

- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

Bà Phạm Thị A, sinh năm 1977 (vắng mặt).

Địa chỉ: Khu phố 8, thị trấn P, huyện N, tỉnh Ninh Thuận.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 15 giờ ngày 02/8/2022, trước số 88/8B ấp X, xã X, huyện H, Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an huyện Hóc Môn phối hợp với Công an xã Xuân Thới Đông tuần tra phát hiện bắt quả tang Nguyễn Phụng H đang cất giữ ma túy nhằm để sử dụng. Thu giữ trong túi quần bên phải của H 01 gói nylon bên trong có 02 viên nén màu hồng (ký hiệu mẫu m), 01 điện thoại di động hiệu Vivo màu xanh, 01 xe máy biển số 85N2-0760 (BL 38,39).

Quá trình điều tra H khai nhận: bản thân nghiện ma túy đá, H cất giữ ma túy để sử dụng thỏa mãn cơn nghiện. Nguồn gốc ma túy là của tên H (không rõ lai lịch) ở khu vực chợ Thới Tứ, xã Thới Tam Thôn, huyện Hóc Môn. Khoảng 07h30 ngày 02/8/2022, H đến gặp H thì H nói cho 02 viên nén về xài thử, H đồng ý lấy và cất trong túi quần. Khoảng 14 giờ cùng ngày H điều khiển xe về đến khu vực gần chợ đầu mối thì bị bắt quả tang như trên.

Tại bản kết luận giám định số 4465/KL-KTHS ngày 05/8/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an thành phố Hồ Chí Minh kết luận: 02 viên nén màu hồng được ký hiệu mẫu m cần giám định là ma tuý ở thể rắn, có khối lượng 1,0958g loại Ketamine (BL45).

Vật chứng:

- 01 gói niêm phong mang số vụ 939/2022 bên ngoài có dấu vân tay màu đỏ, chữ ký ghi tên Nguyễn Phụng H, bên trong là ma túy còn lại sau giám định;

- 01 điện thoại di động hiệu Vivo;

- 01 xe máy biển số 85N2-0760, số khung: RLCS5C6309Y, số máy: 5C63-244977. Xác minh chủ sở hữu là bà Phạm Thị A, bà A đã bán xe trên nhưng không nhớ lai lịch của người mua, khi bán không làm thủ tục sang nhượng xe, đổi thông tin chủ sở hữu. H khai mua xe máy trên của một người phụ nữ tên Tuyền (không rõ lai lịch) với giá 5.000.000 đồng, không làm giấy tờ mua bán, H đã trả trước 2.500.000 đồng.

Tại Bản cáo trạng số: 29/CT-VKS-HM ngày 10 tháng 01 năm 2023 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố bị cáo Nguyễn Phụng H về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm o khoản 2 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015, đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh sau khi nêu lại nội dung vụ án, phân tích tính chất và hậu quả của vụ án đối với xã hội, những tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo đã đề nghị tuyên bố bị cáo Nguyễn Phụng H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

- Áp dụng điểm o khoản 2 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Phụng H từ 05 (năm) năm tù đến 06 (sáu) năm tù.

- Về xử lý vật chứng của vụ án:

+ Tịch thu tiêu hủy: 01 gói niêm phong mang số vụ 939/2022 bên ngoài có dấu vân tay màu đỏ, chữ ký ghi tên Nguyễn Phụng H, bên trong là ma túy còn lại sau giám định.

+ Trả lại cho bị cáo 01 điện thoại di động hiệu Vivo.

+ Đối với 01 xe máy biển số 85N2-0760, số khung: RLCS5C6309Y, số máy: 5C63-244977. Giao cho Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh đăng tải trên các phương tiện thông tin đại chúng trong thời hạn 06 tháng để truy tìm chủ sở hữu hợp pháp đối với chiếc xe gắn máy nêu trên. Trong trường hợp quá thời hạn 06 tháng mà không có chủ sở hữu nào đến nhận thì tịch thu sung quỹ Nhà nước.

Bị cáo Nguyễn Phụng H khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung bản cáo trạng đã nêu và xin được hưởng mức án nhẹ.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Hóc Môn, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn, kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện trong vụ án là hợp pháp.

Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với biên bản phạm tội quả tang, Bản kết luận giám định và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Vì vậy, đã có đủ cơ sở để kết luận: Ngày 02/8/2022, Nguyễn Phụng H đã có hành vi cất giấu trái phép 1,0958g ma túy, loại Ketamine (theo Kết luận giám định số 4465/KL-KTHS ngày 05/8/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an Thành phố Hồ Chí Minh), mục đích để sử dụng thì bị bắt quả tang tại trước nhà số 88/8B ấp X, xã X, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh. Hành vi nêu trên của bị cáo đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” được quy định tại Điều 249 Bộ luật hình sự.

