vanban.org

Bản án 61/2023/HS-ST — Hình sự

TAND Q. Lê Chân, TP. Hải Phòng Tuyên án 05/06/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự;

Tịch thu tiêu hủy lượng ma túy còn lại sau giám định cùng vỏ bao gói được niêm phong trong phong bì thư số 444MT/PC09; Tịch thu nộp vào Ngân sách Nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia màu đen có phím bấm, IMEL: 357341080971390 đã thu giữ của bị cáo; Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Vũ Hồng P mua bán TPMT - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự;
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
QUẬN LÊ CHÂN
THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 61/2023/HS-ST
Ngày 05-6-2023

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN LÊ CHÂN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ Phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thu Hương.

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Phạm Thị Thanh Hiên

Ông Đinh Văn Bình

- Thư ký Phiên toà: Ông Trịnh Việt Anh-Thư ký Toà án nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng tham gia Phiên toà: Bà Trần Thị Thư - Kiểm sát viên.

Ngày 05 tháng 6 năm 2023, tại trụ sở Toà án nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 64/2023/HSST ngày 27 tháng 4 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 257/2023/QĐXXST-HS ngày 22 tháng 05 năm 2023 đối với bị cáo:

Vũ Hồng P, sinh ngày 09 tháng 10 năm 1985 tại Hải Phòng. Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Số 23/02 Đ, phường C, quận L, thành phố Hải Phòng; tạm trú: Số 07/36/82 K2, phường V, quận L, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hoá: Lớp 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Vũ Tiến D (đã chết) và bà Phạm Kim V; chưa có vợ con; tiền án, tiền sự, nhân thân: Án số 145/2018/HSST ngày 24/10/2018 Tòa án nhân dân quận L, thành phố Hải Phòng xử phạt 12 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy (đã được xóa án tích); bị bắt tạm giữ ngày 06/09/2022, tạm giam ngày 15/09/2022; có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại Phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 09 giờ 25 phút ngày 06/9/2022, tổ công tác thuộc đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an quận Lê Chân trong khi làm nhiệm vụ tại khu vực trước cửa nhà số 14/27 H, phường H, quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng thì phát hiện Vũ Hồng P đang điều khiển xe máy biển kiểm soát 16L7-1897 có biểu hiện nghi vấn. Tiến hành kiểm tra, thu giữ trong túi áo khoác chống nắng bên trái của P đang mặc 01 túi nilon màu đen, bên trong có 02 túi nilon màu trắng chứa chất bột màu trắng dạng cục nghi là ma túy. Ngoài ra, còn thu giữ 01 điện thoại di động Nokia, 01 xe máy và số tiền 550.000đồng, sau đó đưa P về trụ sở Công an quận Lê Chân lập biên bản bắt người có hành vi phạm tội quả tang.

Tại Kết luận giám định số 444/KQGĐ-MT ngày 09/9/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an thành phố Hải Phòng kết luận: Chất bột màu trắng thu giữ của P gửi giám định là ma túy, có khối lượng 6,64 gam, là loại Heroine.

Tại cơ quan điều tra, Vũ Hồng P khai nhận: Vào khoảng 08 giờ ngày 06/9/2022, P nhận được điện thoại của một nam giới tên Phong (không rõ lai lịch địa chỉ) có số điện thoại là 0395324959 hỏi mua 02 “chỉ” Heroine. P đồng ý và báo giá là 6.500.000đồng, đồng thời hẹn ra ngõ Hoàng Quý để giao dịch. Sau đó, P gọi điện cho Bùi Ngọc T có số điện thoại là 0931511296 hỏi mua 02 “chỉ” Heroine; T báo giá 6.000.000đồng và hẹn giao ma túy ở ngõ 414 Tô Hiệu, phường Hồ Nam, quận Lê Chân, Hải Phòng; sau đó, P đi xe máy đến điểm hẹn thì gặp T đang đứng đợi. Tại đây, P nói bán ma túy xong sẽ quay lại trả tiền cho T, T đồng ý và lấy từ trong túi quần bên phải 01 túi nilon màu đen đưa cho P, P mở ra xem thấy có 02 túi nilon Heroine nên đã gói lại và cất vào túi áo khoác chống nắng bên trái rồi đi đến ngõ Hoàng Quý để giao ma túy cho Phong, khi đi đến khu vực trước cửa nhà số 14/27 Hoàng Quý thì bị lực lượng Công an kiểm tra bắt giữ.

Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Lê Chân đã tiến hành đưa P đi xác định căn nhà của T; kết quả là P xác định được nhà của T tại địa chỉ 22/414 Tô Hiệu, phường Hồ Nam, quận Lê Chân, Hải Phòng. Tiến hành cho nhận dạng, P xác nhận chính T là người đã bán ma túy cho P vào sáng ngày 06/9/2022.

Khám xét khẩn cấp nơi ở của T tại nhà số 22/414 Tô Hiệu, phường Hồ Nam, quận Lê Chân, Hải Phòng và khám xét khẩn cấp nơi ở của P tại nhà số 07/36/82 K2, phường V, quận L, Hải Phòng không thu giữ được đồ vật tài liệu gì liên quan đến ma túy.

Tại cơ quan điều tra, Bùi Ngọc T khai nhận: T biết P vì P là con của bà Phạm Kim V, bà V là người làm thuê ở quán ăn của T. Vào sáng ngày 06/9/2022, T đi chợ đến khoảng 10 giờ mới về đến nhà, T không bán ma túy cho P và chưa bán ma túy cho ai bao giờ. T có sử dụng số điện thoại có ba số cuối là 296, nhưng đã bị mất điện thoại từ ngày 06/9/2022.

Kết quả thu giữ điện tín đối với số điện thoại 0395324959 chủ thuê bao là Bùi Thị H, sinh năm 1991, trú tại: Số 271/11C, KP2 T, B , Đồng Nai; xác minh tại địa phương không tìm thấy người có tên như trên. Kết quả thu giữ điện tín đối với số 0931511296, chủ thuê bao là Nguyễn Thị H, sinh năm 1987, trú tại: Xã D, huyện K, Hải Phòng nhưng chị H khai không sử dụng số điện thoại này.

Đối với việc P khai, trước ngày bị bắt khoảng 01 tháng P đã mua của T 1.000.000đồng Heroine để sử dụng và mua 200.000đồng Heroine của một người không quen biết ở khu vực đường tàu Trần Nguyên H về bán lại cho Ph để hưởng lợi. Ngoài lời khai của P, không có tài liệu nào khác chứng minh nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Lê Chân tiếp tục xác minh làm rõ xử lý sau.

Đối với Bùi Ngọc T, quá trình điều tra đến nay ngoài lời khai của P thì chưa có tài liệu, chứng cứ nào khác xác định T bán ma túy cho P vào ngày 06/9/2022 nên chưa có căn cứ xử lý.

Đối với chiếc xe máy biển kiểm soát 16L7-1897 thu giữ của P, qua xác minh chủ sở hữu là chị Nguyễn Thị Kim L, trú tại: Số 5/33 Nguyễn Hữu T, quận N Q, Hải Phòng, chị L khai đã bán xe cho một người không quen biết được khoảng 02 năm; còn P khai mua xe của một người không quen biết được khoảng 02 năm nhưng đã bị mất giấy đăng ký xe. Do chưa xác minh được chủ sở hữu chiếc xe trên nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Lê Chân tiếp tục xác minh làm rõ xử lý sau.

Tại Cáo trạng số 69/CT-VKSLC ngày 17 tháng 04 năm 2023, Viện kiểm sát nhân dân quận Lê Chân đã truy tố bị cáo Vũ Hồng P về tội Mua bán trái phép chất ma túy theo điểm i khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự.

Tại Phiên tòa bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung vụ án đã nêu trên.

Đại diện Viện Kiểm sát giữ quyền công tố tại Phiên tòa giữ nguyên quyết định như đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

Căn cứ: Điểm i khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Vũ Hồng P mức án từ 07 năm 06 tháng đến 08 năm 06 tháng tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy.

Do bị cáo không nghề nghiệp, không thu nhập ổn định và không có tài sản riêng nên không đề nghị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự;

Tịch thu tiêu hủy lượng ma túy còn lại sau giám định cùng vỏ bao gói;

Tịch thu nộp vào Ngân sách Nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia đã thu giữ của bị cáo;

Trả lại bị cáo số tiền 550.000đồng nhưng tiếp tục tạm giữ để đảm bảo thi hành án.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại Phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

- Về tố tụng:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Lê Chân, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân quận Lê Chân, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại Phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.

