- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Ngọc Lân - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? [1] Điều luật áp dụng:
- Căn cứ chính? Điều 251 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 38 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH BA TỈNH PHÚ THỌ ––––––––––––––– | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 61/2023/HS-ST Ngày: 20/12/2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH BA, TỈNH PHÚ THỌ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Hà Thanh Loan
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Kiều Công Ích và bà Vương Thị Thu
- Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Bà Đinh Thị Thu Hậu – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thanh Ba, tỉnh Phú Thọ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Ba, tỉnh Phú Thọ tham gia phiên tòa: Ông Lưu Thanh Liêm - Kiểm sát viên.
Ngày 20 tháng 12 năm 2023, tại Tòa án nhân dân huyện Thanh Ba, tỉnh Phú Thọ xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 52/2023/HS-ST ngày 16/11/2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 53/2023/QĐXXST-HS ngày 06 tháng 12 năm 2023 đối với bị cáo: Nguyễn Ngọc L, sinh ngày 17/10/1961 tại huyện T, tỉnh Phú Thọ. Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở hiện nay: Khu 13, xã Đ, huyện T, tỉnh Phú Thọ. Giới tính: Nam.
Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không;
Trình độ học vấn: 07/10; Nghề nghiệp: Lao động tự do
Bố đẻ: Nguyễn Văn T (đã chết); Mẹ đẻ: Nguyễn Thị B (đã chết),
Vợ: Bùi Thị Thúy H, sinh năm 1961. Bị cáo có 04 con (con lớn nhất sinh năm 1983, con nhỏ nhất sinh năm 1989)
Tiền sự: không
Tiền án: 02 – Bản án số 34/HSST ngày 08/8/2014 của TAND huyện Thanh Ba, tỉnh Phú Thọ xử phạt Nguyễn Ngọc L 24 tháng tù về tội ”đánh bạc”, tổng hợp với bản án số 27/HSST ngày 30/6/2014 của TAND huyện Thanh Ba, tỉnh Phú Thọ xử phạt Nguyễn Ngọc L 07 năm 06 tháng tù về tội ”Mua bán trái phép chất ma túy”; ra trại ngày 15/10/2021; Nhân thân: 03
- Bản án năm 1997 của Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ xử phạt Nguyễn Ngọc L tù có thời hạn 15 tháng về tội ”Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”; Ra trại tháng 8/2005 (đã được xóa án tích).
- Bản án số 38/HSST ngày 31/8/2007 của TAND huyện Thanh Ba, tỉnh Phú Thọ xử phạt Nguyễn Ngọc L 42 tháng tù về tội ”Tàng trữ trái phép chất ma túy”; ra trại ngày 16/11/2009 (đã được xóa án tích).
Bản án số 11/HSST ngày 29/11/2013 của Tòa án quân sự khu vực quân khu 2 xử phạt Nguyễn Ngọc L phạt tiền 14.000.000đ (đã được xóa án tích).
Bị cáo bị bắt tạm giam ngày 23/6/2023; Hiện đang bị tạm giam tại trại tạm giam Công an tỉnh Phú Thọ. Có mặt tại phiên tòa.
* Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
- Anh Quản Văn N, sinh năm 1982
Địa chỉ: Khu 4, xã K, huyện T, tỉnh Phú Thọ (vắng mặt)
- Anh Trần Trung K, sinh năm 1987
Địa chỉ: Khu 3, xã Đ, huyện T, tỉnh Phú Thọ (vắng mặt)
* Người làm chứng: Anh Lê Hồng T, sinh năm 1984
Trú tại: Khu 9, xã N, huyện T, tỉnh Phú Thọ (vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 13 giờ 50 phút ngày 21/6/2023, tại khu 13, xã Đ, huyện T, tỉnh Phú Thọ, Công an huyện Thanh Ba phối hợp với Chính quyền địa phương xã Đ kiểm tra, phát hiện Quản Văn N, sinh năm 1982, trú tại khu 4, xã K, huyện T, tỉnh Phú Thọ có biểu hiện liên quan đến chất ma túy. Tại đây N khai nhận vừa có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy Heroin bằng hình thức tiêm qua mạch máu và tự nhặt ở dưới đất giao nộp cho tổ công tác: 01 (một) chiếc bơm kim tiêm bằng nhựa, màu trắng loại 3ml/cc, đã qua sử dụng, bên trong đầu bơm kim tiêm có chứa dung dịch màu nâu đỏ, ngoài ra không phát hiện và tạm giữ đồ vật, tài liệu gì khác. Tổ công tác đã lập biên bản vi phạm hành chính đối với Quản Văn N, tạm giữ niêm phong tang vật vi phạm để phục phục vụ công tác điều tra, xử lý.
Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra, Quản Văn N khai nhận về nguồn gốc ma túy Heroin sử dụng là mua của Nguyễn Ngọc L, sinh năm 1961, ở tại khu 13, xã Đ, huyện T, tỉnh Phú Thọ.
Cùng ngày 21/06/2023, Công an huyện Thanh Ba đã chuyển hồ sơ vụ vi phạm hành chính đến Cơ quan CSĐT Công an huyện Thanh Ba để truy cứu trách nhiệm hình sự.
Căn cứ lời khai của Quản Văn N, Cơ quan CSĐT tiến hành khám xét khẩn cấp người, chỗ ở, đồ vật, phương tiện tại khu 13, xã Đ, huyện T, tỉnh Phú Thọ đối với Nguyễn Ngọc L, đã phát hiện, tạm giữ của L một số đồ vật, tài sản gồm:
- 12 (mười hai) gói bằng giấy đều có đặc điểm mặt ngoài màu vàng, mặt trọng màu trắng, bên trong cả mười hai gói giấy đều có chứa chất bột, cục màu trắng (Nguyễn Ngọc L khai nhận đó chính là chất ma túy Heroin).
- 01 (một) thẻ CCCD số 025061003061 mang tên Nguyễn Ngọc L do Cục Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội - Bộ Công an cấp ngày 26/5/2022.
Tiền ngân hàng Nhà nước Việt Nam 600.000 đồng (sáu trăm nghìn đồng) gồm 02 (hai) tờ tiền polyme mệnh giá 200.000 đồng và 02 (hai) tờ tiền polyme mệnh giá 100.000 đồng.
- 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A15, vỏ máy màu xanh, số IMEI 1: 860466057702476, số IMEI 2: 860466057702468, bên trong lắp 01 (một) thẻ sim có số seri: 8984048000334139103, đã qua sử dụng.
Ngày 22/6/2023, Cơ quan CSĐT Công an huyện Thanh Ba ra Quyết định số 102/QĐ-CQĐT, trung cầu Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Phú Thọ giám định chất ma túy đối với tang vật vi phạm hành chính tạm giữ của Quản Văn N và vật chúng tạm giữ của Nguyễn Ngọc L. Tại Kết luận giám định số 861/KLGĐ, ngày 27/6/2023 của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Phú Thọ xác định:
- Đối với tang vật tạm giữ của Quản Văn N:
Dung dịch bám dính bên trong xi lanh nhựa gửi đến giám định có tìm thấy chất ma túy, loại Heroine (Heroin).
- Đối với vật chúng tạm giữ của Nguyễn Ngọc L:
Chất bột cục màu trắng chứa bên trong 12 gói giấy gửi đến giám định có khối lượng là 0,497 gam; là ma túy; loại Heroine (Heroin)
Heroine (Heroin) có tên khoa học là: Diacetylmorphine được quy định tại Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017) và Nghị định số 57/2022/NĐ-CP, ngày 25/8/2022 của Chính Phủ, quy định các danh mục chất ma túy và tiền chất
Tại cơ quan điều tra, Nguyễn Ngọc L, Quản Văn N thừa nhận hành vi mua bán trái phép chất ma túy cụ thể như sau:
Do có quen biết từ trước, là bạn bè cùng cảnh nghiện, nên khoảng 13 giờ 00 phút ngày 21/6/2023, N đã một mình đi bộ đến nhà Nguyễn Ngọc L hỏi mua ma túy Heroin để sử dụng. Khi đến nơi L đang nằm ở giường kê ở gian phòng khách, N hỏi “ông có để cho con cái hai, con chơi phát”, đồng thời N đưa cho L số tiền 200.000 đồng gồm 02 (hai) tờ tiền polyme loại mệnh giá 100.000 đồng. L hiểu ý của N muốn mua 01 gói ma tuý Heroin với giá 200.000 đồng nên cầm tiền rồi nói với N “đi xuống bếp”. Sau đó L đi trước, N đi theo sau xuống chờ ở gian bếp, còn L đi sang gian bên cạnh lấy 01 (một) gói ma túy Heroin trị giá khoảng 130.000 đồng có đặc điểm là 01 (một) gói nhỏ bằng giấy mặt ngoài màu vàng, mặt trong màu trắng, bên trong có chứa chất bột, cục màu trắng (chính là ma túy Heroin) đưa bán cho N.