Ngày 05/05/2020, bị cáo bị Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo Bản án số 65/2020/HSST, đã bị áp dụng tình tiết tăng nặng “tái phạm”, bị cáo chưa được xóa án tích, nay lại thực hiện hành vi phạm tội do cố ý nên lần phạm tội này thuộc trường hợp “tái phạm nguy hiểm”.

Do đó, Viện kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn đã truy tố để xét xử bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” thuộc trường hợp “Tái phạm nguy hiểm” được quy định tại điểm o khoản 2 Điều 249 Bộ luật hình sự là đúng người, đúng tội nên buộc bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật.

Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội:

Bị cáo là người đã thành niên, có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, hành vi phạm tội của bị cáo là rất nghiêm trọng, đã xâm phạm đến chế độ quản lý độc quyền của Nhà nước về chất ma túy, gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự tại địa phương. Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy cần có mức án tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhằm cải tạo, giáo dục riêng cho bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội.

Tình tiết giảm nhẹ: Tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự là phù hợp.

Tình tiết tăng nặng: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo Điều 52 Bộ luật hình sự là phù hợp.

Về xử lý vật chứng:

- Tịch thu tiêu hủy: 01 gói niêm phong mang số vụ 939/2022 bên ngoài có dấu vân tay màu đỏ, chữ ký ghi tên Nguyễn Phụng H, bên trong là ma túy còn lại sau giám định.

- Trả lại cho bị cáo 01 điện thoại di động hiệu Vivo là tài sản cá nhân của bị cáo và không liên quan đến việc phạm tội.

- Đối với 01 xe máy biển số 85N2-0760, số khung: RLCS5C6309Y, số máy: 5C63-244977. Giao cho Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh đăng tải trên các phương tiện thông tin đại chúng trong thời hạn 06 tháng để truy tìm chủ sở hữu hợp pháp đối với chiếc xe gắn máy nêu trên. Trong trường hợp quá thời hạn 06 tháng mà không có chủ sở hữu nào đến nhận thì tịch thu sung quỹ Nhà nước.

Đối với đối tượng tên H là người bán ma túy cho H: Do chưa rõ lai lịch, cơ quan điều tra tiếp tục làm rõ, xử lý sau.

Án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải chịu theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Áp dụng điểm o khoản 2 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38, Điều 50 Bộ luật Hình sự năm 2015, đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017;

- Áp dụng Điều 106, Điều 135, Điều 136, Điều 329, Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự;

- Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Phụng H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

2. Xử phạt bị cáo Nguyễn Phụng H 05 (năm) năm 03 (ba) tháng tù.

Thời hạn tù được tính từ ngày 02/8/2022.

3. Tạm giam bị cáo Nguyễn Phụng H 45 (Bốn mươi lăm) ngày kể từ

ngày tuyên án để đảm bảo thi hành án.

4. Xử lý vật chứng:

- Tịch thu tiêu hủy: 01 gói niêm phong mang số vụ 939/2022 bên ngoài có dấu vân tay màu đỏ, chữ ký ghi tên Nguyễn Phụng H, bên trong là ma túy còn lại sau giám định.

- Trả lại cho bị cáo 01 điện thoại di động hiệu Vivo, là tài sản cá nhân của bị cáo và không liên quan đến việc phạm tội.

- Đối với 01 xe máy biển số 85N2-0760, số khung: RLCS5C6309Y, số máy: 5C63-244977. Giao cho Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh đăng tải trên các phương tiện thông tin đại chúng trong thời hạn 06 tháng để truy tìm chủ sở hữu hợp pháp đối với chiếc xe gắn máy nêu trên. Trong trường hợp quá thời hạn 06 tháng mà không có chủ sở hữu nào đến nhận thì tịch thu sung quỹ Nhà nước.

(Vật chứng của vụ án hiện đang được lưu giữ tại kho vật chứng thuộc Chi cục thi hành án dân sự huyện Hóc Môn theo Quyết định chuyển vật chứng số 23/QĐ-VKS-HS ngày 04/01/2023 và Biên bản giao nhận vật chứng ngày 05/01/2023).

5. Về án phí: Buộc bị cáo Nguyễn Phụng H phải nộp 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

6. Bị cáo có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