- Tranh chấp gì? án hình sự — "Đánh bạc - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Các bị cáo Nguyễn Văn Loan, Hà Ngọc Sơn, Trần Trung Đức, Nguyễn Ngọc Phú, Hà Văn Hợp, Hà Trọng Đại, Hoàng Văn Nghiệp, Nguyễn Văn Duy, Nguyễn Văn Trung phạm tội “Đánh bạc”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH SƠN TỈNH PHÚ THỌ __________________ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 61/2023/HS-ST Ngày 20/9/2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH SƠN, TỈNH PHÚ THỌ
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán chủ tọa phiên tòa:
Bà Đào Thị Anh Nhinh.
Các hội thẩm nhân dân:
Ông Trần Tiến Dũng
Bà Nguyễn Thị Kim Trình
Thư ký phiên tòa: Ông Đinh Ngọc Thủy, Thẩm tra viên - Tòa án nhân dân huyện Thanh Sơn, tỉnh Phú Thọ.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Sơn tham gia phiên tòa: Ông Lương Ngọc Lâm, Kiểm sát viên.
Ngày 20/9/2023 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Thanh Sơn, tỉnh Phú Thọ, Toà án nhân dân huyện Thanh Sơn đưa ra xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 56/2023/HS-ST ngày 28/8/2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 56/2023/QĐXXST-HS ngày 07 tháng 9 năm 2023 đối với các bị cáo:
1. Họ và tên: NGUYỄN NGỌC CH - Giới tính: Nam;Tên gọi khác: Không; Sinh ngày 01 tháng 12 năm 1963 tại: xã Tứ Xã, huyện Lâm Thao; HKTT + Nơi ở hiện nay: Xóm Do Lau, xã Võ Miếu, huyện Thanh Sơn, tỉnh Phú Thọ; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không;Trình độ học vấn: 7/10; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Con ông: Nguyễn Ngọc Văn (Đã chết);Con bà: Dương Thị Tròn (Đã chết);Vợ: Hoàng Thị Thuận, sinh năm 1969; Con: Có 03 con. Lớn nhất sinh năm 1987. Nhỏ nhất sinh năm 1991;
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 01/5/2023 đến ngày 04/5/2023. Hiện bị cáo đang thi hành Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú tại xã Võ Miếu, huyện Thanh Sơn, tỉnh Phú Thọ.
2. Họ và tên: NGUYỄN VĂN L
Giới tính: Nam; Tên gọi khác: Không; Sinh ngày 10 tháng 5 năm 1975 tại: huyện Thanh Sơn, tỉnh Phú Thọ; HKTT + Nơi ở hiện nay: Xóm Do Lau, xã Võ Miếu, huyện Thanh Sơn, tỉnh Phú Thọ; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 8/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Con ông: Nguyễn Đình Thọ (Đã chết); Con bà: Chu Thị Sâm ( Đã chết);Vợ: Đinh Thị Thuận, sinh năm 1983; Con: Có 02 con. Lớn nhất sinh năm 2001. Nhỏ nhất sinh năm 2006;
Tiền án, tiền sự: Không
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 01/5/2023 đến ngày 04/5/2023. Hiện bị cáo đang thi hành Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú tại xã Võ Miếu, huyện Thanh Sơn, tỉnh Phú Thọ.
3. Họ và tên: HÀ NGỌC S
Giới tính: Nam;Tên gọi khác: Không; Sinh ngày 14 tháng 02 năm 1985 tại: huyện Thanh Sơn, tỉnh Phú Thọ; HKTT + Nơi ở hiện nay: Xóm Do Lau, xã Võ Miếu, huyện Thanh Sơn, tỉnh Phú Thọ; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Mường; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 9/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do;Con ông: Hà Minh Bắc, sinh năm: 1961;Con bà: Hà Thị Vui, sinh năm: 1964;Vợ: Nguyễn Thuý An, sinh năm: 1984; Con: Có 03 con. Lớn nhất sinh năm 2012. Nhỏ nhất sinh năm 2019;
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 01/5/2023 đến ngày 04/5/2023. Hiện bị cáo đang thi hành Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú tại xã Võ Miếu, huyện Thanh Sơn, tỉnh Phú Thọ.
4. Họ và tên: TRẦN TRUNG Đ - Giới tính: Nam; Tên gọi khác: Không; Sinh ngày 18 tháng 6 năm 2000 tại: huyện Thanh Sơn, tỉnh Phú Thọ HKTT + Nơi ở hiện nay: Xóm Thanh Hà, xã Võ Miếu, huyện Thanh Sơn, tỉnh Phú Thọ; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 11/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Con ông: Trần Đức Thọ, sinh năm: 1980; Con bà: Dương Hồng Thắm, sinh năm: 1976; Vợ: Nguyễn Thị Mùi, sinh năm: 2003; Con: Có 01 người con sinh năm: 2020; Anh chị em ruột: Gia đình có 02 anh, em, Bị can là con thứ nhất, người em sinh năm: 2002
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 01/5/2023 đến ngày 04/5/2023. Hiện bị cáo đang thi hành Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú tại xã Võ Miếu, huyện Thanh Sơn, tỉnh Phú Thọ.
