- Tranh chấp gì? án hình sự — "Phan Hửu H, Phan Bửu S - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố các bị cáo Phan Bửu H và Phan Bửu S phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc | |
| ,TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH TÂN TỈNH VĨNH LONG Bản án số: 61/2023/HS-ST Ngày: 15 - 9 - 2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH TÂN, TỈNH VĨNH LONG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Huỳnh Thanh Hùng
- Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Trương Văn Ánh
Ông Nguyễn Văn Sáu
- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Thanh Điền - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Bình Tân, tỉnh Vĩnh Long.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Tân, tỉnh Vĩnh Long tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Hùng Duẩn - Kiểm sát viên.
Ngày 15 tháng 9 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bình Tân, tỉnh Vĩnh Long xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 55/2023/TLST-HS ngày 22 tháng 8 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 56/2023/QĐXXST-HS ngày 23 tháng 8 năm 2023 đối với các bị cáo:
Bị cáo thứ nhất: Phan Bửu H, sinh ngày 15/5/1972 tại thành phố Cần Thơ. Nơi đăng ký thường trú: Số B, khu vực 2, phường A, quận N, thành phố Cần Thơ; Chỗ ở hiện nay: Số G, đường B, khu dân cư I, khu V, phường A, quận N, thành phố Cần Thơ; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 6/12; Dân tộc: Hoa; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Phan Thành T (chết) và bà Lý Thị N (chết); có vợ Lê Thị Thanh T1 và có 01 con, sinh năm 2008; Tiền án: Không; Tiền sự: 01 lần (ngày 30/7/2021 bị Tòa án nhân dân quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc 12 tháng, đến ngày 06/5/2022 chấp hành xong); Bị bắt tạm giữ ngày 23/5/2023, tạm giam từ ngày 26/5/2023, có mặt tại phiên tòa.
Bị cáo thứ hai: Phan Bửu S, sinh ngày 20/11/1976 tại thành phố Cần Thơ. Nơi đăng ký thường trú: Số G, đường B, khu dân cư I, khu V, phường A, quận N, thành phố Cần Thơ; Chỗ ở hiện nay: Khu V, phường A, quận N, thành phố Cần Thơ; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 6/12; Dân tộc: Hoa; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Phan Thành T (chết) và bà Lý Thị N (chết); có vợ Trần Ngọc T2 và có 02 con (sinh năm 1997 và sinh năm 1999); Tiền án: Không; Tiền sự: 01 lần (ngày 11/3/2021 bị Tòa án nhân dân quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc 12 tháng, đến ngày 27/10/2022 chấp hành xong); Nhân thân: Ngày 17/9/2004 bị Tòa án nhân dân thị xã Châu Đốc (nay là Tòa án nhân dân thành phố Châu Đốc), tỉnh An Giang xử phạt 03 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, ngày 07/6/2007 chấp hành xong; Ngày 17/7/2008 bị Chủ tịch Ủy ban nhân dân quận N, thành phố Cần Thơ ra quyết định đi cai nghiện bắt buộc thời gian 24 tháng; Ngày 17/12/2008 bị Tòa án nhân dân quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ xử phạt 01 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”, đến ngày 21/8/2009 chấp hành xong hình phạt tù; Bị bắt tạm giữ ngày 23/5/2023, tạm giam từ ngày 26/5/2023, có mặt tại phiên tòa.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Anh Trần Trường T3, sinh năm 1997. Nơi cư trú: Khu V, phường A, quận N, thành phố Cần Thơ. (có mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Phan Bửu H là anh ruột của Phan Bửu S (H ở phường A, còn S ở phường A, Quận N, thành phố Cần Thơ) cả hai điều nghiện ma túy và thường xuyên hùn tiền mua ma túy về sử dụng chung.
Vào khoảng 09 giờ ngày 23/5/2023, Phan Bửu H điện thoại rủ Phan Bửu S đi mua ma túy về sử dụng thì S đồng ý. S điều khiển xe mô tô biển số 64G1 - 059.71 đi đến khu vực gần cầu H thuộc thành phố Cần Thơ rước H rồi S điều khiển xe chở H qua khu vực chợ B thuộc phường T, thị xã B, tỉnh Vĩnh Long, S đưa cho H 200.000 đồng để mua ma túy và ngồi trên xe đợi H. H đi bộ vào trong con hẻm nhỏ gặp một người nam thanh niên lạ mặt, mua một bịch ma túy loại Heroine với số tiền 200.000 đồng. Sau khi mua được ma túy, S điều khiển xe chở H đến khu đất trống thuộc tổ A, ấp T, xã T, huyện B, tỉnh Vĩnh Long để sử dụng ma túy thì Lực lượng Công an đến kiểm tra phát hiện H đang cầm 01 bịch ma túy trên tay nên tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Phan Bửu H và Phan Bửu S về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy, tang vật thu giữ gồm có:
- 01 bịch nylon trong suốt màu trắng bên trong có chứa chất rắn màu trắng đã được niêm phong lại có chữ ký xác nhận của H và S.