N cầm gói ma túy L đưa rồi rời khỏi nhà L. Sau khi mua được ma túy, N đem về đến khu vực gần nhà văn hoá khu 13, xã Đ thì rẽ vào đường bê tông phía bên tay phải tìm chỗ vắng vẻ và sử dụng bằng hình thức tiêm chích ma tuý qua mạch máu vào cơ thể. Khi N vừa sử dụng xong thì bị Công an huyện Thanh Ba kiểm tra, phát hiện như đã nêu trên.
Ngoài lần bán trái phép chất ma túy cho N, L còn tự khai nhận đã 01 lần bán trái phép chất ma túy cùng một lúc cho Trần Trung K, sinh năm 1987, trú tại khu 3, xã Đ, huyện T, tỉnh Phú Thọ và Lê Hồng T, sinh năm 1984, trú tại khu 9, xã N, huyện T, tỉnh Phú Thọ . Cơ quan điều tra đã tiến hành triệu tập Trần Trung K và Lê Hồng T đến làm việc. Tại cơ quan điều tra cả K, T và L khai nhận cụ thể hành vi mua bán trái phép chất ma túy túy như sau:
Khoảng 15 giờ ngày 21/6/2023, khi L đang ở nhà thì nhận được điện thoại của K, số điện thoại mà L sử dụng là 0354841461, còn số điện thoại của K là 0916648756, qua điện thoại K hỏi “ông có nhà không cháu xuống để cháu tý nhé”. L hiểu ý của K là hỏi mua ma túy Heroin, lúc này L đang chuẩn bị đi chở hàng cho con gái bán ở khu công nghiệp P - thị xã P nên bảo T cứ đi xuống nhà L dần đi. Sau đó, K điều khiển xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA Sirius, màu đỏ đen để đi đến nhà L. Khi đi đến đoạn cây xăng N gần công ty xi măng S, thì gặp Lê Hồng T là bạn cùng cảnh nghiện, tại đây T hỏi K đi đâu, K nói với T đang đi xuống nhà L để mua ma túy sử dụng, T nói với K: “anh có 200.000 đồng cho anh đi cùng với” K đồng ý và trở T cùng xuống nhà L. Đến khoảng 16 giờ 10 phút L về nhà và gặp K, T. Khi vào gian phòng khách nhà L, T hỏi “ông để cho bọn cháu mỗi thằng cái hai trăm”. L hiểu ý của T là muốn L bán cho T và K mỗi người một gói ma túy Heroin giá 200.000 đồng. L dẫn K và T vào gian bếp, L lấy trong túi quần ra 02 (hai) gói ma túy đã chuẩn bị sẵn đều có đặc điểm là 01 (một) gói nhỏ bằng giấy mặt ngoài màu vàng, mặt trong màu trắng, bên trong có chứa chất bột, cục màu trắng (chính là ma túy Heroin), mỗi gói trị giá khoảng 130.000 đồng đưa bán cho T 01 (một) gói, đồng thời đưa bán 01 (một) gói còn lại cho K. T và K mỗi người cầm một gói ma túy, sau đó từng người trả cho L 01 (một) tờ tiền polyme loại mệnh giá 200.000 đồng. Sau khi mua được ma túy, K trở T đến khu vực đồi keo ở xã N, tại đây cả hai cùng tự sử dụng hết số ma túy đã mua được của L.