5. Họ và tên: NGUYỄN NGỌC PH Giới tính: Nam; Tên gọi khác: Không; Sinh ngày 17 tháng 5 năm 1982 tại: huyện Thanh Sơn, tỉnh Phú Thọ; HKTT, Nơi ở hiện tại: Xóm Sang Vường, xã Võ Miếu, huyện Thanh Sơn, tỉnh Phú Thọ; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 8/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Con ông: Nguyễn Ngọc Việt (Đã chết); Con bà: Chử Thị Nhung (Đã chết); Vợ: Hoàng Thị Giang, sinh năm 1983; Con: Có 02 người con, Lớn nhất sinh năm 2009. Nhỏ nhất sinh năm 2016;
Tiền án, tiền sự: Không.
Lịch sử bản thân: 01 tiền sự năm 2009, về hành vi “Đánh bạc” bị Công an huyện Tân Sơn xử phạt vi phạm hành chính. Bị cáo Phú đã chấp hành xong Quyết định xử phạt vị phạm hành chính.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 01/5/2023 đến ngày 04/5/2023. Hiện bị cáo đang thi hành Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú tại xã Võ Miếu, huyện Thanh Sơn, tỉnh Phú Thọ.
6. Họ và tên: HÀ VĂN H - Giới tính: Nam;Tên gọi khác: Không; Sinh ngày 19 tháng 02 năm 1989 tại: huyện Thanh Sơn, tỉnh Phú Thọ; HKTT + Nơi ở hiện nay: Xóm Do Lau, xã Võ Miếu, huyện Thanh Sơn, tỉnh Phú Thọ; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Mường; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 10/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Con ông: Hà Văn Hạnh (Đã chết); Con bà: Hà Thị Tình, sinh năm: 1970; Vợ: Đinh Thị Thắm, sinh năm: 1993; Con: Có 02 người con, Lớn nhất sinh năm 2013. Nhỏ nhất sinh năm 2015.
Tiền án, tiền sự: Không.
Lịch sử bản thân:Năm 2017 bị Công an huyện Tân Sơn xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Đánh bạc”. Bị cáo Hợp đã chấp hành xong Quyết định xử phạt vị phạm hành chính.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 01/5/2023 đến ngày 04/5/2023. Hiện bị cáo đang thi hành Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú tại xã Võ Miếu, huyện Thanh Sơn, tỉnh Phú Thọ.
7. Họ và tên: HÀ TRỌNG Đ - Giới tính: Nam; Tên gọi khác: Không; Sinh ngày 08 tháng 10 năm 1987 tại: huyện Thanh Sơn, tỉnh Phú Thọ; HKTT + Nơi ở hiện nay: Xóm Trại, xã Võ Miếu, huyện Thanh Sơn, tỉnh Phú Thọ; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Mường; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 9/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Con ông: Nguyễn Văn Sỹ, sinh năm 1967;Con bà: Đinh Thị Nga, sinh năm 1968; Vợ: Trần Thị Tuyền, sinh năm 1991
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 01/5/2023 đến ngày 04/5/2023. Hiện bị cáo đang thi hành Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú tại xã Võ Miếu, huyện Thanh Sơn, tỉnh Phú Thọ.
8. Họ và tên: HOÀNG VĂN NGH - Giới tính: Nam; Tên gọi khác: Không; Sinh ngày 07 tháng 02 năm 1989 tại: Thanh Sơn, Phú Thọ; HKTT + Chỗ ở hiện nay: Xóm Sang Vường, xã Võ Miếu, huyện Thanh Sơn, tỉnh Phú Thọ; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 12/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Con ông: Hoàng Thân, sinh năm 1954; Con bà: Bùi Thị Minh, sinh năm 1954; Vợ: Lê Thị Lý, sinh năm 1996; Con: Có 02 người con, Lớn nhất sinh năm 2018. Nhỏ nhất sinh năm 2020.
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 01/5/2023 đến ngày 04/5/2023. Hiện bị cáo đang thi hành Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú tại xã Võ Miếu, huyện Thanh Sơn, tỉnh Phú Thọ.
9. Họ và tên: NGUYỄN VĂN D - Giới tính: Nam; Tên gọi khác: Không; Sinh ngày 26 tháng 7 năm 1994 tại: huyện Tân Sơn, tỉnh Phú Thọ; HKTT + Chỗ ở hiện nay: Xóm Hoàng Văn, xã Văn Luông, huyện Tân Sơn, tỉnh Phú Thọ; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Công giáo; Trình độ học vấn: 9/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Con ông: Nguyễn Văn Hoàn, sinh năm 1971; Con bà: Nguyễn Thị Xuân, sinh năm 1975; Vợ: Hà Phương Thảo, sinh năm 1998; Con: Có 01 con sinh năm 2022.
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 01/5/2023 đến ngày 04/5/2023. Hiện bị cáo đang thi hành Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú tại xã Văn Luông, huyện Tân Sơn, tỉnh Phú Thọ.
10. Họ và tên: NGUYỄN VĂN TR - Giới tính: Nam; Tên gọi khác: Không; Sinh ngày 11 tháng 7 năm 1989 tại: huyện Tân Sơn, tỉnh Phú Thọ; HKTT, Nơi ở hiện tại: Xóm Hoàng Văn, xã Văn Luông, huyện Tân Sơn, tỉnh Phú Thọ; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Công giáo;Trình độ học vấn: 12/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Con ông: Nguyễn Văn Tiên, sinh năm 1966; Con bà: Nguyễn Thị Tuyết, sinh năm 1966; Vợ: Phùng Thị Bích Luyến, sinh năm 1991; Con: Có 02 người con, Lớn nhất sinh năm 2012. Nhỏ nhất sinh năm 2013.
