- Tranh chấp gì? án hình sự — "B tàng trữ ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Trương Văn B phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VIỆT TRÌ TỈNH PHÚ THỌ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 61/2023/HS-ST Ngày 16 tháng 5 năm 2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VIỆT TRÌ - TỈNH PHÚ THỌ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
+ Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn B Luyến
+ Các Hội thẩm nhân dân: Bà Đặng Hồng Chiến
Bà Lưu Thị Kim Thanh.
- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hương Thủy - Thư ký, Tòa án nhân dân thành phố VT, tỉnh PT.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố VT, tỉnh PT, tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Bích Ngọc - Kiểm sát viên.
Trong ngày 16 tháng 5 năm 2023, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố VT, tỉnh PT xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 63/2023/TLST-HS ngày 19/4/2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 64/2023/QĐXX-HS ngày 27/4/2023, đối với:
Bị cáo: Trương Văn B; Giới tính: Nam; Sinh ngày: 14/5/1978; Nơi ĐKHKTT và chỗ ở: tổ 47, khu 8, phường VP, thành phố VT, tỉnh PT; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 10/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Con ông: Trương Văn T (đã chết) và con bà: Phạm Thị N; Vợ: Phùng Thị L; Con: Có 02 con, lớn sinh năm 2004, nhỏ sinh năm 2022; Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: 04; Tại Bản án hình sự sơ thẩm số: 66/2006/HS-ST ngày 18/4/2006, của Tòa án nhân dân thành phố VT xử B 12 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, thời hạn tù tính từ ngày 03/02/2006, (giá trị tài sản trên 2.000.000 đồng) và phải chịu 50.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm. B ra trại ngày 03/02/2007, chấp hành xong án phí ngày 04/6/2008; Tại Bản án hình sự sơ thẩm số: 195/2007/HS-ST ngày 28/9/2007, của Tòa án nhân dân thành phố VT xử B 12 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” thời hạn tù tính từ ngày 25/6/2007, (giá trị tài sản 568.000 đồng) và phải chịu 50.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm. B ra trại ngày 25/6/2008, chấp hành xong án phí ngày 03/6/2008; Tại Bản án hình sự sơ thẩm số: 31/2009/HSST ngày 23/02/2009, của Tòa án nhân dân thành phố VT xử B 27 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” thời hạn tù tính từ ngày 21/10/2008, (giá trị tài sản trên 5.616.832 đồng), buộc bồi thường cho Công ty TNHH Thép Cửu Long VT 5.616.832 đồng và phải chịu 50.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm. B ra trại ngày 21/10/2010, chấp hành xong án phí ngày 15/8/2014. Về phần bồi thường: hiện nay công ty Thép Cửu Long đã giải thể. Theo lời khai của B đã bồi thường xong; Tại Bản án hình sự sơ thẩm số: 31/2011/HSST ngày 27/7/2011, của Tòa án nhân dân huyện Phù Ninh xử B 8 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, thời hạn tù tính từ ngày 21/6/2011 (khối lượng ma túy là 0,12 gam heroin) và phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm. B ra trại ngày 21/02/2018, chấp hành xong án phí ngày 19/7/2011; Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 26/12/2022. Đến ngày 30/12/2022, Cơ quan điều tra ra Quyết định khởi tố vụ án, Quyết định khởi tố bị can, Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú. Hiện bị cáo đang tại ngoại tại phường VP, thành phố VT, tỉnh PT, (Có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Hồi 19 giờ 00 phút ngày 26/12/2022, tại khu vực gần Trạm y tế phường BH; thuộc tổ 22, khu Mộ Thượng, phường BH, thành phố VT, tỉnh PT, tổ công tác của đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy, Công an thành phố VT, phát hiện và kiểm tra một người đàn ông đang có biểu hiện vi phạm pháp luật. Người này, tự khai họ tên là Trương Văn B, sinh năm 1978, trú tại tổ 47, khu 8, phường VP, thành phố VT, tỉnh PT. Quá trình kiểm tra, B tự giác lấy từ tay phải ra giao nộp: 01 túi nilon màu trắng một đầu có khuy bấm viền màu đỏ, bên trong có chứa chất rắn dạng tinh thể màu trắng và 02 viên dạng nén hình tròn màu đỏ, một mặt có in chữ WY và khai nhận đây là ma túy đá và ma túy Hồng phiến của B mục đích để sử dụng cho bản thân. Ngoài ra, còn tạm giữ của B: Tiền Việt Nam: 270.000 đồng; 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO màu đen đã cũ, có số IMEI 867143063960876, kèm 01 sim trong máy số: 0979821848. Cùng ngày, Cơ quan điều tra tiến hành kiểm tra kết quả xét nghiệm ma túy bằng que thử nước tiểu đối với B, kết quả dương tính với chất ma túy.
