- Tranh chấp gì? án hình sự — "Bị cáo N Tàng trữ ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? 1- Tuyên bố: Bị cáo Đặng Văn Bc phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.
- Căn cứ chính? Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự; Điều 38 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH KIÊN GIANG Bản án số: 61/2023/HS-ST Ngày 15-9-2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN MINH, TỈNH KIÊN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Chí Công
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Hồ Thị Hoa
Bà Đoàn Thị Huệ
- Thư ký phiên tòa: Ông Cao Vũ Linh - Thư ký Toà án nhân dân huyện An Minh, tỉnh Kiên Giang
- Đại diện Viện kiểm sát nhân huyện An Minh, tỉnh Kiên Giang tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Đông Hải - Kiểm sát viên
Ngày 15 tháng 9 năm 2023 tại Toà án nhân dân huyện An Minh, tỉnh Kiên Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 51/2023/TLST-HS ngày 14 tháng 8 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 59/2023/QĐXXST-HS ngày 25 tháng 8 năm 2023 đối với bị cáo:
Đặng Văn Bc, sinh ngày 09 tháng 02 năm 1996 tại huyện An Minh, tỉnh Kiên Giang. Nơi đăng ký HKTT và cư trú: ấp 9 C, xã Đ, huyện An Minh, Kiên Giang; giới tính nam; nghề nghiệp làm ruộng; trình độ văn hóa 8/12; quốc tịch Việt Nam; dân tộc Kinh; tôn giáo không; con ông Đặng Văn L và bà Trần Thị Đ; chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự: không; Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 17/3/2023, đến ngày 24/3/2023 chuyển tạm giam cho đến nay; có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào lúc 20 giờ 20 phút ngày 17/3/2023, tại ấp 8 X I, xã Đ, huyện An Minh, tỉnh Kiên Giang. Công an huyện An Minh phối hợp cùng Công an xã Đ bắt quả tang Đặng Văn Bc có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy, tiến hành kiểm tra thì phát hiện trong túi áo trên bên phải của Bc đang mặc có 01 (một) bịch nylon trong suốt hàn kín miệng bên trong có chứa nhiều hạt tinh thể không đồng nhất nghi là ma túy, nên tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và thu giữ các vật chứng có liên quan gồm: 01 (một) bịch nylon trong suốt hàn kín miệng, bên trong có chứa nhiều hạt tinh thể không đồng nhất nghi là ma túy; 01 (một) xe mô tô hiệu HALIM - KREA màu đen, biển số 68FA - 028.40 đã qua sử dụng bị hư hỏng nhiều bộ phận; 01 (một) điện thoại di động loại bàn phím, hiệu SAMSUNG màu trắng, đã qua sử dụng.
Tại cơ quan điều tra Đặng Văn Bc khai nhận: Vào lúc 20 giờ ngày 17/3/2023, Bc mượn chiếc xe máy hiệu HALIM - KREA màu đen, biển số 68FA
- 028.40 của chị Phạm Thị Lq1 (là mợ của Bc) nhà ở ấp 9 C, xã Đ, huyện An Minh, tỉnh Kiên Giang, rồi điều khiển đến kênh 7 Suốl thuộc ấp 7 C, xã ĐT, huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang gặp một thanh niên lạ mặt (hiện chưa rõ nhân thân, lai lịch) để mua 300.000 đồng ma túy đá về sử dụng, sau khi trả tiền xong Bc lấy bịch ma túy đá bỏ vào túi áo trên bên phải của Bc đang mặc, rồi điều khiển xe về đến đoạn đường lộ bê tông hướng từ Thứ 8 về Thứ 9 C thuộc ấp 8 X I, xã Đ, huyện An Minh, tỉnh Kiên Giang thì bị bắt quả tang cùng tang vật.
Việc thu giữ, tạm giữ tài liệu, đồ vật; xử lý vật chứng, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện An Minh đã tạm giữ số vật chứng gồm:
- 01 (một) bịch nylon trong suốt hàn kín miệng, bên trong có chứa nhiều hạt tinh thể không đồng nhất nghi là ma túy;
- 01 (một) xe mô tô hiệu HALIM - KREA màu đen, biển số 68FA - 028.40 đã qua sử dụng bị hư hỏng nhiều bộ phận;
- 01 (một) điện thoại di động loại bàn phím, hiệu SAMSUNG màu trắng, đã qua sử dụng.
Tại bản kết luận định giám định số: 287/KL-KTHS ngày 23/3/2023 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Kiên Giang kết luận:
Nhiều hạt tinh thể màu trắng, không đồng nhất chứa trong 01 (một) gói nylon được niêm phong gửi giám định là chất ma túy, loại Methaphetamine. Khối lượng mẩu gửi giám định là 0,2134 gam.
Tại Cáo trạng số 54/CT-VKS-AM ngày 24/7/2023 Viện kiểm sát nhân dân huyện An Minh, Kiên Giang truy tố Đặng Văn Bc về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa,
- Kiểm sát viên kết luận bị cáo Bc phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Đề nghị áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51, điểm c khoản 1 Điều 249 và Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Bc từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù; về vật chứng đề nghị xử lý theo quy định.