Về nguồn gốc số ma túy, Nguyễn Ngọc L khai nhận do L mua được của một người đàn ông không quen biết tên tuổi, địa chỉ khoảng hơn 40 tuổi, diễn ra vào khoảng 11 giờ 30 phút, ngày 21/6/2023, tại khu vực ga thị xã P, thuộc địa phận phường P, thị xã P, tỉnh Phú Thọ với giá 2.000.000 đồng (hai triệu đồng). Sau khi mua được ma túy L mang về nhà dùng tay không chia tách số ma túy đó thành 15 (mười lăm) gói nhỏ, mỗi gói trị giá khoảng 130.000 đồng và còn dư một phần ma túy vụn L đã sử dụng cho bản thân, phần ma túy vụn thừa ra khi chia tách nêu trên bằng hình thức hít khói ma túy qua đường hộ hấp vào cơ thể. Còn lại 15 (mười lăm) gói nguyên, L cất giấu với mục đích để bán kiếm lợi và sử dụng cho bản thân. Đến khoảng 13 giờ 30 phút ngày 21/6/2023, L bán trái phép cho N 01 (một) gói; đến khoảng 16 giờ 10, L tiếp tục bán cho T và K mỗi người 01 (một) gói, còn lại 12 (mười hai) gói, L đã bị Cơ quan điều tra tạm giữ khi khám xét.
Quá trình làm việc, Trần Trung K tự giác giao nộp 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Nokia, vỏ máy màu xanh, đã qua sử dụng, bên trong lắp 01 (một) thẻ sim có số seri: 89840200010778367029, gắn số thuê bao 0916648756.
Cơ quan CSĐT đã yêu cầu Tập đoàn công nghiệp viễn thông Quân đội Viettel cung cấp chi tiết lịch sử cuộc gọi số thuê bao 0354841461 của Nguyễn Ngọc L. Kết quả trong báo cáo chi tiết các cuộc gọi có phát sinh các cuộc gọi từ số thuê bao 0916648756 của Trần Trung K, đến số thuê bao 0354841461 của Nguyễn Ngọc L phù hợp với lời khai của các đối tượng trước Cơ quan điều tra.
Tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Ngọc L trình bày: Bị cáo thừa nhận đã có hành vi bán trái phép chất ma túy Quản Văn N và Trần Trung K, Lê Hồng T đồng thời tàng trữ trái phép chất ma túy để bán ngày 21/6/2023 như trên.
Bản cáo trạng số 54/CT-VKSCK ngày 16/11/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Ba, tỉnh Phú Thọ truy tố bị cáo Nguyễn Ngọc L về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm b, c, q khoản 2 Điều 251 của Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa hôm nay Đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên nội dung cáo trạng đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Ngọc L phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”
Áp dụng điểm b, c, q khoản 2 Điều 251; điểm r, s khoản 1 Điều 51, Khoản 1 Điều 38 của Bộ luật hình sự, xử phạt Nguyễn Ngọc L từ 08 năm 06 tháng tù đến 09 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng: Đề nghị HĐXX căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự; Điểm a, b Khoản 2, Điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự
- Tịch thu 600.000đ của bị cáo Nguyễn Ngọc L để sung quỹ Nhà nước.
- Tịch thu tiêu hủy: 01 bì niêm phong số PS3A 105352 và 01 túi niêm phong mã số PS3A 105351 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Phú Thọ là mẫu vật giám định;
- Tịch thu 01 chiếc điện thoại di động hiệu Oppo A15 có gắn sim số 0354.841461 thu giữ của Nguyễn Ngọc L và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia có gắn sim số 0916.648.756 thu giữ của Trần Trung K để bán sung quỹ Nhà nước.
- Trả lại cho Nguyễn Ngọc L 01 thẻ căn cước công dân số 025061003061 mang tên Nguyễn Ngọc L.
Về án phí: Bị cáo Nguyễn Ngọc L được miễn án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật (do bị cáo là người cao tuổi).