- 01 xe mô tô biển số 64G1 - 059.71 đang sử dụng loại Dream.
- 01 ống kim tiêm, 01 cây kéo màu đen, 01 bật lửa màu trắng.
- 01 điện thoại hiệu Nokia màu đỏ có bàn phím của Phan Bửu H.
- 01 điện thoại di động Samsung galaxy J7 Prime màu trắng của Phan Bửu S.
Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện B tiến hành Test nhanh chất ma tuy trong người Phan Bửu H và Phan Bửu S. Kết quả H, S đều dương tính với chất ma túy loại Heroin.
Theo kết luận giám định số 343/KLGĐ-PC09 ngày 14/5/2023 của Phòng K Công an tỉnh V kết luận: Mẫu tình thể rắn màu trắng bên trong 01 bịch nylon được niêm phong trong phong bì gửi giám định là ma túy có khối lượng 0,1913 gam, loại Heroin.
Xét thấy đã đủ yếu tố cấu thành tội phạm, vào ngày 25/5/2023 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện B ra quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can đối với Phan Bửu H và Phan Bửu S về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy” và ra lệnh tạm giam để điều tra cho đến nay.
Quá trình điều tra Cơ quan Cảnh sát điều tra chứng minh được như sau:
- Đối với xe mô tô biển số 64G1 - 059.71 là của Trần Trường T3 (T3 là con của S) cho S mượn sử dụng, rồi S dùng xe đi mua ma túy thì T3 không biết nên cần trả lại xe cho Trần Trường T3.
- Đối với 01 gói niêm phong ghi số 343 được hoàn lại sau giám định, bên trong có chứa chất ma túy, loại Heroin, khối lượng 0,1293 gam cần tịch thu tiêu hủy.
- Đối với 01 điện thoại di động hiệu Nokia phím bấm màu đỏ của H, không liên quan đến vụ án cần trả lại cho H.
- Đối với 01 điện thoại di động Samsung galaxy J7 Prime màu trắng của S, không liên quan đến vụ án cần trả lại cho S.
- Đối với 01 ống kim tiêm, 01 cây kéo màu đen và 01 bật lửa màu trắng đây là dụng cụ dùng để sử dụng ma túy, cần tịch thu tiêu hủy.
- Đối với người thanh niên lạ mặt bán ma túy cho H nhưng không rõ họ tên và địa chỉ ở đâu, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện B chưa làm việc được, khi nào làm rõ xử lý sau.
Tại Cáo trạng số: 58/CT-VKSBT, ngày 21/8/2023 Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Tân, tỉnh Vĩnh Long truy tố các bị cáo Phan Bửu H và Phan Bửu S về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Tại phiên tòa, sau khi phân tích các yếu tố cấu thành tội phạm, tính chất, mức độ hành vi phạm tội, hậu quả, nhân thân của các bị cáo, năng lực trách nhiệm hình sự, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Tân, tỉnh Vĩnh Long vẫn giữ nguyên quyết định truy tố đối với các bị cáo Phan Bửu H và Phan Bửu S về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và đề nghị Hội đồng xét xử:
Tuyên bố các bị cáo Phan Bửu H và Phan Bửu S phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Về hình phạt chính:
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17, Điều 38, Điều 58 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
- Xử phạt bị cáo Phan Bửu H từ 01 năm tù đến 01 năm 06 tháng tù.
- Xử phạt bị cáo Phan Bửu S từ 01 năm tù đến 01 năm 06 tháng tù.
Về hình phạt bổ sung: Xét các bị cáo Phan Bửu H và Phan Bửu S có hoàn cảnh kinh tế khó khăn, đề nghị Hội đồng xét xử miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo H và bị cáo S.
Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2021).
- Đối với xe mô tô biển số 64G1 - 059.71 là của anh Trần Trường T3 cho bị cáo S mượn sử dụng, rồi bị cáo S dùng xe đi mua ma túy thì anh T3 không biết, đề nghị Hội đồng xét xử trả lại xe cho anh Trần Trường T3.
- Đối với 01 điện thoại di động hiệu Nokia phím bấm màu đỏ của bị cáo H, không liên quan đến vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử trả lại cho bị cáo H.
- Đối với 01 điện thoại di động Samsung galaxy J7 Prime màu trắng của bị cáo S, không liên quan đến vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử trả lại cho bị cáo S.
- Đối với 01 gói niêm phong ghi số 343 được hoàn lại sau giám định, bên trong có chứa chất ma túy, loại H1, khối lượng 0,1293 gam, đề nghị Hội đồng xét xử tịch thu tiêu hủy.