- Bị cáo thừa nhận bản thân thực hiện hành vi như Cáo trạng đã nêu và kết luận của Kiểm sát viên tại phiên tòa, không tranh luận gì. Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo đã biết lỗi, rất hối hận về hành vi của bản thân gây ra xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt để bị cáo sớm về phụ giúp gia đình.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện An Minh, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện An Minh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về hành vi phạm tội: Tại phiên tòa bị cáo Bc khai nhận đã thực hiện hành vi như Cáo trạng đã nêu, lời khai của bị cáo phù hợp với biên bản phạm tội quả tang và các chứng cứ, tài liệu khác. Từ đó, có đủ cơ sở để xác định: Vào lúc 20 giờ 20 phút ngày 17/3/2023, tại ấp 8 X I, xã Đ, huyện An Minh, tỉnh Kiên Giang. Bị cáo Đặng Văn Bc đang có hành vi cất giấu ma túy trong túi áo Bc đang mặc, thì bị Công an huyện An Minh, tỉnh Kiên Giang bắt quả tang, lập biên bản thu giữ vật chứng là 01 gói ma túy đá. Theo Kết luận giám định, chất ma túy mà bị cáo Bc tàng trữ là loại Methamphetamine, có khối lượng là 0,2134 gam.
Về tội phạm: Viện kiểm sát truy tố và kết luận bị cáo Bc phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự là có căn cứ và đúng pháp luật. Bởi lẽ: hành vi của bị cáo là hành vi nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến chế độ quản lý đặc biệt của Nhà nước đối với ma túy và các chất gây nghiện khác; khi thực hiện hành vi bị cáo là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự; bị cáo nhận thức rõ ma túy là chất quản lý đặc biệt nhưng đã tàng trữ trái phép là phạm tội với lỗi cố ý; mục đích tàng trữ ma túy của bị cáo là để sử dụng; loại ma túy bị cáo tàng trữ là Methamphetamine có khối lượng 0,2134 gam. Do đó, hành vi của bị cáo Bc đã cấu thành tội Tàng trữ trái phép chất ma túy thuộc trường hợp quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Về hình phạt:
Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ: Bị cáo biết rõ tác hại của ma túy cũng như hậu quả và những hệ lụy của việc sử dụng chất ma túy để lại đối với sức khỏe, kinh tế của chính bản thân người nghiện, gia đình và xã hội. Ma túy còn là nguyên nhân phát sinh nhiều loại tội phạm và hành vi vi phạm pháp luật khác, làm mất an ninh trật tự xã hội và bất bình trong nhân dân. Do đó, cần phải xử lý bị cáo nghiêm khắc để có thời gian tiếp tục cải tạo, giáo dục bị cáo. Tuy nhiên, khi quyết định hình phạt cũng cần thấy rằng bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Về quyết định hình phạt: HĐXX thấy bị cáo đã phạm tội nghiêm trọng có khung hình phạt từ 01 đến 05 năm tù, làm phức tạp thêm tình hình tệ nạn ma túy, gây bất ổn và gây dư luận không tốt ở địa phương nên cần phải áp dụng Điều 38 Bộ luật Hình sự để xử phạt bị cáo bằng hình phạt tù có thời hạn nhằm cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội, buộc chấp hành hình phạt tại cơ sở giam giữ trong một thời hạn nhất định. Tuy nhiên, bị cáo có hoàn cảnh khó khăn, bị cáo mới phạm tội lần đầu nên có phần giảm nhẹ mức hình phạt là phù hợp với hành vi, tính chất, mức độ phạm tội của bị cáo và thể hiện sự khoan hồng của pháp luật
Về hình phạt bổ sung: Theo quy định khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự, Hội đồng xét xử có thể phạt tiền bị cáo. Tuy nhiên, thấy bị cáo không có nghề nghiệp ổn định, khó đảm bảo việc thi hành án. Vì vậy, HĐXX miễn áp dụng hình phạt bổ sung.
Về vật chứng: Đối với số ma túy là vật cấm nên tịch thu tiêu hủy theo điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự.
Đối với 01 (một) xe mô tô hiệu HALIM - KREA, biển số 68FA-028.40, đã qua sử dụng, là của chị Phạm Thị Lq1 và 01 điện thoại di động loại bàn phím hiệu SAMSUNG màu trắng của bà Trần Thị Đ, cơ quan điều tra xác định không có liên quan đến vụ án nên Cơ quan điều tra đã trả lại cho chủ sở hữu.
Đối với người bán ma túy cho Bc hiện chưa rõ nhân thân nên chưa triệu tập được, cơ quan điều tra tiếp tục xác minh làm rõ để xử lý theo quy định pháp luật.
Về án phí, bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1- Tuyên bố: Bị cáo Đặng Văn Bc phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.
1.1- Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Đặng Văn Bc 01 (một) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ, tạm giam là ngày 17/3/2023.
1.2- Về hình phạt bổ sung: không áp dụng.
2- Về biện pháp tư pháp, căn cứ khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự, tịch thu tiêu huỷ đối với: 01 (một) phong bì được niêm phong, có kí hiệu vụ số: 287/2023, có chữ ký của giám định viên Thái Thị Thanh Thủy, người chứng kiến niêm phong Trần Nhựt Huynh và hình dấu tròn của Phòng Kỹ Thuật hình sự - Công an tỉnh Kiên Giang (bên trong chứa nhiều hạt tinh thể màu trắng còn lại sau giám định là 0,1734 gam Methaphetamine (đựng trong 01 bịch nylon).
(Hiện Chi cục Thi hành án dân sự huyện An Minh đang quản lý theo Quyết định chuyển giao vật chứng số 33/QĐ-VKS-AM ngày 24-7-2023 của VKSND huyện An Minh).
3- Về án phí, áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 23 Nghị quyết của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án, bị cáo Đặng Văn Bc chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.
4- Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án (ngày 15-9-2023)./.
| Nơi nhận: - VKS huyện, tỉnh; - Toà án tỉnh KG; - Công an huyện, tỉnh; - Cơ quan THAHS huyện AM; - Cơ quan THADS huyện AM; - Bị cáo; - Sở TP tỉnh KG; - UBND X. Đ, H. An Minh, KG; - Lưu Văn phòng, hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Chí Công Lê Chí Công |