- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Bà Phan Ngọc Băng T xin ly hôn với ông Nguyễn Võ Hoàng T1"
- Tòa quyết gì? 1/ Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Phan Ngọc Băng T. Bà Phan Ngọc Băng T được ly hôn với ông Nguyễn Võ Hoàng T1.
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH AN GIANG Bản án số: 61/2023/HNGĐ-ST Ngày: 28 - 4 - 2023 V/v “Tranh chấp ly hôn, nuôi con” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN, TỈNH AN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Bùi Thị Lan
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Võ Thanh Tân
2. Ông Đặng Hữu Tấn
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Trương Phi - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: Ông Võ Ngọc Mến - Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 4 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 89/2023/TLST-HNGĐ ngày 27 tháng 02 năm 2023 về việc “Tranh chấp ly hôn, nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 103/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 17 tháng 3 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 124/2023/QĐST-HNGĐ ngày 12 tháng 4 năm 2023, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Bà Phan Ngọc Băng T, sinh năm 1998. Có đơn xin xét xử vắng mặt
Cư trú: Số D, khóm A, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang.
2. Bị đơn: Ông Nguyễn Võ Hoàng T1, sinh năm 1996. Vắng mặt
Cư trú: Số V đường G, khóm B, phường M1, thành phố L, tỉnh An Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo nội dung đơn khởi kiện và trong quá trình tố tụng nguyên đơn bà Phan Ngọc Băng T, trình bày:
+ Về quan hệ hôn nhân: Bà Phan Ngọc Băng T và ông Nguyễn Võ Hoàng T1 tự nguyện tìm hiểu sau đó tiến đến hôn nhân. Vợ chồng có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường M1, thành phố L, tỉnh An Giang theo Giấy chứng nhận kết hôn số 97 ngày 25 tháng 9 năm 2017. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống tại nhà cha mẹ bà T. Thời gian đầu sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hạnh phúc được 01 (một) năm thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do ông T1 có tính ghen vô cớ, thậm chí ghen với những người thân trong gia đình của bà T; ông T1 đã nhiều lần đánh bà T nhưng chỉ gây thương tích nhẹ. Sau đó ông T1 bỏ nhà bà T về sống với cha mẹ của ông T1 và hiện tại ông T1 đang sống chung với người phụ nữ khác. Vợ chồng đã ly thân từ năm 2018 đến nay. Nhận thấy cuộc sống vợ chồng không hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được nên bà T yêu cầu được ly hôn với ông T1.
+ Về con chung: Vợ chồng có 01 (một) con chung tên Nguyễn Hoàng Tố N, sinh ngày 09/12/2014. Hiện nay con chung đang sống chung với bà T. Khi ly hôn, bà T yêu cầu được nuôi con chung và không yêu cầu ông T1 cấp dưỡng nuôi con.
+ Về tài sản chung và nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bị đơn: Ông Nguyễn Võ Hoàng T1 không có văn bản trình bày ý kiến gửi Tòa án đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn; không tham dự phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; không tham dự phiên tòa do Tòa án triệu tập.
Kiểm sát viên phát biểu ý kiến:
Về tố tụng: Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án, là đảm bảo theo đúng trình tự quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Phan Ngọc Băng T.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, ý kiến của kiểm sát viên, Hội đồng xét xử sơ thẩm nhận định:
Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Bà T tranh chấp về ly hôn, nuôi con với ông T1, tranh chấp được quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự. Ông T1 có nơi cư trú tại thành phố L, tỉnh An Giang nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố L, tỉnh An Giang theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.
Về thủ tục tố tụng:
Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành biện pháp lấy lời khai làm rõ nguyên nhân phát sinh tranh chấp theo quy định tại khoản 3 Điều 208 Bộ luật tố tụng dân sự.
Ông T1 đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt không tham gia phiên tòa, bà T có đơn xin xét xử vắng mặt. Căn cứ khoản 2 Điều 227 và khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử xét xử vụ án vắng mặt bà T và ông T1.
Về nội dung vụ án:
Về quan hệ hôn nhân:
Bà T và ông T1 tự nguyện quen biết, tìm hiểu và tiến đến hôn nhân, có đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân phường M1, thành phố L, tỉnh An Giang cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 97 ngày 25 tháng 9 năm 2017. Đây là hôn nhân hợp pháp theo quy định tại khoản 1 Điều 3 Luật hôn nhân và gia đình. Bà T khởi kiện yêu cầu được ly hôn với ông T1. Bà T cho rằng trong quá trình chung sống vợ chồng phát sinh mâu thuẫn do ông T1 có tính ghen vô cớ, thậm chí ghen với những người thân trong gia đình của bà T; ông T1 đã nhiều lần đánh bà T gây thương tích nhẹ; vợ chồng đã ly thân nhau từ năm 2018 đến nay và hiện tại ông T1 đang sống chung với người phụ nữ khác.
