vanban.org

Bản án 61/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Nguyễn Thị H ly hôn anh Lƣu Văn N.

Về con chung: Giao con chung Lƣu Minh Q- sinh ngày 06/5/2012 cho anh Lƣu Văn N tiếp tục nuôi dƣỡng đến khi con đủ 18 tuổi thành niên hoặc có thay đổi khác. Ghi nhận chị Nguyễn Thị H cấp dƣỡng nuôi con chung đối với cháu Lƣu Minh Q là 1.000.000đ/tháng kể từ tháng 10/2023 đến khi con đủ 18 tuổi thành … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyễn Thị H với Lưu Văn N"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Nguyễn Thị H ly hôn anh Lƣu Văn N.
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ CHÍ LINH
TỈNH HẢI DƢƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 61/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 03/11/2023
V/v: Ly hôn, tranh chấp nuôi con
chung khi ly hôn.

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÍ LINH, TỈNH HẢI DƢƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán- Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Trọng Bách.

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Mai và ông Nguyễn Văn Thành.

- Thư ký phiên toà: Ông Đinh Quốc Cƣờng- Thƣ ký Toà án nhân dân thành phố Chí Linh, tỉnh Hải Dƣơng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Chí Linh tham gia phiên toà: Bà Đỗ Thị Loan- Kiểm sát viên.

Ngày 03 tháng 11 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Chí Linh, tỉnh Hải Dƣơng xét xử sơ thẩm, công khai vụ án thụ lý số: 76/2023/TLST-HNGĐ, ngày 14 tháng 3 năm 2023, về việc Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn. Theo Quyết định đƣa vụ án ra xét xử số: 53/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 10/10/2023, Quyết định hoãn phiên tòa số 36 ngày 25/10/2023, giữa các đƣơng sự:

- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị H, sinh năm 1990.

HKTT: Số nhà 10, ngõ 1, đƣờng B, KDC NT1, phƣờng S, thành phố Chí Linh, tỉnh Hải Dƣơng.

Chỗ ở hiện nay: KDC PT, phƣờng H, thành phố Chí Linh, tỉnh Hải Dƣơng.

Vắng mặt tại phiên tòa.

- Bị đơn: Anh Lƣu Văn N, sinh năm 1975.

Địa chỉ: Số nhà 10, ngõ 1, đƣờng B, KDC NT1, phƣờng S, thành phố Chí Linh, tỉnh Hải Dƣơng.

Vắng mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, Bản tự khai và ý kiến tại các buổi làm việc với Tòa án, nguyên đơn chị Nguyễn Thị H trình bày: Chị H và anh Lƣu Văn N, đƣợc tự do tìm hiểu, tự nguyện kết hôn, tổ chức đăng ký tại UBND phƣờng S ngày 23/02/2011, hai bên gia đình tổ chức lễ cƣới theo nghi thức truyền thống. Sau ngày cƣới chị H về nhà anh N chung sống. Vợ chồng hòa thuận đƣợc khoảng 3 năm thì nảy sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn vợ chồng là bất đồng quan điểm sống, vợ chồng thƣờng xuyên cãi vã, ngoài ra do anh N giao du chơi với những đối tƣợng nghiện nên tình cảm vợ chồng rạn nứt, anh N đánh đuổi chị nên cuối năm 2018 chị đã về nhà đẻ sống ly thân đến nay. Nay xác định tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt đƣợc nên chị H xin đƣợc ly hôn với anh Lƣu Văn N.

Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung là Lƣu Minh Q- sinh ngày 06/5/2012. Hiện con chung đang ở với anh N và gia đình bên nội. Khy ly hôn nguyện vọng của chị H cũng muốn đƣợc nuôi con và tự nguyện không yêu cầu anh N cấp dƣỡng nuôi con chung, nhƣng còn tùy nguyện vọng của cháu Q và ý kiến của anh N. Nếu cháu Q muốn ở với anh N chị cũng đồng ý và tự nguyện cấp dƣỡng nuôi con 1.000.000đ/tháng.

Về quan hệ tài sản, vay nợ, công sức chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Do anh N không đến Tòa án làm việc, gây khó khăn trong việc giải quyết vụ án nên chị H có đơn đề nghị Tòa án tiến hành xác minh thu thập tài liệu chứng cứ, sớm đƣa vụ án ra xét xử.

