vanban.org

Bản án 61/2023/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng vay tài sản

TAND TP. PLeiku, tỉnh Gia Lai Tuyên án 14/07/2023 Dân sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Đình chỉ xét xử đối với yêu cầu đòi nợ lãi của bà Sou Thị M, nếu có tranh chấp thì có quyền khởi kiện lại theo quy định của pháp luật.

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Sou Thị M về việc buộc anh Lê Khắc V trả nợ vay: Buộc anh Lê Khắc V phải trả cho bà Sou Thị M số tiền là 300.000.000 đồng nợ gốc. Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến k… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "Sou Thị M khởi kiện Lê Khắc V"
  • Tòa quyết gì? Đình chỉ xét xử đối với yêu cầu đòi nợ lãi của bà Sou Thị M, nếu có tranh chấp thì có quyền khởi kiện lại theo quy định của pháp luật.
  • Căn cứ chính? Điều 217 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 244 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ P
TỈNH GIA LAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 61/2023/DS-ST
Ngày 14 tháng 7 năm 2023
V/v Tranh chấp hợp đồng dân sự
vay tài sản

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ P- TỈNH GIA LAI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hồng Thắm

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Quách Đình Hoằng

2. Bà Doãn Thị Lệ

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mai Hải - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố P, tỉnh Gia Lai.

- Đại diện viện kiểm sát nhân dân thành phố P, tỉnh Gia Lai tham gia phiên tòa: Bà Cao Thảo Nga - Kiểm sát viên.

Ngày 14 tháng 7 năm 2023, tại Toà án nhân dân thành phố P, tỉnh Gia Lai xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 169/2023/TLST-DS ngày 22 tháng 5 năm 2023 về việc “Tranh chấp hợp đồng dân sự vay tài sản”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 80/2023/QĐXXST-DS ngày 26 tháng 6 năm 2023 giữa các đương sự:

1- Nguyên đơn: Bà Sou Thị M, sinh năm 1958. Địa chỉ: 661 P V Đ, Tổ 01, phường Đ Đ, thành phố P, tỉnh Gia Lai. (Có mặt)

2- Bị đơn: Anh Lê Khắc V, sinh năm 1984. Địa chỉ: 172/12/ T C, thành phố P, tỉnh Gia Lai. Hiện đang bị tạm giam tại Trại Tạm Giam, Công an tỉnh Gia Lai. (Vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện đề ngày 22/5/2023, quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn là bà Sou Thị M trình bày:

Giữa bà và anh Lê Khắc V có quen biết nhau, ngày 21/9/2021 bà có cho anh Lê Khắc V vay số tiền 1.100.000.000 đồng, mục đích là để anh V đáo hạn ngân hàng, đến ngày 27/9/2021 anh V viết giấy mượn tiền còn nợ lại bà số tiền 300.000.000 đồng, số tiền nợ 800.000.000 đồng trước đó vay anh V đã trả bằng cách ủy quyền bìa đỏ cho bà. Theo Giấy mượn tiền ngày 27/9/2021 anh V hẹn bà sẽ trả số tiền 300.000.000 đồng trong thời hạn 30 ngày, lãi suất hai bên thỏa thuận. Tuy nhiên hết thời hạn vay số tiền trên anh V không trả tiền cho bà như đã cam kết mặc dù bà đã đòi nhiều lần.

Bà Sou Thị M khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết buộc anh Lê Khắc V phải trả cho bà số tiền là 300.000.000 đồng tiền nợ gốc và tiền nợ lãi cho đến khi giải quyết xong vụ kiện, lãi tạm tính đến ngày 22/5/2023 là 49.600.000 đồng.

Tại phiên tòa nguyên đơn là bà Sou Thị M thay đổi một phần nội dung khởi kiện, nguyên đơn chỉ yêu cầu anh Lê Khắc V trả cho bà số tiền 300.000.000 đồng nợ gốc và rút yêu cầu đòi anh V trả lãi của số tiền nợ gốc, ngoài ra nguyên đơn không có yêu cầu gì khác.

Đối với bị đơn anh Lê Khắc V:

Tòa án đã tiến hành đầy đủ các thủ tục để triệu tập hợp lệ đối với anh Lê Khắc V. Tuy nhiên, anh Lê Khắc V không tham gia tố tụng, ngày 08/6/2023 anh Lê Khắc V có đơn xin xét xử vắng mặt. Do vậy, anh Lê Khắc V không có lời khai tại hồ sơ và không có lời khai tại phiên tòa.

Ý kiến của Kiểm sát viên phát biểu tại phiên tòa:

Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Từ khi thụ lý vụ án đến khi xét xử, Thẩm phán đã chấp hành đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự; tại phiên tòa, Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng quy định của pháp luật tố tụng; về tuân theo pháp luật của Thư ký phiên tòa: Đảm bảo theo quy định tại Điều 51 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Việc tuân theo pháp luật tố tụng của người tham gia tố tụng: Nguyên đơn thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng. Bị đơn không thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng: Tòa án đã triệu tập hợp lệ nhưng bị đơn vắng mặt tại các phiên họp và phiên hòa giải, vắng mặt tại phiên tòa.

Về nội dung vụ án và hướng giải quyết: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và trình bày của đương sự tại phiên tòa, lời trình bày của đương sự, ý kiến của Kiểm sát viên và kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về quyền khởi kiện và thẩm quyền giải quyết:

Về quyền khởi kiện và thẩm quyền giải quyết: Bà Sou Thị M khởi kiện tranh chấp hợp đồng dân sự vay tài sản đối với anh Lê Khắc V.