Bị cáo nói lời sau cùng: Đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Thanh Ba tỉnh Phú Thọ, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Ba, tỉnh Phú Thọ, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về nội dung:
+ Đánh giá các chứng cứ buộc tội đối với bị cáo: Quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay, bị cáo L thừa nhận:
Ngày 21/6/2023, tại nhà ở của mình thuộc khu 13, xã Đ, huyện T, tỉnh Phú Thọ, Nguyễn Ngọc L đã 01 lần thực hiện hành vi bán trái phép 01 gói ma túy Heroin cho Quản Văn N với giá 200.000đ và 01 lần bán trái phép cùng một lúc cho 02 người là Trần Trung K và Lê Hồng T mỗi người một gói ma túy với giá 200.000đ. Sau khi mua được ma túy, N, T, K đều đã sử dụng hết nên không xác định được khối lượng.
Ngoài hành vi bán trái phép chất ma túy trên, Nguyễn Ngọc L còn thực hiện hành vi tàng trữ trái phép 0,497 gam ma túy Heroin với mục đích vừa để bán và vừa để sử dụng cho bản thân nhưng chưa kịp sử dụng và bán cho ai thì bị Công an huyện Thanh Ba kiểm tra, thu giữ ngày 21/6/2023. Bản thân bị cáo đã có 02 tiền án về tội “đánh bạc” và tội “Mua bán trái phép chất ma túy” (đã bị kết án về tội phạm rất nghiêm trọng do cố ý chưa được xóa án tích, lại tiếp tục phạm tội rất nghiêm trọng do cố ý).
Vì vậy, có đủ cơ sở xác định L, thực hiện hành vi bán, tàng trữ chất ma túy nhằm mục đích bán trái phép cho người khác đã phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” với tình tiết “phạm tội từ 02 lần trở lên”, “Phạm tội đối với 02 người trở lên” và “tái phạm nguy hiểm”.
Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa hoàn toàn phù hợp với lời khai mà bị cáo khai trong quá trình điều tra, phù hợp với lời khai của những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người làm chứng; phù hợp với thời gian, địa điểm xảy ra vụ án, các tài liệu khác có trong hồ sơ và đã được thẩm tra tại phiên tòa. Do đó có đủ căn cứ pháp lý để kết luận bị cáo Nguyễn Ngọc L phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” quy định tại điểm b, c, q khoản 2 Điều 251 của Bộ luật hình sự.
+ Xét tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ của bị cáo:
Bị cáo phạm tội là lỗi cố ý, mức độ phạm tội là rất nghiêm trọng. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội vì đã trực tiếp xâm phạm đến chế độ quản lý độc quyền của nhà nước về ma túy được pháp luật bảo vệ, gây bất bình trong nhân dân, làm mất trật tự trị an ở địa phương. Hơn nữa nó còn là mầm mống gây nên các hậu quả nghiêm trọng khác. Bị cáo là người có năng lực trách nhiệm hình sự và đạt độ tuổi theo quy định của pháp luật; có điều kiện để nhận thức về pháp luật, có sức khỏe nhưng không chịu lao động làm ăn lương thiện và rèn luyện bản thân. Bị cáo có nhân thân xấu, đã nhiều lần bị tòa án xét xử về các tội phạm trong đó có tội phạm về mua bán, vi tàng trữ trái phép chất ma túy nhưng bị cáo cũng không lấy đó làm bài học để rèn luyện bản thân mà vẫn tiếp tục phạm tội. Vì vậy vụ án cần phải đưa ra xét xử kịp thời và nghiêm khắc nhằm giáo dục riêng đối với bị cáo và phòng ngừa tội phạm nói chung.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo L đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; Bị cáo cũng đã tự nguyện khai báo với cơ quan điều tra về hành vi bán ma túy trái phép cho K và T ngày 21/6/2023 trước khi tội phạm bị phát hiện. Như vậy, bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm r, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng nào.
Căn cứ tính chất hành vi phạm tội, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo thấy rằng: phải áp dụng hình phạt tù đối với bị cáo mới đảm bảo việc cải tạo của bị cáo.
