- Tranh chấp gì? án hình sự — "Bị cáo PHN - vi phạm quy định về tham gia gia thông đường bộ - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luật sửa…"
- Tòa quyết gì? * Căn cứ: Điểm c khoản 2 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1, khoản 2, khoản 5 Điều 65 của Bộ luật hình sự.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 65 Bộ luật Hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ MỸ HÀO TỈNH HƯNG YÊN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 61/2022/HSST. Ngày: 11/11/2022. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ MỸ HÀO - TỈNH HƯNG YÊN
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Trương Thế Dương.
- Các Hội thẩm nhân dân:
1- Ông Phan Xuân Hùng.
2- Ông Bùi Văn Động.
Thư ký phiên toà: Ông Phạm Đăng Toàn - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Mỹ Hào, tỉnh Hưng Yên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Mỹ Hào, tỉnh Hưng Yên tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Tuấn Chung - Kiểm sát viên.
Ngày 11/11/2022, tại trụ sở Toà án nhân dân thị xã Mỹ Hào, tỉnh Hưng Yên mở phiên toà xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 55/2022/TLST-HS ngày 24/10/2022, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 59/2022/QĐXXST-HS ngày 31/10/2022 đối với bị cáo:
* Phạm Hồng N, Sinh năm 1975, tại xã Đ, huyện Â, tỉnh H; Nơi cư trú: thôn Đ, xã Đ1, huyện Â, tỉnh H; Nghề nghiệp: Làm ruộng; Trình độ học vấn: 07/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Phạm Đức T và bà: Bùi Thị G; Có vợ: Nguyễn Thị H và có 03 con; Tiền án, tiền sự: Chưa có;
Bị cáo N hiện đang được tại ngoại tại xã Đ1, huyện Â, tỉnh H (Có mặt tại phiên tòa).
* Người bị hại: Ông Trần Văn T, Sinh năm 1969 (Đã chết).
+ Người đại diện hợp pháp của người bị hại: Ông Trần Văn A, Sinh năm 1966 (Vắng mặt). Đều có địa chỉ: thôn T, xã H, thị xã M, tỉnh H.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Chị Nguyễn Thị H - Sinh năm 1980 (Có mặt). Địa chỉ: thôn Đ, xã Đ1, huyện Â, tỉnh H.
* Người làm chứng:
1- Ông Trần Văn H - Sinh năm 1962 (Vắng mặt).
2- Anh Phạm Đình H1 - Sinh năm 1996 (Vắng mặt). Đều có địa chỉ: thôn T, xã H, thị xã M, tỉnh H.
3- Anh Nguyễn Quang H2 - Sinh năm 1974 (Vắng mặt). Địa chỉ: tổ dân phố T, phường D, thị xã M, tỉnh H.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Phạm Hồng N, sinh năm 1975 ở thôn Đ, xã Đ1, huyện Â, tỉnh H có giấy phép lái xe mô tô hợp lệ (số R655936 do Sở giao thông vận tải tỉnh Hưng Yên cấp ngày 11/5/2004). Rạng sáng ngày 15/4/2022 N một mình điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại xe Wave anpha màu đỏ đen, biển số 89B1-176.29 chở rau từ nhà ở thôn Đ đến chợ Thứa, thuộc phường Dị Sử, thị xã Mỹ Hào để bán. Khoảng 03 giờ 00 phút cùng ngày, N điều khiển xe đi qua cầu Thuần Xuyên trên đường Phạm Ngũ Lão chiều từ cầu Thuần Xuyên ra quốc lộ 5A. Đến khoảng 3 giờ 15 phút cùng ngày, N đi đến Km 12+376,7 đường Phạm Ngũ Lão, thuộc thôn Thuần Xuyên, xã Hưng Long, thị xã Mỹ Hào (tại đây có biển cảnh báo nguy hiểm giao nhau với đường không ưu tiên), lúc này trời tối, hai bên đường không có đèn, tầm nhìn bị hạn chế, không chú ý quan sát N đã điều khiển xe mô tô biển số 89B1-176.29 đâm vào ông Trần Văn T, sinh năm 1968 ở thôn Thuần Xuyên, xã Hưng Long đang đi bộ phía trước cùng chiều làm ông T bị hất văng ngã ra đường. Sợ phải chịu trách nhiệm về hành vi của mình, N đã không dừng xe lại cứu chữa người bị nạn mà bỏ trốn khỏi hiện trường. Hậu quả ông T bị thương phải đi bệnh viện cấp cứu và tử vong cùng ngày. Đến khoảng 4 giờ sáng cùng ngày, Nhân gọi điện cho vợ là chị Nguyễn Thị H, sinh năm 1980 thông báo là gây tai nạn và bảo chị H lên xem như thế nào. Khoảng 7 giờ 30 phút cùng ngày chị H đến địa điểm xảy ra tai nạn thấy hiện trường không còn gì, không có cảnh sát giao thông ở đó và báo lại cho N. Khi đang bán rau ở chợ Thứa N biết tin bị hại đã chết, nên khoảng 9 giờ 30 phút cùng ngày N đến Cơ quan Công an thị xã Mỹ Hào đầu thú và khai nhận toàn bộ nội dung sự việc.