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 01/5/2023 đến ngày 04/5/2023. Hiện bị cáo đang thi hành Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú tại xã Văn Luông, huyện Tân Sơn, tỉnh Phú Thọ.
(Các bị cáo đều có mặt tại phiên tòa)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 14 giờ 00 phút ngày 01/5/2023, Nguyễn Ngọc Chung đang ở nhà thì có Nguyễn Văn Loan, Hà Văn Hợp và Trần Trung Đức đến chơi. Khi đang ngồi uống nước, Loan rủ Hợp, Đức và Chung đánh bạc sát phạt nhau bằng tiền mặt thì mọi người đồng ý. Sau đó Chung, Hợp, Đức và Loan đi vào phòng khách nhà ở của Chung để đánh bạc. Lúc này trong phòng khách có 01 chiếc chiếu nhựa màu xanh trắng để ở góc nhà, Chung lấy chiếu trải ra nền nhà để mọi người ngồi đánh bạc. Sau đó Chung lấy bộ bài tú lơ khơ 52 quân ở tủ ti vi xuống để đánh bạc bằng hình thức chơi “Liêng”, sát phạt nhau bằng tiền mặt. Chung, Hợp, Đức và Loan đánh bạc đến khoảng 15 giờ 00 phút cùng ngày thì có Nguyễn Ngọc Phú, Hà Ngọc Sơn, Hoàng Văn Nghiệp, Hà Trọng Đại, Nguyễn Văn Trung và Nguyễn Văn Duy đến nhà Nguyễn Ngọc Chung. Khi đến thấy mọi người đang đánh bạc, Phú rủ những người còn lại đánh bạc sát phạt nhau bằng tiền mặt thì mọi người đồng ý. Sau đó, Đại lấy 01 chiếu nhựa màu xanh trắng ở trên phản gỗ trong phòng khách nhà Chung trải xuống nền phòng khách cho Duy, Trung, Nghiệp, Đại, Phú và Sơn đánh bạc. Lúc này, Duy đến tủ ti vi kê trong phòng khách nhà Chung lấy bộ bài tú lơ khơ 52 quân (đã cũ) xuống để mọi người đánh bạc bằng hình thức chơi “Liêng” sát phạt nhau bằng tiền mặt. Đến khoảng 15 giờ 30 phút ngày 01/5/2023, khi các đối tượng đang ngồi đánh bạc trên hai chiếu bạc thì bị Công an huyện Thanh Sơn bắt quả tang. Thu giữ trên chiếu bạc thứ nhất nơi 04 đối tượng là Chung, Đức, Hợp và Loan ngồi đánh bạc số tiền 5.700.000đồng, 52 quân bài tú lơ khơ. Thu giữ trên chiếu bạc thứ hai nơi 06 đối tượng là Nguyễn Văn Duy, Nguyễn Văn Trung, Hoàng Văn Nghiệp, Hà Trọng Đại, Nguyễn Ngọc Phú và Hà Ngọc Sơn ngồi đánh bạc số tiền 6.570.000 đồng 52 quân bài tú lơ khơ. Quá trình đánh bạc Nguyễn Ngọc Chung thu của mỗi người chơi 10.000 đồng để sau đó Chung sử dụng số tiền này vào mục đích đánh bạc. Chung đã thu được số tiền 30.000 đồng của Đức, Hợp và Loan, những người chơi còn lại Chung chưa kịp thu tiền thì bị Công an huyện Thanh Sơn bắt quả tang.
Về hình thức đánh bạc là chơi “Liêng” sát phạt nhau bằng tiền: Người chơi sử dụng bộ bài tú lơ khơ 52 quân bài, gồm có 4 bộ chất Rô, Cơ, Tép, Bích. Chất rô là mạnh nhất rồi giảm dần về chất Cơ, Tép, cuối cùng là chất Bích. Mỗi bộ có 13 quân bài là A, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 9, 10, J, Q, K. Độ mạnh quân bài giảm dần từ A, K, Q, J, 10, 9, 8, 7, 6, 5, 4, 3, 2. Người cầm cái chia cho mỗi người chơi 03 quân bài từ bộ bài 52 quân. Mỗi người chơi bỏ ra giữa chiếu bạc 10.000 đồng để đánh bạc gọi là tiền Gà”. Sau đó, người chơi cầm bài lên và xem bài của mình. Các kiểu bài đánh liêng gồm có: “Sáp” là khi ba quân bài có cùng giá trị ví dụ AAA, 222, KKK….; “Liêng” là ba quân bài có giá trị liên tiếp nhau không cần cùng chất ví dụ 123, 10JQ, QKA…. “Ảnh” là khi trong ba quân bài là quân J, Q, K nhưng chỉ có hai quân bài cùng giá trị ví dụ JJK, QQK, KKJ... Điểm được tính theo điểm cộng tổng giá trị các quân bài, quân A có giá trị điểm bằng 1, quân 10 có giá trị điểm bằng 0. Khi trong ba quân bài có một quân 10 và hai quân bài còn lại là quân J, Q, K thì bài đó tính bằng 0 điểm. Người cầm cái đánh trước tiên và các người chơi khác đánh theo thứ tự chiều kim đồng hồ. Nếu người chơi thấy bài của mình yếu thì có thể “Bỏ” úp bài xuống. Còn nếu bài của mình mạnh thì có thể cho thêm tiền vào “Gà” (Gọi là Tố) để cá cược với những người chơi khác. Người chơi đánh sau muốn “Theo” người chơi trước thì phải bỏ vào “Gà” số tiền đúng bằng số tiền người chơi trước đó đã “Tố”. Khi không người chơi nào “Tố” nữa thì những người chơi mở bài ra để xác định thắng thua. Bài mạnh nhất là bài “Sáp”, tiếp đến là “Liêng”, “Ảnh” và cuối cùng là so sánh điểm. Người thắng sẽ được lấy về toàn bộ số tiền “Gà” và sẽ đánh đầu tiên ở ván bài tiếp theo.