- Đối với 01 ống kim tiêm, 01 cây kéo màu đen và 01 bật lửa màu trắng là dụng cụ dùng để sử dụng ma túy, đề nghị Hội đồng xét xử tịch thu tiêu hủy.
Đối với người thanh niên lạ mặt bán ma túy cho bị cáo H nhưng không rõ họ tên và địa chỉ ở đâu, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện B chưa làm việc được, khi nào làm rõ xử lý sau.
Về án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH12 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Buộc các bị cáo Phan Bửu H, Phan Bửu S mỗi bị cáo nộp số tiền 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng).
Các bị cáo Phan Bửu H và Phan Bửu S thừa nhận hành vi phạm tội đúng như nội dung cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Tân, tỉnh Vĩnh Long đã truy tố, các bị cáo nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật. Nói lời sau cùng các bị cáo Phan Bửu H và Phan Bửu S xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án anh Trần Trường T3 trình bày: Anh là con ruột của bị cáo Phan Bửu S, xe mô tô biển số 64G1 - 059.71 là của anh T3, anh T3 cho bị cáo S mượn sử dụng rồi bị cáo S dùng xe đi mua ma túy thì anh T3 không biết. Anh T3 đề nghị Hội đồng xét xử xem xét, giải quyết trả lại cho anh T3 xe mô tô biển số 64G1 - 059.71. Ngoài ra anh T3 không yêu cầu hay trình bày gì thêm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện B, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện huyện B, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục do Bộ luật tố tụng hình sự quy định. Qua quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do vậy, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.
Xét lời khai nhận của các bị cáo Phan Bửu H và Phan Bửu S tại phiên tòa phù hợp với lời khai của các bị cáo tại Cơ quan điều tra, biên bản xảy ra sự việc, vật chứng thu giữ được và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xem xét tại phiên tòa. Có đủ căn cứ xác định: Vào lúc 11 giờ 15 phút ngày 23/5/2023, lực lượng Công an huyện B, tỉnh Vĩnh Long kết hợp với Công an xã T, huyện B tiến hành kiểm tra khu vực đất trống thuộc tổ A, ấp T, xã T, huyện B, tỉnh Vĩnh Long phát hiện bị cáo Phan Bửu S điều khiển xe mô tô biển số 64G1 - 059.71 chở sau là bị cáo Phan Bửu H đi vào khu vực đất trống trên để sử dụng ma túy nên tiến hành kiểm tra phát hiện trên tay bị cáo Phan Bửu H có cầm 01 bịch ma túy và thừa nhận số ma túy trên là do bị cáo H và bị cáo S cùng nhau đi mua để về sử dụng nên tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang.
Theo kết luận giám định ngày 25/5/2023 của Phòng K Công an tỉnh V, kết luận mẫu tinh thể rắn màu trắng bên trong 01 bịch nylon được niêm phong trong phong bì gửi giám định là ma túy có khối lượng 0,1923 gam, loại Heroin. Như vậy, hành vi của các bị cáo Phan Bửu H và Phan Bửu S đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Tội phạm các bị cáo thực hiện đã hoàn thành. Do vậy, Viện kiểm sát nhân dân Bình Tân, tỉnh Vĩnh Long truy tố các bị cáo với tội danh cùng điều luật nêu trên là có căn cứ, hoàn toàn đúng người, đúng tội.
Về tính chất, mức độ thực hiện hành vi phạm tội:
Tính chất vụ án là nghiêm trọng, hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy của các bị cáo Phan Bửu H và Phan Bửu S là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến các quy định của Nhà nước về quản lý các chất ma túy. Ma túy là một loại độc dược gây nghiện, khi sử dụng sẽ làm cho con người bị lệ thuộc và mất đi nhân cách, là nguyên nhân gây ra sự suy thoái về đạo đức và cũng là nguyên nhân phát sinh các loại tội phạm khác. Các bị cáo là người đã thành niên, có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, bản thân các bị cáo nhận thức rõ tác hại của ma túy, nhưng vì để thỏa mãn cơn nghiện các bị cáo đã mua ma túy loại Heroin để sử dụng, bất chấp hậu quả xảy ra. Hành vi của các bị cáo không những gây thiệt hại đến kinh tế gia đình, người thân và của chính các bị cáo mà còn làm ảnh hưởng đến sức khỏe các bị cáo và làm gia tăng tệ nạn xã hội. Chính vì vậy, cần có một mức án tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo, cần cách ly các bị cáo khỏi xã hội một thời gian nhằm răn đe, giáo dục đối với các bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội.
