vanban.org

Bản án 61/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

TAND tỉnh Kiên Giang Tuyên án 17/07/2023 Hôn nhân và gia đình Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Vũ Phan Du L.

Về quan hệ hôn nhân: Chị Vũ Phan Du L được L hôn với anh Nguyễn Khoa N. Về con, tài sản và nợ chung: Các đương sự đều xác định không có, không yêu cầu giải quyết nên không xem xét. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "L VÀ N"
  • Tòa quyết gì? Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Vũ Phan Du L.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự và Nghị; Điều 477 Bộ luật Tố tụng dân sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH KIÊN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 61/2023/HNGĐ-ST
Ngày 17- 7 - 2023
“V/v L hôn”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT N

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KIÊN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:

Bà Trần Thị Chọn

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Danh Hoàng Duyên

Ông Đỗ Xuân Vinh

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Cẩm Tiên – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Kiên Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Kiên Giang tham gia phiên tòa: Thuộc trường hợp Viện kiểm sát không tham gia.

Ngày 17 tháng 7 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Kiên Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 57/2023/HNGĐST ngày 08 tháng 6 năm 2023 về việc “L hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 33/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 06 tháng 7 năm 2023, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Vũ Phan Du L, sinh ngày 01/9/1998. Địa chỉ: Số 507, ấp TH A, xã THB, huyện TH, tỉnh Kiên Giang.

- Bị đơn: Anh NGUYEN KHOA N (Nguyễn Khoa N), sinh ngày 04/4/1991. Địa chỉ: 16 Elmwood Drive Milltown, NJ 08850, Hoa Kỳ.

(Chị L và anh Khoa N đều có đơn xin vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Theo đơn khởi kiện đề ngày 09/3/2023 chị Vũ Phan Du L trình bày yêu cầu khởi kiện như sau:

Năm 2018 chị và anh Nguyễn Khoa N quen biết nhau qua người thân giới thiệu, quá trình tìm hiểu anh chị nảy sinh tình cảm và tiến tới hôn nhân, đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân huyện TH, Kiên Giang theo giấy Chứng nhận đăng ký kết hôn số 16 ngày 28/02/2019. Sau kết hôn anh chị vẫn thường xuyên liên lạc qua điện thoại, nhưng sau đó Covid-19 xuất hiện anh chị ít liên lạc, lý do anh Khoa N bận công việc và giữa hai bên bất đồng ngôn ngữ nên anh chị không còn tình cảm với nhau nữa, nay yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Kiên Giang giải quyết cho L hôn với anh Nguyễn Khoa N.

Về con, tài sản và nợ chung: Không có, không yêu cầu giải quyết.

- Bị đơn anh Nguyễn Khoa N có ý kiến: Về quan hệ hôn nhân, con chung, tài sản và nợ đúng như chị Vũ Phan Du L trình bày. Với yêu cầu của chị, anh cũng đồng ý và không có ý kiến gì khác, yêu cầu giải quyết vắng mặt anh do không thu xếp được công việc nên không tham gia tố tụng tại tòa án.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về tố tụng: Nguyên đơn chị Vũ Phan Du L và bị đơn anh Nguyễn Khoa N đều có đơn xin vắng mặt tại phiên tòa hợp lệ. Căn cứ Điều 228, Điều 238, Điều 477 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử thống nhất xử vắng mặt các đương sự.

Về nội dung vụ án:

Quan hệ hôn nhân giữa chị Vũ Phan Du L và anh Nguyễn Khoa N là hôn nhân hợp pháp, thực hiện đầy đủ các điều kiện kết hôn và đăng ký kết hôn theo quy định Luật Hôn nhân và gia đình, đã được Ủy ban nhân dân huyện TH, tỉnh Kiên Giang cấp giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 16 ngày 28/02/2019.

Về nguyên nhân L hôn anh chị đều xác định, sau khi kết hôn chỉ liên lạc với nhau thường xuyên được thời gian đầu, sau đó dịch bệnh Covid-19 anh chị ít liên lạc với nhau, phần thì anh N bận công việc phần thì ngôn ngữ bất đồng từ đó hai bên không còn tình cảm với nhau nữa.

Hội đồng xét xử xét thấy quan hệ hôn nhân giữa chị Vũ Phan Du L và anh Nguyễn Khoa N hai bên đã không còn yêu thương, quan tâm, chăm sóc, chia sẻ giúp đỡ lẫn nhau để xây dựng gia đình hạnh phúc. Sau khi kết hôn năm 2019 anh chị ít liên lạc với nhau khi có dịch bệnh Covid-19. Hiện tại chị L xác định không còn tình cảm vợ chồng với anh Khoa N. Như vậy, cho thấy đời sống chung vợ chồng của anh chị không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó qua thảo luận nghị án, Hội đồng xét xử thống nhất chấp nhận yêu cầu xin L hôn của chị Vũ Phan Du L đối với anh Nguyễn Khoa N.

Về con, tài sản và nợ chung: Anh chị đều xác định không có, không yêu cầu giải quyết nên không xem xét.

Án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Căn cứ khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, nguyên đơn chị L phải chịu án phí theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng Điều 28, khoản 1 Điều 37, khoản 4 Điều 147, Điều 153, Điều 228, Điều 238, điểm d khoản 1 Điều 469, điểm a khoản 5 Điều 477, Điều 479 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Vũ Phan Du L.

1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Vũ Phan Du L được L hôn với anh Nguyễn Khoa N.

2. Về con, tài sản và nợ chung: Các đương sự đều xác định không có, không yêu cầu giải quyết nên không xem xét.

3. Án phí sơ thẩm: Chị Vũ Phan Du L có nghĩa vụ nộp 300.000đ án phí hôn nhân sơ thẩm nhưng được khấu trừ số tiền tạm ứng án phí theo biên lai thu số 0009770 ngày 07/6/2023 của Cục Thi hành án dân sự Kiên Giang.

4. Quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự sửa đổi, bổ sung thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và điều 9 Luật thi hành án dân sự sửa đổi, bổ sung; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự sửa đổi, bổ sung./.

Cỡ chữ