Bị đơn anh Lƣu Văn N đã đƣợc Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhƣng cố ý không đến Tòa án làm việc. Tòa án đã tống đạt các văn bản tố tụng cho ngƣời thân thích là bà Nguyễn Thị G (mẹ đẻ anh N và hiện sống chung nhà) nhận thay theo quy định.

Tại Công văn số 28760/QLXNC-P5 ngày 28/10/2023 của Cục quản lý xuất nhập cảnh- Bộ Công an: Theo thông tin trên cơ sở dữ liệu quốc gia về xuất nhập cảnh Lƣu Văn N, sinh năm 1975, CMND số xxxxxxxxx, hiện chƣa có thông tin xuất nhập cảnh.

Tại Bản tƣờng trình và đề nghị ngày 12/10/2023 của anh Lƣu Văn N thể hiện: Anh N và chị Nguyễn Thị H đƣợc tự do tìm hiểu, tự nguyện kết hôn và tổ chức đăng ký tại UBND phƣờng S ngày 23/02/2011, hai bên gia đình tổ chức lễ cƣới theo nghi thức truyền thống. Sau ngày cƣới chị Huế về nhà anh chung sống, vợ chồng hòa thuận hạnh phúc không có mâu thuẫn gì lớn. Sau đó chị H đi làm tại công ty ở Bắc Ninh thì vợ chồng mới nảy sinh mâu thuẫn, chị H đi làm ít khi ở nhà, khi về thì lại về nhà đẻ tại KDC P, phƣờng H ở. Vợ chồng sống ly thân từ năm 2018 đến nay. Nay chị H có đơn khởi kiện ly hôn. Xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt đƣợc nên anh đồng ý ly hôn với chị H; Về quan hệ con chung: Vợ chồng có 01 con chung là Lƣu Minh Q- sinh ngày 06/5/2012. Hiện con chung đang ở anh và gia đình bên nội tại Số nhà 10, ngõ 1, đƣờng B, KDC NT1, phƣờng S, thành phố Chí Linh, tỉnh Hải Dƣơng. Khi ly hôn anh xin đƣợc tiếp tục nuôi dƣỡng con chung còn cấp dƣỡng là tùy chị H vì thực tế từ năm 2018 đến nay con vẫn đang sống ổn định với anh; Về tài sản, công sức, vay nợ: Không yêu cầu Tòa án giải quyết. Vì điều kiện công việc nên anh đề nghị Tòa án gửi các văn bản tố tụng cho mẹ anh và đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt.

Ngƣời làm chứng bà Nguyễn Thị G (là mẹ đẻ anh Lƣu Văn N, mẹ chồng chị Nguyễn Thị H) cung cấp: Chị H và anh N đƣợc tự do tìm hiểu, tự nguyện kết hôn, tổ chức đăng ký tại UBND phƣờng S ngày 23/02/2011, hai bên gia đình tổ chức lễ cƣới theo nghi thức truyền thống. Sau ngày cƣới chị H về nhà bà chung sống cùng anh N. Quá trình chung sống cơ bản không có mâu thuẫn gì lớn, năm 2018 thì chị H đi làm công ty ở Bắc Ninh ít khi về nhà và chủ yếu về nhà đẻ tại KDC P, phƣờng H Tiến bỏ lại chồng con không quan tâm, chăm sóc.

Về con chung: Vợ chồng chị H, anh N có 01 con chung là Lƣu Minh Q- sinh ngày 06/5/2012. Hiện con cháu đang ở với anh N và gia đình bà tại KDC NT1, phƣờng S.

Tại Biên bản ghi lời khai của cháu Lƣu Minh Q, thể hiện: Cháu là Lƣu Minh Q- sinh ngày 06/5/2012, hiện nay cháu đang học lớp 6 Trƣờng THCS S. Cháu là con của bố Lƣu Văn N và mẹ Nguyễn Thị H. Hiện nay cháu đang ở với bố và bà nội tại Số nhà 10, ngõ 1, đƣờng B, KDC NT1, phƣờng S, thành phố Chí Linh, tỉnh Hải Dƣơng.

Nếu bố mẹ cháu ly hôn, không sống chung cùng nhau thì nguyện vọng của cháu muốn ở với bố và bà nội để đƣợc tiếp tục đi học tại trƣờng ở S. Nguyện vọng của cháu là hoàn toàn tự nguyện không ai ép buộc gì.

