vanban.org

Bản án 61/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

TAND tỉnh Đồng Nai Tuyên án 30/05/2023 Hôn nhân và gia đình Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Hà Vũ P với ông Wen Yi M.

Về quan hệ hôn nhân: Tuyên bố không công nhận bà Hà Vũ P và ông Wen Yi M là vợ chồng. Về con chung: Giao cháu Ôn Hoa T, sinh ngày 07/01/2013 cho bà Hà Vũ P trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Tạm thời bà P không yêu cầu ông Wen Yi M cấp dưỡng nuôi con. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Hà Vũ P - Wen Yi M"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Hà Vũ P với ông Wen Yi M.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Nghị quyết số 01/2003/NQ-HĐTP Hướng dẫn áp dụng pháp luật tr…; Điều 123 Luật Hôn nhân và gia đình
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 61/2023/HNGĐ -ST
Ngày: 30/5/2023
V/v: “Yêu cầu không công nhận
vợ chồng, tranh chấp nuôi con”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Ký

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Lê Ngọc Sương

Bà Lê Thị Điền

Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Tuấn Anh – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Loan – Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 5 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 48/2023/TLST-HNGĐ ngày 30 tháng 3 năm 2023 về việc “Yêu cầu không công nhận vợ chồng; tranh chấp về nuôi con chung” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 47/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 10 tháng 5 năm 2023, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Hà Vũ P, sinh năm 1991.

Địa chỉ: Ấp Tân Lập 1, xã C, huyện T, tỉnh Đồng Nai;

- Bị đơn: Ông Wen Yi M (Ôn Dĩ D), sinh năm 1978

Địa chỉ: Tổ Lê Thụ Hạ, thôn Bắc Pha Đầu, xã Đông Thiều, huyện Ninh Đô, tỉnh Giang Tây - Trung Quốc. Hiện đang chấp hành án tại Phân trại 1 - Trại giam Z30D, thị trấn Tân Minh, huyện Hàm Tân, tỉnh Bình Thuận.

Người phiên dịch tiếng Trung Quốc: Ông Trìu A Nhì, sinh năm 1984, địa chỉ: Ấp Tân Lập, xã C, huyện T, tỉnh Đồng Nai.

(Bà P, ông Wen Yi M xin vắng mặt, ông Trìu A Nhì Tòa án không triệu tập)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện, bản tự khai, nguyên đơn bà Hà Vũ P trình bày:

Bà và ông Wen Yi M (Ôn Dĩ D) kết hôn năm 2011, có đăng ký kết hôn tại Sở Dân chính tỉnh Giang Tây - Trung Quốc, hôn nhân tự nguyện nhưng bà chưa làm thủ tục ghi chú vào sổ đăng ký tại Việt Nam. Sau khi kết hôn, vợ chồng bà chung sống ở Trung Quốc. Vợ chồng bà thường xuyên bất đồng về ngôn ngữ và quan điểm sống. Ngày 16/01/2015, bà P xin gia đình chồng đưa con về Việt Nam thăm cha mẹ. Sau đó vì thấy cuộc sống ở Trung Quốc không thích hợp nên bà P không trở lại Trung Quốc nữa. Ngày 28/01/2016, ông Wen Yi M (Ôn Dĩ D) đến nhà cha mẹ ruột bà đòi đón bà trở về Trung Quốc nên hai bên xảy ra mâu thuẫn. Ông Wen Yi M (Ôn Dĩ D) đã gây thương tích cho 05 người trong gia đình bà. Nay mâu thuẫn trầm trọng, tình cảm không còn nên bà yêu cầu Tòa án tuyên bố không công nhận bà và ông Wen Yi M là vợ chồng.

Về con chung: Có 01 con chung tên Ôn Hoa T, sinh ngày 07/01/2013. Hiện nay cháu Ôn Hoa T do bà P chăm sóc, nuôi dưỡng nên bà P yêu cầu được nuôi con. Bà P không yêu cầu ông Wen Yi M cấp dưỡng nuôi con.

+ Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu Tòa xem xét giải quyết.

+ Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa xem xét giải quyết.

Tại bản tự khai, biên bản làm việc, bị đơn ông Wen Yi M (Ôn Dĩ D) trình bày:

Ông đồng ý yêu cầu xin ly hôn của bà Hà Vũ P. Về con chung: Có 01 con chung tên Ôn Hoa T, sinh ngày 07/01/2013. Hiện nay cháu Ôn Hoa T do bà P chăm sóc, nuôi dưỡng nên ông đồng ý giao con cho bà P. Ông không có ý kiến gì về việc bà P không yêu cầu ông cấp dưỡng nuôi con, ông đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật. Về tài sản chung, về nợ chung: Không có.

