vanban.org

Bản án 61/2023/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Tam Bình, tỉnh Vĩnh Long Tuyên án 30/08/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

1 Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị Cẩm T phạm tội “Đánh bạc”.

2 Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Cẩm T số tiền 20.000.000 đồng (Hai mươi triệu đồng). Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; khoản 2, khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bị cáo Nguyễn Thị Cẩm T phạm tội “Đánh bạc”. - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? 1 Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị Cẩm T phạm tội “Đánh bạc”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TAM BÌNH
TỈNH VĨNH LONG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 61/2023/HS-ST
Ngày 30 – 8 – 2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TAM BÌNH, TỈNH VĨNH LONG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Thanh Thảo

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Trần Văn Bé Hai

2. Bà Nguyễn Thị Sương

- Thư ký phiên tòa: Bà Dương Kim Huyền – Thư ký Tòa án của Tòa án nhân dân huyện Tam Bình, tỉnh Vĩnh Long.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tam Bình, tỉnh Vĩnh Long tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Anh Định – Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 8 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tam Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 58/2023/TLST-HS ngày 13 tháng 7 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 60/2023/QĐXXST-HS ngày 11 tháng 8 năm 2023 đối với bị cáo:

Nguyễn Thị Cẩm T, sinh năm 1980 tại tỉnh Vĩnh Long; nơi cư trú: Tổ E, khóm T, thị trấn T, huyện B, tỉnh Vĩnh Long; nghề nghiệp: Nội trợ; trình độ học vấn: 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn N và bà Huỳnh Thanh V; chồng Trương Minh K và 03 người con (lớn sinh năm 1998, nhỏ sinh năm 2007).

Tiền sự: 01 lần. Ngày 16/6/2022, bị cáo bị Công an xã N xử phạt vi phạm hành chính số tiền 1.500.000 đồng về hành vi đánh bạc trái phép, đã nộp phạt xong.

Tiền án: Không.

Bị cáo tại ngoại và có mặt tại phiên tòa.

- Người làm chứng:

1/ Ông Trần Hoàng N1, sinh năm 1976; nơi cư trú: Số A đường C, phường H, quận N, thành phố Cần Thơ (vắng mặt).

2/ Bà Nguyễn Thị Hồng G, sinh năm 1980; nơi cư trú: ấp Đ, xã Đ, thị xã B, tỉnh Vĩnh Long (vắng mặt).

3/ Bà Hồ Thị N2, sinh năm 1980; nơi cư trú: ấp L, xã G, huyện M, tỉnh Sóc Trăng (vắng mặt).

4/ Bà Bùi Kim H, sinh năm 1982; nơi cư trú: ấp T, xã T, thị xã B, tỉnh Vĩnh Long (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 15 giờ 40 phút ngày 31/3/2023, tại khu đất trống thuộc ấp P, xã T, huyện T, tỉnh Vĩnh Long Công an xã T phối hợp với Đội 3 - Phòng cảnh sát hình sự Công an tỉnh V tiến hành kiểm tra, bắt quả tang các đối tượng: Nguyễn Thị Hồng G, Hồ Thị N2, Bùi Kim H, Trần Hoàng N1 và Nguyễn Thị Cấm T1 có hành vi đánh bài binh 6 lá ăn thua bằng tiền.

Tang vật thu giữ tại hiện trường gồm: 01 bộ bài tây 52 lá đã qua sử dụng.

- Số tiền thu giữ trên người các đối tượng:

+ Nguyễn Thị Cẩm T số tiền 1.650.000 đồng và 01 điện thoại di động hiệu Iphone màu trắng đã qua sử dụng;

+ Trần Hoàng N1 số tiền 2.090.000 đồng và 01 điện thoại di động hiệu Nokia màu đen đã qua sử dụng;

+ Nguyễn Thị Hồng G số tiền 4.600.000 đồng;

+ Hồ Thị N2 mang theo số tiền 1.350.000 đồng và 01 điện thoại di động hiệu Samsung màu xanh đã qua sử dụng;

+ Bùi Kim H số tiền 1.100.000 đồng và 01 điện thoại di động hiệu Masttel màu trắng đã qua sử dụng.