Tại phiên toà:

Nguyên đơn chị Nguyễn Thị H vắng mặt có đơn, đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt.

Bị đơn anh Lƣu Văn N vắng mặt không lý do.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Chí Linh bày tỏ quan điểm: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thƣ ký tòa án trong quá trình thu thập chứng cứ, tiến hành tố tụng tại phiên toà đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Các đƣơng sự chấp hành đúng các quy định của pháp luật khi tham gia tố tụng. Về đƣờng lối giải quyết đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng: Điều 56, Điều 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 4 Điều 147; điểm a, b khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228; Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự; Luật phí và lệ phí; điểm a khoản 5, điểm a khoản 6 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về án, lệ phí Tòa án. Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Nguyễn Thị H ly hôn anh Lƣu Văn N; Về quan hệ con chung: Giao con chung Lƣu Minh Q- sinh ngày 06/5/2012 cho anh Lƣu Văn N tiếp tục nuôi dƣỡng đến khi con đủ 18 tuổi thành niên hoặc có thay đổi khác. Ghi nhận chị Nguyễn Thị H cấp dƣỡng nuôi con chung đối với cháu Lƣu Minh Q- sinh ngày 06/5/2012 là 1.000.000đ/tháng kể từ tháng 10/2023 đến khi con đủ 18 tuổi thành niên hoặc có thay đổi khác và đƣợc quyền thăm nom con không ai đƣợc cản trở; Về tài sản, công sức, vay nợ chung: Không đặt ra việc xem xét, giải quyết; Về án phí: Buộc chị Nguyễn Thị H chịu 300.000đ án phí ly hôn và 300.000đ án phí cấp dƣỡng nuôi con.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, ý kiến của các đƣơng sự, ngƣời làm chứng đƣợc thẩm tra tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng:

1.1. Bị đơn anh Lƣu Văn N đăng ký hộ khẩu thƣờng trú và cƣ trú tại khu dân cƣ NT1, phƣờng S, thành phố Chí Linh, tỉnh Hải Dƣơng nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Chí Linh, tỉnh Hải Dƣơng theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

1.2. Nguyên đơn, bị đơn, ngƣời tham gia tố tụng khác đã đƣợc Tòa án tống đạt hợp lệ Thông báo thụ lý vụ án, Thông báo phiên họp việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; Quyết định đƣa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên tòa, Giấy triệu tập đến tham gia tố tụng tại phiên tòa hợp lệ.

Bị đơn anh Lƣu Văn N có mặt tại nơi cƣ trú, mặc dù đã đƣợc triệu tập hợp lệ lần thứ 2 nhƣng vẫn vắng mặt tại phiên tòa; Nguyên đơn chị Nguyễn Thị H có đơn xin xét xử vắng mặt. Do đó, căn cứ vào điểm a, b khoản 2 Điều 227; khoản 1, khoản 3 Điều 228; Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự xét xử vắng mặt các đƣơng sự.

Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị H và anh Lƣu Văn N đƣợc tự do tìm hiểu, tự nguyện kết hôn, tổ chức đăng ký tại UBND phƣờng S ngày 23/02/2011, hai bên gia đình tổ chức lễ cƣới theo nghi thức truyền thống nên là hôn nhân hợp pháp.

Xem xét về quá trình chung sống, mâu thuẫn giữa vợ chồng chị H và anh N thấy rằng: Từ khi kết hôn năm 2011, vợ chồng hòa thuận hạnh phúc đến năm 2018 mới nảy sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do bất đồng quan điểm sống, không tìm đƣợc tiếng nói chung. Chị H đi làm công ty xa nhà nhƣng khi về lại về nhà đẻ tại phƣờng H sống không quan tâm lo lắng cho anh N và con; anh N cũng không tìm đón chị H để vợ chồng đoàn tụ; khi chị H có đơn khởi kiện ly hôn tại Tòa án anh N cũng không đến làm việc, hòa giải có ý bỏ mặc tình trạng mâu thuẫn vợ chồng và có ý gây khó khăn cho việc giải quyết vụ án ly hôn với chị H của Tòa án mặc dù có quan điểm gửi cho Tòa án. Quan hệ hôn nhân giữa chị H và anh N tuy vẫn duy trì về mặt pháp lý nhƣng thực tế không thể hiện sự tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau; cùng nhau chia sẻ, thực hiện công việc gia đình đã vi phạm ngh a vụ vợ chồng; làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt đƣợc theo quy định tại Điều 19 Luật Hôn nhân và gia đình. Do vậy, cần căn cứ vào khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình xử chấp nhận yêu cầu của chị Nguyễn Thị H xin ly hôn với anh Lƣu Văn N.