Cơ quan điều tra ra Quyết định trưng cầu giám định số chất bột cục màu trắng và 02 viên nén màu đỏ thu giữ của Trương Văn B. Tại bản Kết luận giám định số 76 ngày 30/12/2022, của Phòng kỹ thuật hình sự, Công an tỉnh PT, kết luận:
"- Chất rắn dạng tinh thể màu trắng chứa trong 01 túi nilon màu trắng một đầu có khuy bấm viền màu đỏ trong Bì niêm phong gửi đến giám định là ma túy, có khối lượng là 1,334 gam, loại Methamphetamine.
- 02 viên nén màu đỏ một mặt có in chữ WY chứa trong 01 túi nilon màu trắng một đầu có khuy bấm viền màu đỏ trong Bì niêm phong gửi đến giám định là ma túy, có khối lượng là 0,209 gam, loại Methamphetamine.
*Methamphetamine: số thứ tự 247, Danh mục IIC, Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ".
Hoàn trả lại 1,315 gam chất rắn dạng tinh thể màu trắng và 0,111 gam viên dạng nén màu đỏ một mặt có in chữ WY là mẫu vật còn lại sau khi giám định, cùng toàn bộ bao gói gửi đến giám định được niêm phong trong 01 bì giấy.
Như vậy, tổng khối lượng ma túy Methamphetamine là 1,543 gam.
Về nguồn gốc số ma tuý bị thu giữ, B khai nhận: Khoảng 18 giờ 00 phút ngày 26/12/2022, Trương Văn B đi nhờ xe của một người qua đường (B không biết họ tên, địa chỉ ở đâu) từ nhà đến khu vực tổ 22, khu Mộ Thượng, phường BH, thành phố VT để tìm mua ma túy. Tại đây, B gặp và hỏi mua được của một người đàn ông tên Quyền (B không biết họ, địa chỉ ở đâu) được 01 túi ma túy có đặc điểm là túi nilon màu trắng, một đầu có khuy bấm viền màu đỏ bên trong chứa chất rắn dạng tinh thể màu trắng là ma túy tổng hợp và 02 viên dạng nén hình tròn màu đỏ, một mặt của mỗi viên đều in chữ WY là ma túy với giá 500.000 đồng. Sau đó, B cầm túi ma túy mua được ở tay phải đi tìm nơi sử dụng. Khi đi đến khu vực gần Trạm y tế phường BH thuộc tổ 22, khu Mộ Thượng, phường BH, thành phố VT, tỉnh PT thì B bị tổ công tác Công an thành phố VT phát hiện, bắt quả tang như đã nêu trên.
Quá trình điều tra, B còn khai nhận: Ngày 23/12/2022 B đi xuống thành phố Vĩnh Yên, tỉnh Vĩnh Phúc dự sinh nhật một người bạn xã hội tên Trung (B không biết rõ họ tên, địa chỉ cụ thể ở đâu), sau khi uống rượu say, B có sử dụng ma túy đá nhưng không nhớ là ai cho B sử dụng. Ngày 04/01/2023, Công an thành phố VT ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với B về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, hình thức phạt: Cảnh cáo.
Đối với người đàn ông tên Quyền bán ma túy cho Trương Văn B và người cho B ma túy để sử dụng vào ngày 23/12/2022, ngoài lời khai của B không có tài liệu nào khác để chứng minh; Do đó, Cơ quan điều tra, không đủ căn cứ xác định nguồn gốc số ma túy của B và người đàn ông như B đã khai.
Tại bản cáo trạng số: 61/CT-VKS-VT ngày 17 tháng 4 năm 2023, Viện kiểm sát nhân dân thành phố VT, tỉnh PT, truy tố bị cáo Trương Văn B về tội: "Tàng trữ trái phép chất ma tuý", theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa:
- Bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội theo nội dung cáo trạng truy tố;
- Kiểm sát viên giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:
Căn cứ vào: Điểm c khoản 1 khoản 5 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38, điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự; Điểm a, c khoản 2 Điều 106, khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016, của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Trương Văn B phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Về hình phạt chính: Xử phạt bị cáo Trương Văn B từ 12 tháng tù đến 15 tháng tù, được khấu trừ thời gian tạm giữ từ ngày 26/12/2022 đến ngày 30/12/2022. Thời hạn tù tính từ ngày đi thi hành án,
Về hình phạt bổ sung: Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO màu đen đã cũ, số IMEI: 867143063960876 và số tiền 270.000 đồng thu giữ của bị cáo B.
Về xử lý vật chứng: Tịch thu, tiêu hủy 1,315 gam chất rắn dạng tinh thể màu trắng và 0,111 gam viên dạng nén màu đỏ một mặt in chữ WY là mẫu vật còn lại cùng toàn bộ bao gói) trong 01 bì niêm phong số: 76/KTHS của Phòng kỹ thuật hình sự Công an Tỉnh PT và 01 sim điện thoại, số 0979821848 thu giữ của bị cáo B.
Về án phí: Bị cáo Trương Văn B phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng), tiền án phí hình sự sơ thẩm.
Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa những người tham gia tố tụng không có ý kiến gì khác về quyết định truy tố của Viện kiểm sát.
Bị cáo nói lời sau cùng: Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Trên cơ sở nội dụng vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố VT, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố VT, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
. Xét lời khai nhận tội của bị cáo Trương Văn B tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan CSĐT và vật chứng thu giữ, cũng như với các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Hội động xét xử có đủ căn cứ để kết luận: Hồi 19 giờ 00 phút ngày 26/12/2022, tại khu vực gần Trạm y tế phường BH thuộc tổ 22, khu Mộ Thượng, phường BH, thành phố VT, tỉnh PT, Trương Văn B có hành vi tàng trữ trái phép tổng khối lượng 1,543 gam ma túy Methamphetamine mục đích sử dụng cho bản thân thì bị Tổ công tác của Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy - Công an thành phố VT bắt quả tang và thu giữ vật chứng.
Hành vi nêu trên của Trương Văn B đã phạm vào tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự
Điều 249. Tội tàng trữ trái phép chất ma túy.
“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
...
c, Heroine, Cocaine, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam;”
. Xét hành vi phạm tội của bị cáo thuộc loại tội phạm nghiêm trọng. Bị cáo thực hiện hành vi với lỗi cố ý trực tiếp và đã xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy, gây mất trật tự trị an xã hội. Do vậy, cần phải xử phạt thật nghiêm trước pháp luật, mang tính giáo dục riêng và phòng ngừa chung.
Tuy nhiên, trước khi quyết định hình phạt Hội đồng xét xử xem xét đến nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo thấy rằng:
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào, theo quy định tại khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự nên cần xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo là phù hợp.
Về hình phạt bổ sung:
Đối với các tài sản thu giữ của bị cáo gồm: 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO màu đen đã cũ, có số IMEI 867143063960876 và số tiền 270.000 đồng, đây là tài sản của bị cáo nên áp dụng khoản 5 Điều 249 của Bộ luật hình sự, tịch thu sung vào ngân sách nhà nước là phù hợp.
- Đối với người đàn ông bán ma túy cho B ngày 26/12/2022 và người cho B ma túy sử dụng vào ngày 23/12/2022, Cơ quan điều tra không có căn cứ để điều tra, xác minh, là phù hợp.
- Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của B ngày 23/12/2022, không thu giữ được ma tuý để xác định khối lượng nên Công an thành phố VT ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính, là phù hợp.
. Về xử lý vật chứng:
- Ma túy thuộc Nhà nước quản lý, cấm tàng trữ, lưu hành. Vì vậy, cần tịch thu, tiêu hủy số ma túy còn lại (1,315 gam chất rắn dạng tinh thể màu trắng và 0,111 gam viên dạng nén màu đỏ một mặt in chữ WY là mẫu vật còn lại cùng toàn bộ bao gói) trong 01 bì niêm phong số: 76/KTHS của Phòng kỹ thuật hình sự Công an Tỉnh PT, hoàn trả là phù hợp.
- Đối với 01 sim điện thoại, số 0979821848, xét thấy không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu, tiêu hủy là phù hợp.
Xét đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa, là phù hợp cần chấp nhận.
Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào: Điểm c khoản 1 khoản 5 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38, điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự; Điểm a, c khoản 2 Điều 106, khoản 2 Điều 136, khoản 1 Điều 331, khoản 1 Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016, của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Tuyên bố: Bị cáo Trương Văn B phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Xử phạt: Bị cáo Trương Văn B 12 (Mười hai) tháng tù, được khấu trừ thời gian bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 26/12/2022 đến ngày 30/12/2022. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi thi hành án;.
Về hình phạt bổ sung: Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO màu đen đã cũ, có số IMEI 867143063960876 và số tiền 270.000 đồng (Hai trăm bảy mươi nghìn đồng) thu giữ của bị cáo B.
* Về xử lý vật chứng: Tịch thu, tiêu hủy (1,315 gam chất rắn dạng tinh thể màu trắng và 0,111 gam viên dạng nén màu đỏ một mặt in chữ WY là mẫu vật còn lại cùng toàn bộ bao gói) trong 01 bì niêm phong số: 76/KTHS của Phòng kỹ thuật hình sự Công an Tỉnh PT và 01 sim điện thoại, số 0979821848
(Theo Biên bản giao, nhận vật chứng ngày 18/4/2023 và Biên lai thu tiền số: AA2022/0000070 ngày 18/4/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố VT, tỉnh PT).
* Về án phí: Buộc bị cáo Trương Văn B phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng), tiền án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo được quyền kháng cáo, trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.
| Nơi nhận: - VKSND tỉnh PT; - VKSND thành phố VT; - Trại tạm giam Công an tỉnh PT; - Công an TP.VT; - Sở Tư pháp tỉnh PT; - Chi cục THA TP.VT; - UBND nơi bị cáo cư trú; - Bị cáo; - Lưu HS, AV. | T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn B Luyến |