Hội đồng xét xử xét: Trong suốt quá trình giải quyết vụ án, ông T1 không có văn bản trình bày ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của bà T, không tham dự các phiên hòa giải cũng như không tham dự các phiên tòa. Điều này thể hiện ông T1 không muốn đoàn tụ gia đình. Từ đó cho thấy, mâu thuẫn vợ chồng đã rơi vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, các bên đã vi phạm nghiêm trọng quyền và nghĩa vụ của vợ chồng theo Điều 19 Luật hôn nhân và gia đình. Do đó, yêu cầu khởi kiện của bà T là có căn cứ, phù hợp với Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về con chung: Bà T và ông T1 có 01 (một) con chung tên Nguyễn Hoàng Tố N, sinh ngày 09/12/2014. Hiện nay con chung đang sống chung với bà T. Khi ly hôn, bà T yêu cầu được nuôi con chung và không yêu cầu ông T1 cấp dưỡng nuôi con.
Xét thấy, cháu Nguyễn Hoàng Tố N chưa thành niên, bà T có công việc làm ổn định đủ điều kiện để nuôi dưỡng cháu N. Ông T1 không có ý kiến về yêu cầu được nuôi con chung. Do đó, để đảm bảo ổn định cuộc sống cho cháu N, Hội đồng xét xử quyết định giao cháu N cho bà T trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục theo quy định tại Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình.
Bà T cùng các thành viên gia đình không được cản trở ông T1 trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con. Trường hợp ông T1 lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung thì bà T có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của ông T1.
Bà T và ông T1 có quyền thỏa thuận về việc thay đổi người trực tiếp nuôi con phù hợp với lợi ích của con theo quy định tại Điều 83, Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình.
Về cấp dưỡng: Bà T không yêu cầu ông T1 cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
Về tài sản chung và nợ chung: Bà T không yêu cầu Tòa án giải quyết và ông T1 cũng không có ý kiến về tài sản chung và nợ chung của vợ chồng nên Hội đồng xét xử không xem xét. Nếu sau này các bên có phát sinh tranh chấp thì sẽ được giải quyết bằng một vụ án khác.
Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Bà T có nghĩa vụ nộp án phí theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
- Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 235, Điều 266, Điều 271, Điều 273, Điều 278 và Điều 280 của Bộ luật tố tụng dân sự;
- Điều 19, khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 Luật hôn nhân gia đình năm 2014;
- Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1/ Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Phan Ngọc Băng T. Bà Phan Ngọc Băng T được ly hôn với ông Nguyễn Võ Hoàng T1.
Giấy chứng nhận kết hôn số 97 do Ủy ban nhân dân phường M1, thành phố L, tỉnh An Giang cấp cho bà Phan Ngọc Băng T và ông Nguyễn Võ Hoàng T1 ngày 25 tháng 9 năm 2017 hết hiệu lực kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật.
2/ Về con chung: Bà Phan Ngọc Băng T được quyền trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung tên Nguyễn Hoàng Tố N, sinh ngày 09/12/2014.
Bà T cùng các thành viên gia đình không được cản trở ông T1 trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con. Trường hợp ông T1 lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung thì bà T có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của ông T1.
Bà T và ông T1 có quyền thỏa thuận về việc thay đổi người trực tiếp nuôi con phù hợp với lợi ích của con.
3/ Về cấp dưỡng: Không xem xét.
4/ Về tài sản chung, nợ chung: Không xem xét.
5/ Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Bà Phan Ngọc Băng T phải nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm, được khấu trừ vào 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0001368 ngày 24 tháng 02 năm 2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố L, tỉnh An Giang.
6/ Về quyền kháng cáo: Bà Phan Ngọc Băng T và ông Nguyễn Võ Hoàng T1 được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án niêm yết theo quy định pháp luật.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án dân sự, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, Điều 7, Điều 7a và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - Các đương sự; - VKSND TP. L; - TAND tỉnh An Giang; - THADS TP. L; - UBND phường M1; - Lưu hồ sơ; - Lưu văn phòng. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Bùi Thị Lan |