Khám nghiệm hiện trường xác định: Hiện trường xảy ra tai nạn tại Km12+376,7 đường Phạm Ngũ Lão thuộc địa phận thôn Thuần Xuyên, xã Hưng Long, thị xã Mỹ Hào, tỉnh Hưng Yên. Mặt đường được trải nhựa rộng 7,45m được chia làm hai chiều đường bằng vạch sơn đứt màu vàng: Chọn cột km12+400 và mép đường bên phải theo chiều từ xã cầu Thuần Xuyên đi quốc lộ 5A làm chuẩn. Đo từ cột km12+400 về hướng quốc lọ 5A 23,3m là điểm đầu vết cà xước (1) có kích thước (0,15x0,02)m, Điểm đầu và cuối vết cà xước lần lượt cách đường chuẩn đã chọn là 2,85m và 2,97m. Đo từ đầu vết cà xước (1) về hướng quốc lộ 5A 0,5m là tâm vùng dép (2) có kích thước (1,7 x 0,2)m, tâm vùng dép này cách mép đường chuẩn đã chọn là 1,7m. Đo từ tâm vùng dép (2) về hướng quốc lộ 5A 6,57m là tâm vùng máu (3) có kích thước (1,4 x 0,9)m, tâm vùng máu (3) cách mép đường chuẩn đã chọn 0,5m.
Khám nghiệm xe mô tô 89B1-176.29: Phần sau xe có lắp thêm 01 giá kim loại có kích thước (0,5 x 1,2)m. Tại vị trí mặt dưới bên trái giá chở hàng bằng kim loại để lại vết mài xước kim loại có kích thước (0,02 x 0,005)m.
Khám nghiệm tử thi: Tử thi mặc ngoài áo phông cộc tay, cổ bẻ, kẻ xanh trắng, áo ngấm máu và dích chất bẩn. Tại vùng trán thái dương bên phải sát chân tóc trán, sát đường giữa có đám sây sát da kích thước (09x05)cm. Tại vùng trán trái, cách đường giữa 04cm nằm trên đầu ngoài cung lông mày trái có có đám sây sát da kích thước (05 x 02)cm. Vùng chẩm gáy bên phải sát đường giữa, cách chân tóc gáy 08cm có vết rách da bờ mép nham nhở kích thước (03 x 2,5)cm. Vùng gò má bên phải, cách đường giữa 4,5cm; gò má bên trái cách đường giữa 2,5cm; mí mắt trên và mí mắt dưới bên trái; mặt sau ngoài khuỷu tay phải; Mặt ngoài cổ tay, mu bàn tay phải; mặt sau khuỷu tay trái; mặt ngoài gối phải; mặt ngoài cẳng chân phải, cách mắt cá ngoài 06cm đều có đám sây sát da. Vùng lưng hai bên, nằm trên đường giữa cách xương mỏm cụt 15cm có đám sây sát da bầm tím kích thước (07 x06)cm. Vị trí thấp nhất của đám này cách gót chân phải 83cm. Vùng mông cách đường giữa 08cm, cách mào chậu phải 15cm có đám sây sát ra bầm tím kích thước (03x03)cm, điểm thấp nhất của vị trí này cách gót chân phải 64cm. Mổ vùng chẩm gáy bên phải, thấy tổ chức dưới da bầm tụ máu, xương hộp sọ bị nứt vỡ kích thước (2,5 x 0,5)cm, máu chảy nhiều qua khe vỡ.