Tại cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện Thanh Sơn, các bị cáo Chung, Loan, Sơn, Đức, Phú Hợp, Đại, Nghiệp, Duy, Trung đã khai nhận hành vi đánh bạc được thua bằng tiền như đã nêu trên. Khi tham gia đánh bạc Nguyễn Ngọc Chung sử dụng số tiền 1.830.000 đồng; Nguyễn Văn Loan sử dụng số tiền 370.000 đồng; Hà Văn Hợp sử dụng số 1.800.000 đồng; Trần Trung Đức sử dụng số tiền 1.700.000 đồng; Nguyễn Ngọc Phú sử dụng số tiền 760.000 đồng; Nguyễn Văn Duy sử dụng số tiền 850.000 đồng; Nguyễn Văn Trung sử dụng số tiền 1.500.000 đồng; Hoàng Văn Nghiệp sử dụng số 830.000 đồng; Hà Ngọc Sơn sử dụng số 1.400.000 đồng; Hà Trọng Đại sử dụng số 1.230.000 đồng. Quá trình đánh bạc các đối tượng chưa kiểm đếm nên không biết thắng thua ra sao. Tổng số tiền các đối tượng khai nhận sử dụng để đánh bạc phù hợp với số tiền mà Cơ quan CSĐT Công an huyện Thanh Sơn đã chứng minh và thu giữ được trên chiếu bạc thứ nhất nơi Chung, Đức, Hợp và Loan ngồi đánh bạc số tiền là 5.700.000 đồng và trên chiếu bạc thứ hai nơi Nguyễn Văn Duy, Nguyễn Văn Trung, Hoàng Văn Nghiệp, Hà Trọng Đại, Nguyễn Ngọc Phú và Hà Ngọc Sơn ngồi đánh bạc số tiền là 6.570.000 đồng.
Tại phiên tòa các bị cáo đều khai nhận trên chiếu bạc thứ nhất nơi Chung, Đức, Hợp và Loan ngồi đánh bạc số tiền là 5.700.000 đồng và trên chiếu bạc thứ hai nơi Nguyễn Văn Duy, Nguyễn Văn Trung, Hoàng Văn Nghiệp, Hà Trọng Đại, Nguyễn Ngọc Phú và Hà Ngọc Sơn ngồi đánh bạc số tiền là 6.570.000 đồng. Tổng số tiền các bị cáo sử dụng đánh bạc là 12.270.000đ (Mười hai triệu hai trăm bảy mươi nghìn đồng) phù hợp với số tiền mà Cơ quan CSĐT Công an huyện Thanh Sơn đã chứng minh.
Tại bản Cáo trạng số: 51/CT-VKS- ThS ngày 25/8/2023, Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Sơn truy tố bị cáo Nguyễn Ngọc Chung về tội “ Đánh bạc” quy định tại khoản 1 Điều 321 và tội “Gá bạc” quy định tại khoản 1 Điều 322 Bộ luật hình sự; Truy tố các bị cáo Nguyễn Văn Loan, Hà Ngọc Sơn, Trần Trung Đức, Nguyễn Ngọc Phú, Hà Văn Hợp, Hà Trọng Đại, Hoàng Văn Nghiệp, Nguyễn Văn Duy, Nguyễn Văn Trung về tội “Đánh bạc” quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố đối với các bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử:
Áp dụng khoản 1 Điều 321; Điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54, Điều 58, Điều 35 - BLHS đối với bị cáo Nguyễn Ngọc Chung về tội “Đánh bạc”; Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 322; Điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 55, Điều 35 - BLHS về tội “Gá Bạc”, phạt bị cáo Chung từ 15.000.000đ đến 25.000.000đ về tội “Đánh bạc” và từ 50.000.000đ đến 60.000.000đ về tội “Gá bạc”.
Tổng hợp hình phạt buộc bị cáo Nguyễn Ngọc Chung phải chấp hành chung cho cả 02 (Hai) tội từ 65.000.000đ đến 85.000.000đ.
Áp dụng khoản 1 Điều 321; Điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 54, Điều 58, Điều 35-BLHS, đối với các bị cáo Nguyễn Ngọc Phú, Hà Trọng Đại, Hoàng Văn Nghiệp. Phạt các bị cáo Nguyễn Ngọc Phú từ 15.000.000đ đến 25.000.000đ, Hà Trọng Đại từ 15.000.000đ đến 25.000.000đ, Hoàng Văn Nghiệp từ 15.000.000đ đến 25.000.000đ.