Quan điểm đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa:

Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán và Hội đồng xét xử đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Về yêu cầu khởi kiện của bà P: Bà P xác nhận vợ chồng mâu thuẫn trầm trọng, hôn nhân không còn hạnh phúc, ông Wen Yi M đồng ý ly hôn và đồng ý giao con cho bà P nuôi dưỡng. Do vậy, cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà P và buộc bà P phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về tố tụng: Bà Hà Vũ P và ông Wen Yi M có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, Căn cứ các Điều 227, 228, 238 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án xét xử vắng mặt các đương sự.

Về quan hệ hôn nhân: Bà P và ông Wen Yi M (Ôn Dĩ D) kết hôn năm 2011, có đăng ký kết hôn tại Sở Dân chính tỉnh Giang Tây - Trung Quốc, hôn nhân tự nguyện. Tuy nhiên, sau khi kết hôn, bà P chưa làm thủ tục ghi chú vào sổ đăng ký tại Việt Nam theo quy định tại Điều 34 Nghị định 123/2015/NĐCP ngày 15/11/2015 của Chính phủ. Bà P xin ly hôn, Tòa án đã yêu cầu làm thủ tục ghi chú vào sổ đăng ký tại Việt Nam nhưng bà P không thực hiện được nên quan hệ hôn nhân giữa bà P và ông Wen Yi M chưa được công nhận tại Việt Nam. Nay bà P yêu cầu Tòa án tuyên bố không công nhận bà và ông Wen Yi M là vợ chồng. Bà P trình bày, vợ chồng bà thường xuyên bất đồng về ngôn ngữ và quan điểm sống, ông Wen Yi M đến nhà cha mẹ ruột bà P và đòi đón bà P trở về Trung Quốc nên hai bên xảy ra mâu thuẫn, ông Wen Yin Min đã gây thương tích cho 05 người trong gia đình bà P. Tại bản tự khai và tại biên bản làm việc ngày 10/5/2023, ông Wen Yi M cũng đồng ý yêu cầu xin ly hôn của bà Hà Vũ P. Như vậy, hội đồng xét xử nhận thấy, mâu thuẫn giữa bà P và ông Wen Yi M đã trầm trọng không còn hạnh phúc nên cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà P, tuyên bố không công nhận bà Hà Vũ P và ông Wen Yi M là vợ chồng.

Về con chung: Bà P và ông Wen Yi M có 01 con chung tên Ôn Hoa T, sinh ngày 07/01/2013. Hiện nay cháu Ôn Hoa T cho bà P nuôi dưỡng nên bà P yêu cầu được nuôi con. Ông Wen Yi M cũng đồng ý giao con cho bà P nên cần chấp nhận yêu cầu của bà P, giao cháu Ôn Hoa T cho bà P trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Tạm thời bà P không yêu cầu ông Wen Yi M cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung, nợ chung: Bà P và ông Wen Yi M khai không có, Tòa án không xem xét giải quyết.

[5[ Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai phù hợp với chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, nên chấp nhận.

Về án phí: Bà Hà Vũ P phải chịu 300.000đ tiền án phí sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 28, 37, 147, 227, 228, 238, 469, Điều 477, Điều 479 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Áp dụng các Điều 51, 56, 123, 127, 131 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; Nghị quyết số 01/2003/NQ - HĐTP ngày 16/4/2003 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Hà Vũ P với ông Wen Yi M.

1. Về quan hệ hôn nhân: Tuyên bố không công nhận bà Hà Vũ P và ông Wen Yi M là vợ chồng.

2. Về con chung: Giao cháu Ôn Hoa T, sinh ngày 07/01/2013 cho bà Hà Vũ P trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Tạm thời bà P không yêu cầu ông Wen Yi M cấp dưỡng nuôi con.

Vì không trực tiếp nuôi con nên ông Wen Yi M có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở. Vì quyền lợi của con, khi cần thiết các bên có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con và vấn đề cấp dưỡng nuôi con.

3. Về tài sản chung: Các đương sự trình bày không có, Tòa án không xem xét giải quyết.

4. Về nợ chung: Các đương sự trình bày không có, Tòa án không xem xét giải quyết.

5. Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà Hà Vũ P phải chịu 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân gia đình, được trừ vào số tiền 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) bà P đã nộp tại biên lai thu tiền số 0000735 ngày 27/3/2023 của Cục thi hành án dân sự tỉnh Đồng Nai. Bà P đã nộp xong.

6. Bà Hà Vũ P và ông Wen Yi M có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.

Cỡ chữ