- Về tội danh:

Lời khai nhận tội của bị cáo tại Phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, nội dung bản cáo trạng, báo cáo bắt giữ, vật chứng thu giữ cùng các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, thể hiện: Vào khoảng 09 giờ 25 phút ngày 06/09/2022, tại khu vực trước cửa nhà số 14/27 H, phường H, quận L, thành phố Hải Phòng, bị cáo Vũ Hồng P đã thực hiện hành vi bán trái phép 6,64gam (sáu phẩy sáu tư gam) Heroine cho người khác để kiếm lời, khi đang trên đường đi đến điểm hẹn giao ma túy cho người mua thì bị bắt giữ. Do vậy, Hội đồng xét xử đủ cơ sở kết luận bị cáo Vũ Hồng P phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy theo quy định tại Điều 251 Bộ luật Hình sự.

- Về tình tiết định khung:

Bị cáo Vũ Hồng P mua bán trái phép 6,64gam Heroine nên lần phạm tội này bị cáo phải chịu tình tiết định khung là “Heroine có khối lượng từ 05 gam đến dưới 30 gam” quy định tại điểm i khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chế độ quản lý độc quyền của Nhà nước về chất ma túy, gây tác hại xấu đến sức khỏe con người và là nguyên nhân làm phát sinh nhiều loại tệ nạn xã hội khác. Heroine là chất ma tuý nằm trong danh mục quản lý của Nhà nước, cấm cất giữ, lưu hành dưới mọi hình thức; nhưng để có tiền ăn tiêu, bị cáo đã bất chấp pháp luật, cố ý cất giữ để bán lại cho người khác kiếm lời. Về nhân thân bị cáo có 01 tiền án, tuy đã được xóa án tích nhưng qua đó cũng cho thấy ý thức chấp hành pháp luật của bị cáo là kém, bị cáo không lấy đó làm bài học để cải tạo rèn luyện bản thân mà lại tiếp tục phạm tội. Vì vậy, cần phải có hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội và đặc điểm nhân thân của bị cáo.

- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự:

Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Tại cơ quan điều tra cũng như tại Phiên toà bị cáo đã khai báo thành khẩn hành vi phạm tội của mình nên cần căn cứ vào điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo là phù hợp.

Về hình phạt áp dụng đối với bị cáo: Căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, vai trò và đặc điểm nhân thân của bị cáo như đã phân tích ở trên, Hội đồng xét xử thấy cần có hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo, xử phạt bị cáo hình phạt tù trên mức khởi điểm của khung hình phạt quy định tại điểm i khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại Phiên tòa mới đủ tác dụng cải tạo bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung.

- Về hình phạt bổ sung:

Theo quy định tại khoản 5 Điều 251 Bộ luật Hình sự thì bị cáo có thể bị phạt bổ sung là phạt tiền. Do bị cáo không nghề nghiệp, không thu nhập ổn định, không có tài sản riêng nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

- Về xử lý vật chứng:

Số ma tuý mà cơ quan Công an thu giữ khi bắt giữ bị cáo, sau khi lấy đi giám định lượng còn lại xét là vật thuộc loại Nhà nước cấm tàng trữ, cấm lưu hành nên căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự cần tịch thu tiêu huỷ.

Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia thu giữ của bị cáo, xét là công cụ dùng vào việc phạm tội nên căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự cần tịch thu nộp vào Ngân sách Nhà nước.

Đối với số tiền 550.000đồng thu giữ của bị cáo; quá trình điều tra xác định là tài sản của bị cáo, không liên quan đến việc phạm tội nên căn cứ vào điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự cần trả lại cho bị cáo nhưng tiếp tục tạm giữ để đảm bảo thi hành án.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm i khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Vũ Hồng P 07 (bảy) năm 09 (chín) tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ là ngày 06 tháng 9 năm 2022.

Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự;

Tịch thu tiêu hủy lượng ma túy còn lại sau giám định cùng vỏ bao gói được niêm phong trong phong bì thư số 444MT/PC09;

Tịch thu nộp vào Ngân sách Nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia màu đen có phím bấm, IMEL: 357341080971390 đã thu giữ của bị cáo;

Trả lại cho bị cáo số tiền 550.000đ (năm trăm năm mươi nghìn đồng) nhưng tiếp tục tạm giữ để đảm bảo thi hành án.

(Số tiền này Công an quận Lê Chân đã Ủy nhiệm chi cho Chi cục Thi hành án dân sự quận Lê Chân ngày 19 tháng 04 năm 2023);

(Theo đúng Biên bản giao nhận tài sản, vật chứng ngày 18 tháng 04 năm 2023 giữa Công an quận Lê Chân và Chi cục Thi hành án dân sự quận Lê Chân).

Về án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội;

Buộc bị cáo phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm để nộp vào Ngân sách Nhà nước.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