Áp dụng khoản 1 Điều 321; Điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 54, Điều 58, Điều 35 - BLHS đối với các bị cáo: Nguyễn Văn Loan, Hà Ngọc Sơn, Trần Trung Đức, Hà Văn Hợp, Nguyễn Văn Duy, Nguyễn Văn Trung. Phạt các bị cáo Nguyễn Văn Loan, từ 15.000.000đ đến 25.000.000đ, Hà Ngọc Sơn từ 15.000.000đ đến 25.000.000đ, Trần Trung Đức từ 15.000.000đ đến 25.000.000đ, Hà Văn Hợp từ 15.000.000đ đến 25.000.000đ, Nguyễn Văn Duy từ 15.000.000đ đến 25.000.000đ, Nguyễn Văn Trung từ 15.000.000đ đến 25.000.000đ.
Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo Nguyễn Ngọc Chung, Nguyễn Văn Loan, Hà Ngọc Sơn, Trần Trung Đức, Nguyễn Ngọc Phú, Hà Văn Hợp, Hà Trọng Đại, Hoàng Văn Nghiệp, Nguyễn Văn Duy, Nguyễn Văn Trung.
Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 1, Điều 47 Bộ luật hình sự; Điểm a, b, c khoản 2, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự .
Tịch thu sung nộp ngân sách Nhà nước số tiền 12.270.000đ (Mười hai triệu hai trăm bảy mươi nghìn đồng) thu trên 02 (Hai) chiếu bạc các bị cáo sử dụng đánh bạc tại nhà Nguyễn Ngọc Chung vào ngày 01/5/2023.
Tịch thu tiêu hủy:
- 02 (Hai) bộ bài tu lơ khơ 52 quân bài từ A đến K;
- 02 (Hai) chiếc chiếu nhựa màu xanh trắng, chiếu đã qua sử dụng, bị rách;
Các bị cáo không tham gia tranh luận với bản luận tội của Kiểm Sát viên.
Tại lời nói sau cùng, các bị cáo đều xin được giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
. Về hành vi, Quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an huyện Thanh Sơn, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Sơn, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền về trình tự, thủ tục của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo, đều không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, Quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do vậy các quyết định tố tụng và hành vi tố tụng của cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng là hợp pháp.
. Căn cứ vào các tài liệu có tại hồ sơ vụ án, lời khai các bị cáo tại cơ quan Điều tra và tại phiên tòa, đủ cơ sở Hội đồng xét xử kết luận: Từ khoảng 14 giờ 00 phút đến 15 giờ 30 phút ngày 01/5/2023, tại nhà ở của Nguyễn Ngọc Chung, Chung đã cho các đối tượng đánh bạc sát phạt nhau bằng tiền mặt trên hai chiếu bạc với tổng số tiền trên 02 (hai) chiếu bạc là 12.270.000 đồng (chiếu bạc thứ nhất là 5.700.000 đồng, chiếu bạc thứ hai là 6.570.000 đồng), đã bị Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện Thanh Sơn phát hiện bắt quả tang, cụ thể:
- Chiếu bạc thứ nhất, có 04 bị cáo chơi bạc gồm: Nguyễn Ngọc Chung, Nguyễn Văn Loan, Hà Văn Hợp và Trần Trung Đức, thực hiện hành vi đánh bạc từ khoảng 14 giờ, 00 đến 15 giờ 30 phút thì bị bắt quả tang; hình thức chơi bạc là đánh “Liêng” được thua bằng tiền, với tổng số tiền các bị cáo sử dụng vào việc đánh bạc là 5.570.000 đồng (Năm triệu, năm trăm bảy mươi nghìn đồng chẵn).
- Chiếu bạc thứ hai, có 06 bị cáo chơi bạc gồm: Nguyễn Ngọc Phú, Hà Ngọc Sơn, Hoàng Văn Nghiệp, Hà Trọng Đại, Nguyễn Văn Duy và Nguyễn Văn Trung đã thực hiện hành vi đánh bạc từ khoảng 15 giờ 00 phút ngày 01/5/2023, dưới hình thức chơi “Liêng” được thua bằng tiền với tổng số tiền sử dụng vào việc đánh bạc là 6.570.000 đồng (Sáu triệu, năm trăm bảy mươi ngàn đồng chẵn), đến 15 giờ 30 phút cùng ngày (01/5/2023) thì bị Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện Thanh Sơn phát hiện, bắt quả tang. Các bị cáo là người đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ hành vi gá bạc và đánh bạc nhằm tạo ra thu nhập bất chính, bị pháp luật nghiêm cấm nhưng các bị cáo vẫn cố ý thực hiện hành vi, vi phạm pháp luật. Do đó hành vi trái pháp luật của các bị cáo cần xử lý nghiêm, tương xứng với hành vi phạm tội mà các bị cáo gây ra.
Như vậy, Cáo trạng số 51/CT-VKS-Ths, ngày 25/8/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Sơn truy tố các bị cáo Nguyễn Văn Loan, Hà Ngọc Sơn, Trần Trung Đức, Nguyễn Ngọc Phú, Hà Văn Hợp, Hà Trọng Đại, Hoàng Văn Nghiệp, Nguyễn Văn Duy, Nguyễn Văn Trung về tội “ Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321- BLHS; Truy tố bị cáo Nguyễn Ngọc Chung về tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 và tội “Gá bạc” theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 322 - Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội đúng pháp luật.
. Xét tính chất vụ án là ít nghiêm trọng nhưng hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm trật tự công cộng, gây mất trật tự trị an xã hội và ảnh hưởng xấu đến khu dân cư. Động cơ phạm tội của các bị cáo là sát phạt nhau, tư lợi và có mục đích nhằm tước đoạt tiền bạc, tài sản của nhau. Vụ án có đồng phạm nhưng mang tính chất giản đơn bởi lẽ: Khi thực hiện hành vi phạm tội, các bị cáo đều không có sự chuẩn bị, bàn bạc phân công cụ thể trước khi phạm tội, số tiền đánh bạc không lớn, hành vi đánh bạc của các bị cáo đều là tự phát, ham vui.