Đơn khởi kiện của bà Sou Thị M được làm theo quy định tại Điều 189 của Bộ luật Tố tụng dân sự, nên được Tòa án thụ lý, xem xét. Anh Lê Khắc V cư trú tại thành phố P, tỉnh Gia Lai, nên căn cứ vào khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố P, tỉnh Gia Lai.

Về việc xét xử vắng mặt bị đơn:

Quá trình giải quyết vụ án, bị đơn là anh Lê Khắc V có đơn xin xét xử vắng mặt; anh Lê Khắc V không tham gia hòa giải; không tham dự phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ; không tham gia phiên tòa. Vì vậy, căn cứ khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt đối với bị đơn.

Về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:

Ngày 21/9/2021 bà Sou Thị M có cho anh Lê Khắc V vay số tiền 1.100.000.000 đồng, mục đích là để anh V đáo hạn ngân hàng, đến ngày 27/9/2021 anh V viết giấy mượn tiền còn nợ lại bà số tiền 300.000.000 đồng, số tiền nợ 800.000.000 đồng trước đó vay anh V đã trả bằng cách ủy quyền bìa đỏ cho bà. Theo Giấy mượn tiền ngày 27/9/2021 anh V hẹn bà sẽ trả số tiền 300.000.000 đồng trong thời hạn 30 ngày, lãi suất hai bên thỏa thuận. Tuy nhiên hết thời hạn vay số tiền trên anh V không trả tiền cho bà như đã cam kết mặc dù bà đã đòi nhiều lần. Bà Sou Thị M khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết buộc anh Lê Khắc V phải trả cho bà số tiền là 300.000.000 đồng tiền nợ gốc và tiền nợ lãi cho đến khi giải quyết xong vụ kiện, lãi tạm tính đến ngày 22/5/2023 là 49.600.000 đồng.

Tại phiên tòa nguyên đơn là bà Sou Thị M thay đổi một phần nội dung khởi kiện, nguyên đơn chỉ yêu cầu anh Lê Khắc V trả cho bà số tiền 300.000.000 đồng nợ gốc và rút yêu cầu đòi anh V trả lãi của số tiền nợ gốc.

Xét việc rút yêu cầu về tính lãi nói trên là hoàn toàn tự nguyện, căn cứ điểm c khoản 1 Điều 217, khoản 2 Điều 244 Bộ luật Tố tụng dân sự Hội đồng xét xử đình chỉ xét xử đối với yêu cầu của bà M về việc đòi nợ lãi, nếu sau này bà M khởi kiện lại và thời hiệu khởi kiện vẫn còn thì sẽ giải quyết bằng vụ án khác. Bà M không phải chịu án phí đối với yêu cầu đã đình chỉ xét xử.

Xét, giao dịch vay tiền giữa người cho vay là bà Sou Thị M với bên vay là anh Lê Khắc V là giao dịch dân sự được giao kết trên cơ sở tự nguyện giữa các bên và phù hợp với các quy định của pháp luật, nên có hiệu lực và làm phát sinh quyền, nghĩa vụ của các bên.

Bà M đã cung cấp chứng cứ là “Giấy mượn tiền” có nội dung thể hiện ngày 27/9/2021 có cho anh V vay số tiền 300.000.000 đồng, thời hạn vay 30 ngày. Bà M cho rằng mẫu giấy mượn tiền là của bà M còn chữ viết bút mực là chữ viết của anh V, tại mục người mượn tiền có họ tên chữ ký của anh Lê Khắc V.

Mặc khác từ khi thụ lý vụ án Tòa án đã thực hiện đầy đủ thủ tục cấp, tống đạt, thông báo văn bản tố tụng theo trình tự giải quyết vụ án dân sự của Bộ luật tố tụng dân sự, nhưng anh V không có ý kiến trình bày về yêu cầu khởi kiện của bà M, điều này thể hiện anh V đã từ bỏ quyền và nghĩa vụ tố tụng của mình. Xét thấy yêu cầu khởi kiện của bà M là có căn cứ, nên được Hội đồng xét xử chấp nhận và buộc anh V phải trả cho bà M khoản tiền nợ 300.000.000 đồng tiền gốc.

Xét ý kiến của Đại diện viện kiểm sát phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

Về án phí: Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận, nên bị đơn phải chịu toàn bộ tiền án phí dân sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ các Điều 5, Điều 26, 35, 39,70,72, Điều 144, khoản 1 Điều 147, Điều 217, Điều 227, Điều 228, Điều 232, Điều 234, Điều 235, Điều 244, Điều 266, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Áp dụng các Điều 274, 275, 280, 463, 465, 466, Điều 468, Điều 469 của Bộ luật Dân sự;

Áp dụng khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Tuyên xử:

1. Đình chỉ xét xử đối với yêu cầu đòi nợ lãi của bà Sou Thị M, nếu có tranh chấp thì có quyền khởi kiện lại theo quy định của pháp luật.

2. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Sou Thị M về việc buộc anh Lê Khắc V trả nợ vay: Buộc anh Lê Khắc V phải trả cho bà Sou Thị M số tiền là 300.000.000 đồng nợ gốc.

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 468 của Bộ luật Dân sự.

3. Về án phí dân sự sơ thẩm: Buộc anh Lê Khắc V phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm là 15.000.000 đồng.

Bà Sou Thị M được nhận lại số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 8.740.000 đồng theo biên lai thu tạm ứng phí, lệ phí Tòa án số 0000326 ngày 22/5/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố P, tỉnh Gia Lai.

4. Về quyền kháng cáo: Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, nguyên đơn có quyền kháng cáo để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai xét xử phúc thẩm. Riêng bị đơn vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