Quá trình làm việc Nguyễn Thị Cẩm T và các đối tượng khai nhận cùng tham gia đánh bạc thắng thua bằng tiền, hình thức chơi bài binh 6 lá, có 05 tụ bài, mỗi người 01 tụ, mỗi người làm cái 6 bàn thì đổi, số tiền đặt cược mỗi tụ từ 20.000 đồng đến 100.000 đồng, chơi được khoảng 40 phút thì bị bắt.

Trước khi tham gia đánh bạc Nguyễn Thị Cẩm T mang theo số tiền 2.000.000 đồng, sử dụng 500.000 đồng dùng để chơi đánh bạc, chơi được 7 bàn, mỗi bàn đặt 50.000 đồng, kết quả thua 350.000 đồng; Trần Hoàng N1 mang theo số tiền 2.190.000 đồng, sử dụng 100.000 đồng dùng để đánh bạc, chơi được 2 bàn, mỗi bàn đặt 50.000 đồng, kết quả thua 100.000 đồng; Nguyễn Thị Hồng G mang theo số tiền 4.400.000 đồng, sử dụng 1.400.000 đồng để chơi đánh bạc, chơi được 12 bàn, mỗi bàn đặt 50.000 đồng, kết quả thắng 200.000 đồng; Hồ Thị N2 mang theo số tiền 1.500.000 đồng, sử dụng 350.000 đồng để chơi đánh bạc, chơi được 3 bàn, mỗi bàn đặt 50.000 đồng, kết quả thua 150.000 đồng; Bùi Kim H mang theo số tiền 900.000 đồng, sử dụng 900.000 đồng để chơi đánh bạc, chơi được 4 bàn, mỗi bàn đặt 50.000 đồng, kết quả thắng 200.000 đồng. Tổng số tiền các đối tượng sử dụng để đánh bạc là: 3.250.000 đồng (Ba triệu hai trăm năm mươi ngàn đồng).

Nguyễn Thị Cẩm T đã có 01 tiền sự về hành vi đánh bạc chưa hết thời hạn được coi là chưa bị xử lý vi phạm hành chính mà lại tiếp tục vi phạm nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T ra quyết định khởi tố vụ án hình sự, khởi tố bị can và ra lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú đối với Nguyễn Thị Cẩm T về tội “Đánh bạc” quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự.

Về thu giữ đồ vật, tài liệu và xử lý vật chứng:

- 01 bộ bài tây 52 lá đã qua sử dụng.

- Nguyễn Thị Cẩm T số tiền 1.650.000 đồng và 01 điện thoại di động hiệu Iphone màu trắng đã qua sử dụng;

- Đối với đồ vật, tài liệu đã thu giữ của các đối tượng Nguyễn Thị Hồng G, Hồ Thị N2, Bùi Kim H và Trần Hoàng N1 đã được xử lý, giải quyết theo quy định của pháp luật.

Tại Cáo trạng số: 60/CT-VKSTB ngày 10/7/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tam Bình đã truy tố bị cáo Nguyễn Thị Cẩm T về tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo Nguyễn Thị Cẩm T thừa nhận cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tam Bình truy tố bị cáo là đúng hành vi, không oan, bị cáo xin được giảm nhẹ hình phạt.

Đối với Nguyễn Thị Hồng G, Hồ Thị N2, Bùi Kim H và Trần Hoàng N1 tham gia đánh bạc với tổng số tiền dùng vào việc đánh bạc không đủ định lượng để xử lý hình sự, đồng thời bản thân các đối tượng này chưa có tiền án, tiền sự nên Công an xã T đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính và xử lý tang vật có liên quan là có cơ sở.

Kiểm sát viên thực hành quyền công tố vẫn giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Nguyễn Thị Cẩm T về tội “Đánh bạc”. Sau khi phân tích nguyên nhân, tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân bị cáo, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự áp dụng cho bị cáo, Kiểm sát viên đề nghị:

Về trách nhiệm hình sự: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị Cẩm T phạm tội “Đánh bạc”.