Đối với hành vi “Gá bạc” và “đánh bạc” của Nguyễn Ngọc Chung. Chung đã sử dụng nhà ở thuộc quyền sở hữu, quản lý của mình để cho các bị cáo đánh bạc, và thu tiền của các đối tượng tham gia đánh bạc, Chung trực tiếp tham gia đánh bạc cùng với các bị cáo đến khi bị cơ quan điều tra bắt quả tang, nên hành vi của Chung cấu thành tội “gá bạc” và tội “đánh bạc”, tội phạm và hình phạt đối với Chung được quy định tại điểm b khoản 1 Điều 322 và khoản 1 Điều 321-Bộ luật hình sự.
. Xét vai trò của các bị cáo: Xem xét lời khai của các bị cáo tại phiên tòa cùng các tài liệu chứng cứ có tại hồ sơ vụ án đã chứng minh:
Đối với bị cáo Nguyễn Ngọc Chung ngày 01/5/2023, đã có hành vi dùng nhà ở của mình cho các đối tượng đánh bạc sát phạt nhau bằng tiền mặt trên hai chiếu bạc mà số tiền trên hai chiếu bạc đều trên 5.000.000 đồng (chiếu bạc thứ nhất là 5.700.000 đồng, chiếu bạc thứ hai là 6.570.000 đồng). Quá trình các đối tượng đánh bạc tại nhà ở của mình, Chung đứng ra thu của mỗi người chơi 10.000đ (Mười nghìn đồng) và đã thu được của 03 đối tượng, được 30.000đ (Ba mươi nghìn đồng). Số còn lại chưa kịp thu thì đã bị phát hiện và bị bắt quả tang, đồng thời Chung trực tiếp tham gia đánh bạc sát phạt bằng tiền mặt dưới hình thức chơi “Liêng” với Nguyễn Văn Loan, Hà Văn Hợp và Trần Trung Đức.
Các bị cáo Nguyễn Ngọc Loan, Hà Ngọc Sơn, Trần Trung Đức, Nguyễn Ngọc Phú, Hà Văn Hợp, Hà Trọng Đại, Hoàng Văn Nghiệp, Nguyễn Văn Duy, Nguyễn Văn Trung cùng tham gia đánh bạc nên có vai trò ngang nhau, các bị cáo phạm tội có tính chất đồng phạm nhưng chỉ là đồng phạm giản đơn, không có sự câu kết chặt chẽ nên khi quyết định hình phạt cần xác định rõ vai trò tính chất, mức độ phạm tội và nhân thân của từng bị cáo để có một mức hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội mà các bị cáo gây ra mới thể hiện được tình nghiêm minh của pháp luật.
. Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Các bị cáo Nguyễn Ngọc Chung, Nguyễn Văn Loan, Hà Ngọc Sơn, Trần Trung Đức, Nguyễn Ngọc Phú, Hà Văn Hợp, Hà Trọng Đại, Hoàng Văn Nghiệp, Nguyễn Văn Duy, Nguyễn Văn Trung không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào quy định tại Điều 52 Bộ luật hình sự năm 2015.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: HĐXX đồng tình với đánh giá của Kiểm Sát Viên tại bản luận tội, các bị cáo Hà Ngọc Sơn, Trần Trung Đức, Nguyễn Văn Loan, Hà Trọng Đại, Hoàng Văn Nghiệp, Nguyễn Văn Duy, Nguyễn Văn Trung đều phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Trước lần phạm tội này các bị cáo đều là công dân tốt, chấp hành đúng chính sách, pháp luật của Nhà nước và qui ước khu dân cư. Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa các bị cáo đã thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải nên các bị cáo đều được hưởng 02 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015. Bị cáo Nghiệp có bố đẻ là Hoàng Thân là bệnh binh hạng 2 mất sức lao động 63% và được chủ tịch nước tặng huân chương chiến sỹ vẻ vang hạng nhì, nên bị cáo được hưởng thêm một tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51- BLHS, bị cáo Đại có ông ngoại là Đinh Công Tham được chủ tịch nước tặng huân chương kháng chiến hạng nhì, Hội đồng chính phủ tặng huy chương kháng chiến hạng nhất và bộ tư lệnh quân khu 2 chứng nhận tham gia dân công hỏa tuyến nên bị cáo Đại được hưởng thêm một tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự tại khoản 2 Điều 51- BLHS.
