- Tranh chấp gì? án hình sự — "Triệu Văn Ch - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Về hình phạt: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ ĐỒN TỈNH BẮC KẠN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 61/2022/HSST Ngày: 28/12/2022 |
NNHHÂÂNN DDAANNHH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ ĐỒN, TỈNH BẮC KẠN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Hiến Công Hanh
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Lục Thị Xinh và ông Nguyễn Viết Tác
- Thư ký phiên tòa: Bà Hà Thị Du, Thư ký Toà án nhân dân huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn tham gia phiên tòa: Ông Vương Đức Chính - Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 12 năm 2022, tại Tòa án nhân dân huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 51/2022/TLST-HS ngày 15 tháng 11 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 58/2022/QĐXXST-HS ngày 14 tháng 12 năm 2022 đối với bị cáo:
Họ và tên: TRIỆU VĂN CH (tên gọi khác: Không); Sinh ngày 08/8/1974 tại huyện C, tỉnh Bắc Kạn. Nơi ĐKTT và chỗ ở hiện nay: Thôn N, xã K, huyện C, tỉnh Tuyên Quang.
Nghề nghiệp: Làm ruộng; Trình độ văn hóa: 02/12; Dân tộc: Dao; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Triệu Văn L (đã chết) và con bà Triệu Thị T (đã chết); Vợ: Bàn Thị N; Con: có 04 con; Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Không; Bị áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giữ từ ngày 24/8/2022 đến ngày 30/8/2022 thì được hủy bỏ và chuyển sang áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú đến nay, có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 11 giờ 00 phút ngày 24/8/2022, tổ công tác Công an huyện Chợ Đồn phối hợp cùng Công an xã L đang làm nhiệm vụ tại đoạn đường liên thôn thuộc thôn N, xã L, huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn thì phát hiện bắt quả tang Triệu Văn Ch đang có hành vi tàng trữ trái pháp chất ma túy. Tang vật thu giữ gồm:
Ch tự nguyện xuất trình từ túi áo ngực bên trái đang mặc của Ch 01 (một) gói giấy màu trắng có dòng kẻ màu xanh bên trong có chứa cục và bột màu trắng. Tiến hành trích mẫu cục và bột màu trắng ở gói giấy trên cho vào thuốc thử phát hiện nhanh các chất ma túy do Bộ công an sản xuất, kết quả thuốc thử chuyển sang màu tím phản ứng dương tính với ma túy, loại Heroine (được niêm phong vào phong bì ký hiệu C1).
Tại biên bản mở niêm phong và cân xác định khối lượng của Cơ quan CSĐT Công an huyện Chợ Đồn lập hồi 14 giờ 35 phút, ngày 24 tháng 8 năm 2022 xác định: Cân riêng toàn bộ cục và bột màu trắng có trong phong bì ký hiệu C1 có khối lượng là 0,13g (không phẩy một ba gam) niêm phong trong phong bì mới C2 để gửi Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bắc Kạn giám định. Còn vỏ phong bì niêm phong ban đầu và 01 (một) gói giấy một mặt màu trắng có nhiều dòng kẻ màu xanh được cho vào trong phong bì mới niêm phong ký hiệu C3.
Tại Kết luận giám định số: 179/KL-KTHS ngày 30 tháng 8 năm 2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bắc Kạn Kết luận: “Mẫu chất màu trắng dạng cục và bột bên trong phong bì ký hiệu C2 gửi giám định là ma túy, loại Heroine, có khối lượng 0,13g (Không phẩy một ba gam).
Quá trình điều tra, truy tố Triệu Văn Ch khai nhận: 01 (một) gói nhỏ có chứa cục và bột màu trắng mà Cơ quan Công an thu giữ khi bắt quả tang là ma túy, loại Heroine do Ch mua về với mục đích sử dụng cá nhân. Cụ thể: Vào khoảng 09 giờ 00 phút ngày 24/8/2022, Ch từ nhà thuộc thôn Nà, xã K, huyện Ch, tỉnh Tuyên Quang đi bộ đến xã L để tìm mua ma túy về sử dụng, đi được một đoạn thì Ch đi nhờ xe của một người đi đường (không biết tên tuổi, địa chỉ), khi đi đến khu vực chợ L thuộc xã L, huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn thì Ch xuống xe. Tại đây Ch gặp một người đàn ông khoảng 50 tuổi (không biết họ tên, địa chỉ), trông giống người nghiện ma túy nên Ch đã hỏi mua ma túy và được người này đồng ý "rồi hỏi mua bao nhiêu tiền" Ch nói mua 100.000đ (một trăm nghìn đồng) và đưa tiền cho người đàn ông, sau đó người này đi đâu khoảng 05 phút rồi quay lại đưa cho Ch 01 (một) gói được gói bởi loại giấy màu trắng có dòng kẻ màu xanh bên trong có ma túy. Mua được ma túy xong Ch đi xuống bờ suối lấy gói ma túy vừa mua được ra sử dụng một phần bằng hình thức đốt hít, phần còn lại gói lại như ban đầu rồi cất vào túi áo trước ngực trái của Ch đang mặc rồi đi bộ về nhà. Khi đi đến đoạn đường thuộc thôn N, xã L, huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn thì Ch bị phát hiện bắt quả tang, thu giữ toàn bộ số ma túy.