Về vai trò của các bị cáo: Trong vụ án, các bị cáo phạm tội thuộc trường hợp đồng phạm giản đơn, vì các bị cáo không bàn bạc, phân công nhiệm vụ cụ thể. Bị cáo H là người gọi điện thoại rủ bị cáo S đi mua ma túy cùng sử dụng chung thì bị cáo S đồng ý, do đó mức độ thực hiện hành vi phạm tội của các bị cáo là như nhau, nên mức hình phạt áp dụng cho các bị cáo là bằng nhau. Do đó, các bị cáo Phan Bửu H và Phan Bửu S phải chịu trách nhiệm hình sự do hành vi của các bị cáo đã gây ra.
Nhưng trước khi quyết định hình phạt cho các bị cáo Hội đồng xét xử cũng đã xem xét sau khi các bị cáo thực hiện hành vi phạm tội cũng như trong quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được áp dụng để giảm nhẹ cho các bị cáo theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Vì vậy, khi quyết định hình phạt cũng cần xem xét, cân nhắc và áp dụng mức hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ, hậu quả, hành vi phạm tội của từng bị cáo đã thực hiện có xem xét đến tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo.
Về hình phạt bổ sung: Xét thấy các bị cáo Phan Bửu H và Phan Bửu S là đối tượng nghiện ma túy, không có việc làm ổn định, hoàn cảnh kinh tế khó khăn nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền quy định tại khoản 5 Điều 249 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) đối với các bị cáo H và S.
Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2021).
- Đối với xe mô tô biển số 64G1 - 059.71 của anh Trần Trường T3 cho bị cáo S mượn sử dụng, rồi bị cáo S dùng xe đi mua ma túy thì anh T3 không biết, cần trả lại xe cho anh Trần Trường T3.
- Đối với 01 điện thoại di động hiệu Nokia phím bấm màu đỏ của bị cáo H, không liên quan đến vụ án, cần trả lại cho bị cáo H.
- Đối với 01 điện thoại di động Samsung galaxy J7 Prime màu trắng của bị cáo S, không liên quan đến vụ án, cần trả lại cho bị cáo S.
- Đối với 01 gói niêm phong ghi số 343 được hoàn lại sau giám định, bên trong có chứa chất ma túy, loại Heroin, khối lượng 0,1293 gam, cần tịch thu tiêu hủy.
- Đối với 01 ống kim tiêm, 01 cây kéo màu đen và 01 bật lửa màu trắng là dụng cụ dùng để sử dụng ma túy cần tịch thu tiêu hủy.
Đối với người thanh niên lạ mặt bán ma túy cho bị cáo H nhưng không rõ họ tên và địa chỉ ở đâu, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện B chưa làm việc được, khi nào làm rõ xử lý sau.
Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về án phí sơ thẩm: Căn cứ khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH12 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Buộc các bị cáo Phan Bửu H và Phan Bửu S phải nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố các bị cáo Phan Bửu H và Phan Bửu S phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17, Điều 38, Điều 58 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
- Xử phạt bị cáo Phan Bửu H 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 23/5/2023.
- Xử phạt bị cáo Phan Bửu S 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 23/5/2023.
Miễn hình phạt bổ sung cho các bị cáo Phan Bửu H và Phan Bửu S.
2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2021).
- Trả lại anh Trần Trường T3 01 xe mô tô biển số 64G1 - 059.71 (đã qua sử dụng).
- Trả lại bị cáo Phan Bửu H 01 điện thoại di động hiệu Nokia phím bấm màu đỏ (đã qua sử dụng).
- Trả lại bị cáo Phan Bửu S 01 điện thoại di động Samsung galaxy J7 Prime màu trắng (đã qua sử dụng).
- Tịch thu tiêu hủy:
+ 01 gói niêm phong ghi số 343 được hoàn lại sau giám định, bên trong có chứa chất ma túy, loại Heroin, khối lượng 0,1293 gam.
+ 01 ống kim tiêm, 01 cây kéo màu đen và 01 bật lửa màu trắng (đã qua sử dụng).
(Các vật chứng hiện đang được lưu giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bình Tân, tỉnh Vĩnh Long theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 29/8/2023).
3. Về án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH12 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Buộc các bị cáo Phan Bửu H và Phan Bửu S mỗi bị cáo nộp số tiền 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng).
4. Các bị cáo; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Vĩnh Long (PKTNV và THA); - VKSND tỉnh Vĩnh Long; - Sở Tư pháp tỉnh Vĩnh Long; - Công an tỉnh Vĩnh Long (Phòng hồ sơ); - VKSND huyện Bình Tân; - Công an H.Bình Tân (CQTHAHS, CQĐT, NTG); - Chi cục THADS huyện Bình Tân; - Bị cáo, những người tham gia tố tụng; - Lưu. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Huỳnh Thanh Hùng |