Kết luận giám định pháp y về tử thi số 59/KL-KTHS (GĐPY) ngày 20/4/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Hưng Yên kết luận: “Nguyên nhân chết của ông Trần Văn T là do chấn thương sọ não, vỡ xương hộp sọ”.
Ngày 15/4/2022, Cơ quan CSĐT - Công an thị xã Mỹ Hào đã thu thập được dữ liệu camera tại nhà chị Đặng Thị L, sinh năm 1990 ở thôn Thuần Xuyên, xã Long Hưng có ghi lại sự việc tai nạn xảy ra và dữ liệu camera tại nhà anh Nguyễn Tiến Q, sinh năm 1989 ở tổ dân phố Đ, phường P có ghi lại hình ảnh N điều khiển xe mô tô đi trên đường. Kết luận giám định 02 file video ghi lại diễn biến vụ tai nạn số 68/KL-KTHS (KTS) ngày 08/6/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Hưng Yên kết luận: “Không tìm thấy dấu hiệu cắt ghép, chỉnh sửa nội dung hình ảnh trong 02 file vi deo gửi giám định”. Khi xảy ra va chạm, xe mô tô đi ở bên phải làn đường theo chiều di chuyển của xe.
Cơ quan CSĐT - Công an thị xã Mỹ Hào đã tiến hành cho Phạm Hồng N và chị Nguyễn Thị H xem lại các video trên và xác định N là người điều khiển phương tiện gây tai nạn.
Quá trình điều tra đã làm rõ N hàng ngày bán rau, củ tại chợ Thứa phường Dị Sử, hàng ngày sử dụng xe mô tô Wave màu đỏ đen, biển số 89B1-176.29 đến chợ vào khoảng 4 giờ sáng và bán hàng đến khoảng 11 giờ 30 hàng ngày thì về. Việc thời gian bán hàng tại chợ của N phù hợp với thời gian N di chuyển trong vụ việc ngày 15/4/2022.
Về trách nhiện dân sự: Bị cáo Phạm Hồng N đã bồi thường cho gia đình ông Trần Văn T do ông Trần Văn A, sinh năm 1966 ở thôn Thuần Xuyên, xã Hưng Long, thị xã Mỹ Hào, tỉnh Hưng Yên (là anh trai của ông T - đại diện bị hại) nhận thay số tiền 130.000.000đ (Một trăm ba mươi triệu đồng). Ông Trần Văn A là người đại diện đã có đơn xin miễn truy cứu trách nhiệm hình sự và không yêu cầu Phạm Hồng N phải bồi thường một khoản tiền nào khác.
Đối với chiếc xe mô tô nhãn hiêu Honda, loại xe Wave anpha màu đỏ đen, biển số 89B1-176.29 và 01 điện thoại di động Realme là tài sản hợp pháp của Phạm Hồng N, Cơ quan CSĐT - Công an thị xã Mỹ Hào đã trả lại cho Nhân.
Đối với việc N lắp thêm khung sắt và chở hàng cồng kềnh Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thị xã Mỹ Hào đã chuyển Đội cảnh sát giao thông - Công an thị xã Mỹ Hào xử lý theo thẩm quyền.
Quá trình điều tra, Phạm Hồng N đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên.
Bản cáo trạng số: 57/CT-VKSMH ngày 24 tháng 10 năm 2022 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Mỹ Hào đã truy tố bị cáo Phạm Hồng N về tội: “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 260 của Bộ luật hình sự.
Tại phiên toà hôm nay: Vắng mặt người đại diện hợp pháp của người bị hại là ông Trần Văn A; Vắng mặt toàn bộ những người làm chứng là ông Trần Văn H, anh Phạm Đình H1, anh Nguyễn Quang H2.
Bị cáo, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan cùng Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Mỹ Hào đều đề nghị Hội đồng xét xử tiếp tục phiên toà xét xử vụ án vì những người vắng mặt đã có lời khai đầy đủ tại hồ sơ nên việc vắng mặt của họ không làm ảnh hưởng đến việc xét xử vụ án.