+ Về hình phạt bổ sung: Tại Khoản 5 Điều 251 Bộ luật hình sự có quy định: “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản”. Xét thấy, bị cáo L mặc dù có tài sản nhưng là tài sản chung của cả gia đình, không có tài sản gì riêng cũng không có chức vụ nghề nghiệp nào ổn định, vì vậy không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về vật chứng:
- Đối với 01 bì niêm phong số PS3A 105352 và 01 túi niêm phong mã số PS3A 105351 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Phú Thọ là mẫu vật còn lại giám định, không có giá trị cần tịch thu tiêu hủy;
- Đối với 01 chiếc điện thoại di động hiệu Oppo A15 có gắn sim số 0354.841461 thu giữ của Nguyễn Ngọc L và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia có gắn sim số 0916.648.756 thu giữ của Trần Trung K: đây là các vật chứng bị cáo cùng người có liên quan sử dụng liên lạc để thực hiện hành vi mua bán trái phép chất ma túy xét cần tịch thu để bán sung quỹ Nhà nước.
- Trả lại cho Nguyễn Ngọc L 01 thẻ căn cước công dân mang tên Nguyễn Ngọc L.
- Đối với số tiền 600.000đ, L có được do bán ma túy cho N, K, T ngày 21/6/2023, đây là khoản thu lời bất chính do hành vi phạm tội mà có cần tịch thu sung quỹ nhà nước.
Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của Quản Văn N, Trần Trung K và Lê Hồng T, Cơ quan điều tra đã chuyển Công an huyện Thanh Ba ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính là phù hợp.
Đối với người đàn ông bán trái phép chất ma túy cho L Cơ quan điều tra đã phối hợp với Công an phường Phong Châu, thị xã Phú Thọ xác minh nhưng không xác định được người đó là ai, vì vậy chưa có cơ sở xem xét, xử lý.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm. Tuy nhiên, tại phiên tòa bị cáo Lâm có đề nghị được miễn toàn bộ án phí hình sự sơ thẩm do bị cáo là người cao tuổi. Xét miễn án phí cho bị cáo L là phù hợp.
Bị cáo được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
[1] Điều luật áp dụng:
Căn cứ Điểm b, c, q khoản 2 Điều 251; điểm r, s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự. Điểm a, b Khoản 2, Điểm a khoản 3 Điều 106; Khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điểm đ khoản 1 Điều 12, Khoản 6 Điều 15 Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
[2] Về tội danh và mức hình phạt:
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Ngọc L phạm tội: “Mua bán trái phép chất ma túy”.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Ngọc L 09 (chín) năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù được tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giam ngày 23/6/2023 .
[3] Về xử lý vật chứng:
Tịch thu tiêu hủy: 01 túi niêm phong số PS3A 105352 và 01 túi niêm phong mã số PS3A 105351 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Phú Thọ, mặt sau các túi đều có 04 loại chữ ký và 03 hình dấu tròn màu đỏ của Phòng kỹ thuật hình sự- Công an tỉnh Phú Thọ tại các vị trí mép dán là mẫu vật còn lại giám định;
Tịch thu 01 chiếc điện thoại di động hiệu Oppo A15 có gắn sim số 0354.841461 thu giữ của Nguyễn Ngọc L và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia có gắn sim số 0916.648.756 thu giữ của Trần Trung K để bán sung quỹ Nhà nước.
- Trả lại cho Nguyễn Ngọc L 01 thẻ căn cước công dân mang tên Nguyễn Ngọc L.
Tịch thu sung quỹ Nhà nước của Nguyễn Ngọc L số tiền 600.000đ (Sáu trăm nghìn đồng chẵn).
(Các vật chứng có tình trạng theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày 22/12/2023 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Thanh Ba và Chi cục thi hành án dân sự huyện Thanh Ba)
[4] Về án phí: Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Nguyễn Ngọc L.
Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo có mặt được quyền kháng cáo; Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ xét xử phúc thẩm.
| Nơi nhận: - Bị cáo; Những người TGTT - VKSND huyện Thanh Ba; - VKSND tỉnh Phú Thọ; - Cơ quan THA hình sự; - Cơ quan THA dân sự h Thanh Ba; - Công an huyện Thanh Ba; Trại giam Công an tỉnh Phú Thọ - Lưu hồ sơ, VP.ỘI | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hà Thanh Loan |