Tại bản cáo trạng số 55/CT-VKSCĐ ngày 14/11/2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn đã truy tố bị cáo Triệu Văn Ch về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa hôm nay, sau phần xét hỏi tại phần tranh luận, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Đồn thực hành quyền công tố đã luận tội đối với bị cáo, phân tích, đánh giá tính chất nguy hiểm của vụ án, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đồng thời giữ nguyên quan điểm như bản Cáo trạng đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố: Bị cáo Triệu Văn Ch phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt Triệu Văn Ch từ 12 đến 18 tháng tù.
Phạt bổ sung: Không áp dụng phạt tiền đối với bị cáo.
Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự, đề nghị: Tịch thu tiêu hủy số ma túy còn lại sau giám định;
Án phí: Buộc bị cáo phải nộp theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về hành vi phạm tội của bị cáo:
Khoảng 09 giờ 00 phút ngày 24 tháng 8 năm 2022, tại khu vực chợ L thuộc xã L, huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn, Triệu Văn Ch, đã có hành vi mua trái phép chất ma túy với một người đàn ông khoảng 50 tuổi, không rõ họ, tên, địa chỉ, 01 (một) gói nhỏ ma túy (Heroine) với số tiền 100.000đ (một trăm nghìn đồng) nhằm mục đích về để sử dụng cá nhân. Đến hồi 11 giờ 00 phút cùng ngày khi Ch đang đi bộ đến đoạn đường thuộc thôn N, xã L, huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn thì bị Công an huyện Chợ Đồn và Công an xã L bắt quả tang, thu giữ trên người 0,13 (không phẩy một ba gam) ma túy (Heroine). Kết quả tranh tụng tại phiên toà phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Khi phạm tội, bị cáo có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi tàng trữ trái phép chất ma tuý để sử dụng là vi phạm pháp luật nhưng vì bản thân bị cáo có sử dụng chất ma túy nên để thoả mãn nhu cầu của bản thân bị cáo vẫn thực hiện. Hội đồng xét xử xác định: Hành vi tàng trữ 0,13g (không phẩy mười ba gam) ma túy, loại Heroin của bị cáo cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự. Cáo trạng số 55/CT-VKSCĐ ngày 14/11/2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn truy tố bị cáo là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật.
Về tính chất, mức độ hành vi của bị cáo thực hiện: Hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng, gây nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma tuý, làm ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự xã hội tại địa phương, gây bức xúc trong nhân dân nên cần xử lý nghiêm nhằm giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.
Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo:
Về nhân thân: Trước khi phạm tội bị cáo chưa có tiền án, tiền sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình nên được hưởng 01 tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự đó là “Người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải”. Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng theo quy định tại Điều 52 Bộ luật hình sự.
Về hình phạt:
Về hình phạt chính: Trên cơ sở đánh giá tính chất, mức độ của hành vi phạm tội, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo Hội đồng xét xử thấy hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng, mức hình phạt tù đại diện Viện kiểm sát đề nghị đối với bị cáo đều nằm trong khung hình phạt quy định của điều luật truy tố nên được chấp nhận.
Hình phạt bổ sung (phạt tiền): Theo các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và lời khai của bị cáo tại phiên tòa có căn cứ xác định: Bị cáo thuộc diện gia đình hộ cận nghèo, là người dân tộc thiểu số cư trú ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn; là lao động tự do, không có thu nhập ổn định vì vậy không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy số ma túy còn lại sau giám định, các bao bì liên quan đến việc niêm phong ma túy.
Đối với người đàn ông (không rõ họ tên, địa chỉ) theo lời khai của bị cáo Triệu Văn Ch khai là người đã bán ma túy Heroine cho Ch tại khu vực chợ L thuộc xã L, huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn. Kết thúc điều tra Triệu Văn Ch không cung cấp được danh tính, địa chỉ cụ thể nên không đủ căn cứ để điều tra, xử lý.
Về án phí: Bị cáo thuộc diện hộ cận nghèo nhưng không có đơn xin miễn nộp án phí vì vậy phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ Điều 260 Bộ luật Tố tụng hình sự. Tuyên bố bị cáo Triệu Văn Ch phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy".
1. Về hình phạt: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Triệu Văn Ch 12 (mười) tháng tù, được trừ đi thời gian tạm giữ từ ngày 24/8/2022 đến ngày 30/8/2022, thời hạn tù được tính từ ngày bị cáo đi chấp hành hình phạt tù của bản án.
Hình phạt bổ sung: Không áp dụng phạt tiền đối với bị cáo.
2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
- Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) phong bì đã được niêm phong theo quy định ký hiệu T165 (bên trong phong bì chứa 0,11g ma túy loại Heroine cùng phòng bì C2 và bao gói cũ) của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bắc Kạn hoàn trả lại Cơ quan CSĐT Công an huyện Chợ Đồn; 01 (một) phong bì đã được niêm phong theo quy định ký hiệu C3, bên trong chứa vỏ phong bì niêm phong C1, bao gõi cũ ban đầu.
(Tình trạng vật chứng theo biên bản giao, nhận vật chứng giữa Cơ quan Công an và Chi cục thi hành án dân sự huyện Chợ Đồn).
3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326 ngày 30/12/2016 của UBTVQH. Bị cáo phải nộp 200.000,đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm để sung quỹ Nhà nước.
Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - VKSND huyện Chợ Đồn; - CA huyện Chợ Đồn; - THADS huyện Chợ Đồn ; - TAND tỉnh Bắc Kạn; - VKSND tỉnh Bắc Kạn ; - Sở Tư pháp tỉnh Bắc Kạn; - Bị cáo; - Lưu hồ sơ vụ án . | TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa (đã ký) Hiến Công Hanh |