Bị cáo Phạm Hồng N đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như cáo trạng đã nêu.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Mỹ Hào duy trì công tố tại phiên toà giữ nguyên quan điểm như cáo trạng đã truy tố bị cáo Nhân và đề nghị với Hội đồng xét xử:
* Áp dụng: Điểm c khoản 2 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54; khoản 1, khoản 2, khoản 5 Điều 65 của Bộ luật hình sự.
* Tuyên bố: Bị cáo Phạm Hồng N phạm tội "Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ".
* Xử phạt: Bị cáo Phạm Hồng N từ 02 năm 09 tháng đến 03 năm tù cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 05 năm, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao bị cáo N cho Uỷ ban nhân dân xã Đ, huyện Â, tỉnh H để giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo N có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.
* Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung cấm hành nghề lái xe đối với bị cáo Phạm Hồng N.
+ Về biện pháp tư pháp và xử lý vật chứng: Trả lại bị cáo N 01 giấy phép lái xe mô tô hạng A1 số R655936 mang tên Phạm Hồng N do Sở giao thông vận tải tỉnh Hưng Yên cấp ngày 11/05/2004.
+ Về trách nhiệm dân sự: Các bên đã giải quyết với nhau xong, đề nghị Hội đồng xét xử không xét.
* Bị cáo Phạm Hồng N không tranh luận gì về căn cứ áp dụng, tội danh, mức hình phạt cũng như về phần bồi thường trách nhiệm dân sự và xử lý vật chứng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
1- Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã Mỹ Hào, Điều tra viên, kiểm sát viên của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Mỹ Hào trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện nên đều hợp pháp.
2- Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa hôm nay phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp khách quan với lời khai của đại diện người bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, người làm chứng, phù hợp với biên bản khám nghiệm hiện trường, bản ảnh, biên bản khám phương tiện liên quan đến tai nại giao thông, kết luận giám định tử thi cùng toàn bộ tài liệu, chứng cứ thu thập được có trong hồ sơ, đã có đủ căn cứ để kết luận: “Khoảng 3 giờ 15 phút ngày 15/4/2022, tại Km12+376 đường Phạm Ngũ Lão thuộc thôn Thuần Xuyên, xã Hưng Long, thị xã Mỹ Hào, tỉnh Hưng Yên, Phạm Hồng Nhân điều khiển xe mô tô biển số 89B1-176.29 đã không chấp hành biển cảch báo nguy hiểm và hạn chế tốc độ khi tầm nhìn bị hạn chế nên đã đâm vào ông Trần Văn Tý đang đi bộ phía trước làm ông Tý bị tử vong cùng ngày. Sau khi gây tai nạn Nhân đã bỏ chạy khỏi hiện trường để trốn tránh trách nhiệm và không cứu giúp người bị nạn”. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Mỹ Hào đã truy tố bị cáo Phạm Hồng N về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 260 của Bộ luật hình sự là chính xác và đúng pháp luật.
3- Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, bị cáo đã không chấp hành pháp luật khi tham gia giao thông đường bộ, xâm phạm đến sự an toàn của hoạt động giao thông đường bộ cũng như sự an toàn về tính mạng của người khác. Cụ thể, bị cáo đã có hành vi không chấp hành biển cảch báo nguy hiểm và hạn chế tốc độ khi tầm nhìn bị hạn chế nên đã đâm vào ông Trần Văn T đang đi bộ phía trước cùng chiều. Sau khi gây tai nạn, bị cáo đã bỏ chạy khỏi hiện trường để trốn tránh trách nhiệm và không cứu giúp người bị nạn. Hậu quả, làm ông T bị tử vong cùng ngày. Hành vi này của bị cáo đã vi phạm vào khoản 1, khoản 2 Điều 5 Thông tư 31/2019/TT-BGTVT ngày 29/8/2019 quy định về biển cảnh báo nguy hiểm và hạn chế tốc độ khi tham gia giao thông.