Áp dụng khoản 1 Điều 321; Điều 35; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Cẩm T số tiền từ 20.000.000 đồng đến 25.000.000 đồng.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; khoản 2, khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự đề nghị: Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước số tiền 150.000 đồng. Trả cho bị cáo T 1.500.000 đồng và 01 điện thoại di động hiệu Iphone màu trắng, đã qua sử dụng; tuy nhiên, tiếp tục tạm giữ để đảm bảo việc thi hành án.

Lời nói sau cùng của bị cáo Nguyễn Thị Cẩm T: Xin giảm nhẹ hình phat và cam kết không tái phạm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về thủ tục tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tam Bình, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về nội dung vụ án:

Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của người làm chứng, biên bản hỏi cung bị can cùng các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra công khai tại phiên tòa thể hiện: Vào khoảng 15 giờ 40 phút ngày 31/3/2023, tại khu đất trống thuộc ấp P, xã T, huyện T, tỉnh Vĩnh Long Công an xã T phối hợp với Đội 3 - Phòng cảnh sát hình sự Công an tỉnh V tiến hành kiểm tra, bắt quả tang các đối tượng: Nguyễn Thị Hồng G, Hồ Thị N2, Bùi Kim H, Trần Hoàng N1 và Nguyễn Thị Cấm T1 (có 01 tiền sự về hành vi đánh bạc) có hành vi đánh bài binh 6 lá ăn thua bằng tiền và thu giữ các tang vật có liên quan. Tổng số tiền các đối tượng sử dụng để đánh bạc là: 3.250.000 đồng (Ba triệu hai trăm năm mươi ngàn đồng) trong đó bị cáo T1 sử dụng số tiền 500.000 đồng (Năm trăm ngàn đồng) để đánh bạc.

Hành vi của bị cáo Nguyễn Thị Cẩm T đã phạm vào tội “Đánh bạc” được quy định tại khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự như truy tố của Viện kiểm sát là đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật và có căn cứ.

Xét tính chất của vụ án là ít nghiêm trọng. Bị cáo nhận thức được hành vi đánh bạc ăn thua bằng tiền là vi phạm pháp luật, sẽ bị pháp luật trừng phạt nhưng vì ham mê cờ bạc bị cáo lao vào con đường phạm pháp, thể hiện ý thức coi thường pháp luật. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội không những xâm phạm đến trật tự công cộng được pháp luật hình sự bảo vệ, mà còn gây mất trật tự trị an tại địa phương. Nhằm đảm bảo tình hình trật tự, an toàn xã hội tại địa phương. Vì vậy, cần xử lý bị cáo một mức án nghiêm khắc tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo gây ra.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; có ông nội Nguyễn Văn T2 được tặng Huy chương kháng chiến hạng Nhì là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; khoản 2, khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

- Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước số tiền 150.000 đồng của bị cáo dùng để đánh bạc.

- Trả lại bị cáo 1.500.000 đồng và 01 điện thoại di động hiệu Iphone màu trắng, đã qua sử dụng nhưng tiếp tục tạm giữ để đảm bảo thi hành án.

Hiện Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tam Bình đang quản lý theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 26/7/2023.

Về án phí hình sự sơ thẩm: Buộc bị cáo T phải nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ vào khoản 1 Điều 321; Điều 35; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

1.1 Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị Cẩm T phạm tội “Đánh bạc”.

1.2 Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Cẩm T số tiền 20.000.000 đồng (Hai mươi triệu đồng).

2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; khoản 2, khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

- Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước số tiền 150.000 đồng (Một trăm năm mươi ngàn đồng) theo Biên lai thu tiền số No 0004630 ngày 26/7/2023 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Tam Bình.

- Trả lại bị cáo T 1.500.000 đồng (Một triệu năm trăm ngàn đồng) theo Biên lai thu tiền số No 0004630 ngày 26/7/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tam Bình và 01 (Một) điện thoại di động hiệu Iphone màu trắng, đã qua sử dụng nhưng tiếp tục tạm giữ để đảm bảo thi hành án.

Hiện Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tam Bình đang quản lý theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 26/7/2023.

3. Về án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ vào Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Nguyễn Thị Cẩm T phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm ngàn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