Đối với bị cáo Nguyễn Ngọc Phú tuy không có tiền án, tiền sự nhưng căn cứ vào trích lục tiền án tiền sự xác định năm 2009, bị công an huyện Tân Sơn xử phạt về hành vi “Đánh bạc” Bị cáo Phú đã chấp hành xong Quyết định xử phạt vi phạm hành chính. Đối với bị cáo Hà Văn Hợp tuy không có tiền án, tiền sự nhưng năm 2017 bị Công an huyện Tân Sơn xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Đánh bạc”. Bị cáo Hợp đã chấp hành xong Quyết định xử phạt vi phạm hành chính. Như vậy tính đến lần phạm tội này bị cáo Phú và bị cáo Hợp đã chấp hành xong các Quyết định xử phạt vi phạm hành chính và được coi là chưa bị xử phạt vi phạm hành chính. Bị cáo Phú và bị cáo Hợp cũng không bị tòa án nào đưa ra xét xử, cho nên lần phạm tội này của các bị cáo được coi như phạm tội lần đầu. Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo Phú và bị cáo Hợp thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải nên bị cáo được hưởng các tình tình giảm nhẹ trách nhiệm hình sự tại điểm i, s khoản 1 Điều 51- BLHS. Bị cáo Phú có ông nội là Nguyễn Ngọc Văn được Chủ tịch nước tặng thưởng Huân chương kháng chiến hạng nhất và Huy chương kháng chiến hạng nhì nên bị cáo Phú được hưởng thêm 01 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự tại khoản 2 Điều 51- BLHS.
Đối với bị cáo Nguyễn Ngọc Chung tuy không có tiền án, tiền sự nhưng bị cáo Chung dùng nhà ở của mình để cho các đối tượng đánh bạc, thu của mỗi người tham gia đánh bạc 10.000đ (Mười nghìn đồng) đã thu được của 03 đối tượng, được 30.000đ (Ba mươi nghìn đồng). Số còn lại chưa kịp thu thì đã bị phát hiện và bị bắt quả tang, đồng thời Chung còn trực tiếp tham gia đánh bạc cùng với các bị cáo khác đến khi bị bắt qủa tang. Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo tỏ ra ăn năn hối cải, bị cáo có thời gian tham gia bộ đội tại chiến trường biên giới phía bắc từ năm 1993 đến năm 1996, sau khi xuất ngũ trở về địa phương bị cáo tham gia phục vụ tại địa phương, làm công an viên tại xã Võ Miếu, bị cáo có bố đẻ là Nguyễn Ngọc Văn được Chủ tịch nước tặng thưởng Huân chương kháng chiến hạng nhất và Huy chương kháng chiến hạng nhì. Tại phiên tòa bị cáo nộp cho HĐXX 01 giấy xác nhận của UBND xã Võ Miếu, xác nhận năm 2020 bị cáo Chung đã ủng hộ quỹ khuyến học của xã Võ Miếu số tiền 4.000.000đ (Bốn triệu đồng) nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ TNHS quy định tại điểm s, khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS.
[ 6]. Về hình phạt: Xét thấy tính chất vụ án là ít nghiêm trọng, các bị cáo đều có nơi cư trú rõ ràng, được hưởng nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nên không cần cách ly các bị cáo khỏi cộng đồng xã hội mà cho các bị cáo cải tạo tại địa phương và áp dụng hình phạt tiền cũng đủ để cải tạo, giáo dục các bị cáo trở thành người công dân tốt, sống có ích cho gia đình và xã hội đồng thời thể hiện tính khoan hồng của pháp luật.
Từ những phân tích trên, HĐXX phạt các bị Nguyễn Văn Loan, Hà Ngọc Sơn, Trần Trung Đức, Nguyễn Ngọc Phú, Hà Văn Hợp, Hà Trọng Đại, Hoàng Văn Nghiệp, Nguyễn Văn Duy, Nguyễn Văn Trung dưới mức của khung hình phạt cũng đủ răn đe giáo dục các bị cáo.
Đối với bị cáo Nguyễn Ngọc Chung có nơi cư trú rõ ràng, có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, trước lần phạm tội này đều chấp hành tốt chính sách pháp luật của nhà nước và quy định của khu dân cư. Vì vậy chỉ cần xử phạt bị cáo cải tạo tại địa phương và áp dụng hình phạt tiền dưới mức của khung hình phạt đối với tội đánh bạc và mức khởi điểm của khung hình phạt đối với tội gá bạc cũng đủ để răn đe, giáo dục bị cáo thành người công dân tốt, sống có ích cho gia đình và xã hội, thể hiện chính sách khoan hồng của pháp luật.
. Về hình phạt bổ sung: Đối với các bị cáo Nguyễn Ngọc Chung, Nguyễn Văn Loan, Hà Ngọc Sơn, Trần Trung Đức, Nguyễn Ngọc Phú, Hà Văn Hợp, Hà Trọng Đại, Hoàng Văn Nghiệp, Nguyễn Văn Duy, Nguyễn Văn Trung bị áp dụng hình phạt chính là phạt tiền nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo là phù hợp.
. Về xử lý vật chứng: Số tiền 12.270.000đ (Mười hai triệu, hai trăm, bảy mươi nghìn đồng) thu trên 02 chiếu bạc các bị cáo sử dụng vào việc đánh bạc nên cần tịch thu nộp ngân sách Nhà nước.
Đối với 02 (Hai) bộ bài tú lơ khơ 52 quân bài từ A đến K; 02 (Hai) chiếc chiếu nhựa màu xanh trắng, chiếu đã qua sử dụng, bị rách thu tại nhà của Nguyễn Ngọc Chung là vật chứng vụ án, không còn giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.
Các nội dung khác:
Các Lệnh cấm khỏi nơi cư trú số 96,97,98,99,100,101,102,103,104,105 ngày 05/9/2023 của Toàn án nhân dân huyện Thanh Sơn áp dụng đối với các bị cáo Chung, Loan, Sơn, Đức, Phú, Hợp, Đại, Nghiệp, Duy, Trung được hủy bỏ, do thấy không cần thiết phải áp dụng đối với các bị cáo.
Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ: Khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự năm 2015.
1. Tuyên bố: Các bị cáo Nguyễn Văn Loan, Hà Ngọc Sơn, Trần Trung Đức, Nguyễn Ngọc Phú, Hà Văn Hợp, Hà Trọng Đại, Hoàng Văn Nghiệp, Nguyễn Văn Duy, Nguyễn Văn Trung phạm tội “Đánh bạc”.
Căn cứ khoản 1 Điều 321, điểm b khoản 1 Điều 322 Bộ luật hình sự 2015.
2. Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Ngọc Chung phạm tội “Đánh bạc” và tội “ Gá bạc”
Căn cứ: Khoản 1 Điều 321, Điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 54, Điều 58, Điều 35; Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 322; Điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 55, Điều 35 - BLHS đối với bị cáo Nguyễn Ngọc Chung, xử phạt bị cáo Nguyễn Ngọc Chung 15.000.000đ (Mười lăm triệu đồng) về tội “Đánh bạc” và 50.000.000đ (Năm mươi triệu đồng) về tội “Gá bạc”.
Tổng hợp hình phạt buộc bị cáo Nguyễn Ngọc Chung phải chấp hành hình phạt chung cho cả 02 (Hai) tội là 65.000.000đ (Sáu mươi lăm triệu đồng) nộp ngân sách nhà nước.
Căn cứ: Khoản 1 Điều 321, điểm i, s khoản 1, khoản 2, Điều 51; Điều 54, Điều 58, Điều 35 Bộ luật hình sự năm 2015 đối với các bị cáo Nguyễn Ngọc Phú, Hà Trọng Đại, Hoàng Văn Nghiệp
Căn cứ: Khoản 1 Điều 321, điểm i, s khoản 1, Điều 51; Điều 54, Điều 58, Điều 35 Bộ luật hình sự năm 2015 đối với các bị cáo Nguyễn Văn Loan, Hà Ngọc Sơn, Trần Trung Đức, Hà Văn Hợp, Nguyễn Văn Duy, Nguyễn Văn Trung.
Xử phạt các bị cáo:
Nguyễn Văn Loan: 15.000.000đ (Mười lăm triệu đồng);
Hà Ngọc Sơn:
15.000.000đ (Mười lăm triệu đồng);
Trần Trung Đức: 15.000.000đ (Mười lăm triệu đồng);
Nguyễn Ngọc Phú: 15.000.000đ (Mười lăm triệu đồng);
Hà Văn Hợp:
15.000.000đ (Mười lăm triệu đồng);
Hà Trọng Đại:
15.000.000đ (Mười triệu đồng);
Hoàng Văn Nghiệp: 15.000.000đ (Mười lăm triệu đồng);
Nguyễn Văn Duy: 15.000.000đ (Mười lăm triệu đồng);
Nguyễn Văn Trung: 15.000.000đ (Mười lăm triệu đồng).
Nộp ngân sách Nhà nước.
Về hình phạt bổ sung: Miễn áp dụng phạt bổ sung đối với các bị cáo Nguyễn Ngọc Chung, Nguyễn Văn Loan, Hà Ngọc Sơn, Trần Trung Đức, Nguyễn Ngọc Phú, Hà Văn Hợp, Hà Trọng Đại, Hoàng Văn Nghiệp, Nguyễn Văn Duy, Nguyễn Văn Trung.
3. Vật chứng:
Căn cứ: khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015; Điểm a, b, c khoản 2, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.
Tịch thu sung quỹ Nhà nước số tiền: 12.270.000VNĐ (Mười hai triệu, hai trăm bảy mươi nghìn đồng).
Tịch thu tiêu hủy các vật chứng gồm:
- 52 quân bài tú lơ khơ từ A đến K;
- 01 Chiếc chiếu nhựa màu xanh trắng, chiếu đã qua sử dụng, bị rách;
- 52 quân bài tú lơ khơ từ A đến K;
- 01 Chiếc chiếu nhựa màu xanh trắng, chiếu đã qua sử dụng, bị rách.
Vật chứng là đồ vật hiện đang lưu giữ tại kho vật chứng của Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Thanh Sơn tại biên bản giao nhận vật chứng ngày 15/9/2023. Vật chứng là tiền đang được tạm giữ trong tài khoản của Chi cục thi hành án Dân sự huyện Thanh Sơn số 3949.0.1054594.00000 tại kho bạc nhà nước huyện Thanh Sơn ngày 15/9/2023.
4. Án phí:
Áp dụng: Khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015; Điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
Buộc các bị cáo Nguyễn Ngọc Chung, Nguyễn Văn Loan, Hà Ngọc Sơn, Trần Trung Đức, Nguyễn Ngọc Phú, Hà Văn Hợp, Hà Trọng Đại, Hoàng Văn Nghiệp, Nguyễn Văn Duy, Nguyễn Văn Trung mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.
5. Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự.
Các bị cáo được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ xét xử phúc thẩm.
Trường hợp bản án được thi hành theo qui định tại Điều 2- Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6,7,7ª, 7b và Điều 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 - Luật thi hành án dân sự./.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - VKSND huyện và VKS tỉnh; - Công an huyện; - Chi cục THADS huyện; - Hồ sơ công tác THAHS; - UBND xã Võ Miếu; - UBND xã Văn Luông-Tân sơn; - Những người tham gia tố tụng; - Lưu hồ sơ. | Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Đã ký Đào Thị Anh Nhinh |