Tuy nhiên, khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử cũng xem xét người bị hại cũng có lỗi một phần là đi bộ dưới lòng đường trong khi không có đèn đường chiếu sáng; Quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay, thấy bị cáo phạm tội do vô ý, có nhân thân tốt, có nơi cư trú rõ ràng, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, bị cáo ra đầu thú về hành vi của mình và cùng gia đình đã tự nguyện bồi thường thiệt hại khắc phục hậu quả cho gia đình người bị hại, đại diện gia đình người bị hại có đơn xin miễn truy cứu trách nhiệm hình sự, bị cáo có đơn xin cải tạo tại địa phương và miễn hình phạt bổ sung được chính quyền địa phương xác nhận nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Xét thấy, bị cáo Phạm Hồng N có nơi cư trú rõ ràng, được hưởng nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nên không cần thiết phải áp dụng hình phạt tù đối với bị cáo mà áp dụng khoản 1, khoản 2 và khoản 5 Điều 65 của Bộ luật hình sự cho bị cáo N được hưởng án treo, cải tạo tại địa phương cũng đủ tác dụng giáo dục bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung.
* Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo N không phải là người hành nghề lái xe nên không cấm hành nghề lái xe đối với bị cáo.
* Về biện pháp tư pháp và xử lý vật chứng: Đối với 01 giấy phép lái xe mô tô hạng A1 số R655936 mang tên Phạm Hồng N do Sở giao thông vận tải tỉnh Hưng Yên cấp ngày 11/05/2004 là giấy phép lái xe hợp pháp của bị cáo. Do không cấm hành nghề lái xe đối với bị cáo và bị cáo đề nghị được nhận lại nên sẽ trả lại cho bị cáo theo quy định nhưng cho tạm giữ tại hồ sơ đến khi bản án có hiệu lực pháp luật.
* Về trách nhiệm dân sự: Các bên đã giải quyết với nhau xong và tự nguyện không yêu cầu đề nghị gì nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
* Về án phí: Bị cáo Phạm Hồng N phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
* Căn cứ: Điểm c khoản 2 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1, khoản 2, khoản 5 Điều 65 của Bộ luật hình sự.
* Tuyên bố: Bị cáo Phạm Hồng N phạm tội "Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ".
* Xử phạt: Bị cáo Phạm Hồng N 03 (Ba) năm tù cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 05 (Năm) năm, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao bị cáo Phạm Hồng N cho Uỷ ban nhân dân xã Đ, huyện Â, tỉnh H để giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo N có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.
Xử lý vi phạm đối với người được hưởng án treo: Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo đã bị kiểm điểm theo quy định tại Điều 91 của Luật thi hành án hình sự nhưng sau khi kiểm điểm vẫn tiếp tục vi phạm và đã được nhắc nhở bằng văn bản mà vẫn cố ý vi phạm thì Công an cấp xã, phường, thị trấn đề xuất Ủy ban nhân dân cấp xã, phường, thị trấn báo cáo, đề nghị cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện, thị xã, thành phố tiến hành trình tự, thủ tục đề nghị Tòa án có thẩm quyền quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
Trường hợp bị cáo được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú hoặc nơi làm việc thì thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 92 của Luật thi hành án hình sự số 41/ 2019/ QH14 ngày 14/ 6/ 2019, có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 01 năm 2020.
* Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung cấm hành nghề lái xe đối với bị cáo Phạm Hồng N.
* Về biện pháp tư pháp và xử lý vật chứng: Trả lại bị cáo 01 giấy phép lái xe mô tô hạng A1 số R655936 mang tên Phạm Hồng N do Sở giao thông vận tải tỉnh Hưng Yên cấp ngày 11/05/2004 nhưng cho tạm giữ tại hồ sơ đến khi bản án có hiệu lực pháp luật.
* Về án phí: Áp dụng khoản 1, khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Phạm Hồng N phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.
* Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm; Người đại diện theo ủy quyền của gia đình người bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ./.
| Nơi nhận: - VKSND thị xã Mỹ Hào; - Cơ quan CSĐT-CA thị xã Mỹ Hào; - Cơ quan T.H.A HS-CA thị xã Mỹ Hào; - Chi cục T.H.A DS thị xã Mỹ Hào; - Phòng KTNV và T.H.A - Tòa án tỉnh Hưng Yên; - Bị cáo; - Người đại diện theo ủy quyền của gia đình người bị hại; - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; - Lưu HS vụ án. | T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Trương Thế Dương |