Về con chung: Xác định cháu Lƣu Minh Q- sinh ngày 06/5/2012 là con chung của chị Nguyễn Thị H và anh Lƣu Văn N, hiện cháu Q đang sống ổn định cùng anh N và gia đình bên nội. Khi ly hôn nguyện vọng của chị H cũng muốn đƣợc nuôi dƣỡng con chung nhƣng còn tùy ý kiến của anh N và nguyện vọng của cháu Q; anh Lƣu Văn N vắng mặt, có quan điểm gửi cho Tòa án; cháu Lƣu Minh Q có nguyện vọng muốn ở cùng anh N và gia đình bên nội và thực tế đã và đang ở ổn định từ năm 2018 đến nay. Vì vậy, cần giao cho anh N tiếp tục nuôi dƣỡng con chung đến khi con đủ 18 tuổi thành niên hoặc có thay đổi khác. Về cấp dƣỡng nuôi con chung: Do anh Lƣu Văn N vắng mặt, có quan điểm gửi cho Tòa án và để đảm bảo cuộc sống sinh hoạt của cháu Q cũng nhƣ sự tự nguyện của chị H nên ghi nhận việc cấp dƣỡng nuôi con chung của chị H là 1.000.000đ/tháng kể từ tháng 10/2023 đến khi con đủ 18 tuổi thành niên hoặc có thay đổi khác. Chị H đƣợc quyền thăm nom, chăm sóc, nuôi dƣỡng con chung không ai đƣợc cản trở là phù hợp theo quy định tại Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình.

Về tài sản, vay nợ, công sức chung: Không yêu cầu giải quyết.

Về án phí: Chị Nguyễn Thị H là nguyên đơn và cấp dƣỡng nuôi con nên phải chịu án phí dân sự sơ thẩm ly hôn và án phí cấp dƣỡng theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Luật phí và lệ phí; điểm a khoản 5, điểm a khoản 6 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thƣờng vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

Từ các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ: Khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 4 Điều 147, điểm a, b khoản 2 Điều 227; khoản 1, khoản 3 Điều 228; Điều 238, Điều 271, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; Luật phí và lệ phí; điểm a khoản 5, điểm a khoản 6 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thƣờng vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

1. Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Nguyễn Thị H ly hôn anh Lƣu Văn N.

2. Về con chung: Giao con chung Lƣu Minh Q- sinh ngày 06/5/2012 cho anh Lƣu Văn N tiếp tục nuôi dƣỡng đến khi con đủ 18 tuổi thành niên hoặc có thay đổi khác. Ghi nhận chị Nguyễn Thị H cấp dƣỡng nuôi con chung đối với cháu Lƣu Minh Q là 1.000.000đ/tháng kể từ tháng 10/2023 đến khi con đủ 18 tuổi thành niên hoặc có thay đổi khác và đƣợc quyền thăm nom con không ai đƣợc cản trở.

Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án cho đến khi thi hành xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án chậm thanh toán theo mức lãi suất quy định tại Điều 357 và Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.

3. Về tài sản, công sức, vay nợ: Không xem xét giải quyết.

4. Về án phí: Nguyên đơn chị Nguyễn Thị H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm ly hôn 300.000đ và 300.000đ án phí cấp dƣỡng, đƣợc trừ vào số tiền 300.000đ tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số AA/2021/0003899, ngày 14/3/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Chí Linh, tỉnh Hải Dƣơng, chị H còn phải nộp tiếp 300.000đ.

5. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận đƣợc bản án hoặc ngày bản án đƣợc niêm yết theo quy định.

Trƣờng hợp bản án, quyết định này đƣợc thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì ngƣời đƣợc thi hành án dân sự, ngƣời phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cƣỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu yêu cầu thi hành án đƣợc thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.

Cỡ chữ