vanban.org

Bản án 61/2022/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Tuyên Quang, tỉnh Tuyên Quang Tuyên án 16/06/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Trần Văn M phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý.

Xử phạt: Bị cáo Trần Văn M 01 (một) năm 01 (một) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ, tạm giam 13/02/2022. Tịch thu tiêu huỷ 01 phong bì niêm phong, trên các mép dán có chữ ký của bị cáo, chữ ký của các thành phần tham gia, có 05 hình dấu của Phòng Kỹ thuật hình sự Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Văn Minh - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Trần Văn M phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ TUYÊN QUANG
TỈNH TUYÊN QUANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 61/2022/HS-ST
Ngày 16/6/2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TUYÊN QUANG, TỈNH TUYÊN QUANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Hương Giang

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Lê Thị Thảo và bà Lý Thúy Hà

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Diệu Thương - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Tuyên Quang, tỉnh Tuyên Quang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tuyên Quang, tỉnh Tuyên Quang tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Linh - Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 6 năm 2022, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Tuyên Quang, tỉnh Tuyên Quang mở phiên tòa công khai xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 62/2022/TLST- HS ngày 30 tháng 5 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 62/2022/QĐXXST- HS ngày 06/6/2022, đối với bị cáo:

TRẦN VĂN M; sinh ngày 08/5/1964 tại thành phố Tuyên Quang

Cư trú tại: Tổ dân phố 3, phường M, thành phố T, tỉnh Tuyên Quang; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Giới tính: Nam; Trình độ văn hóa: 6/10; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Con ông Trần Văn C và bà Nguyễn Thị L (đều đã chết); Có vợ là Hạ Thị L1 và có 02 con.

Tiền án, tiền sự : Không.

Nhân thân:

- Ngày 14/9/1985 Tòa án nhân dân thị xã Tuyên Quang (nay là thành phố Tuyên Quang) xử phạt 15 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản của công dân.

- Ngày 10/7/2001 Ủy ban nhân dân thị xã Tuyên Quang (nay là thành phố Tuyên Quang) ra quyết định xử lý vi phạm hành chính (bằng hình thức phạt tiền) về hành vi rủ rê, lôi kéo người khác đánh bạc và tham gia đánh bạc.

- Ngày 10/02/2006 Ủy ban nhân dân phường M, thị xã Tuyên Quang (nay là thành phố Tuyên Quang) ra quyết định về việc đưa người vào giáo dục vào cai nghiện tại nơi cư trú.

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 13/02/2022, hiện đang tạm giam tại Trại Tạm giam Công an tỉnh Tuyên Quang. Có mặt tại phiên toà.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 14 giờ 30 phút ngày 13/02/2022, Trần Văn M đi bộ một mình từ nhà đến khu vực tổ 18, phường M, thành phố T) với mục đích tìm mua ma túy (Heroine) để sử dụng. Tại đây, M gặp và mua của một người đàn ông không biết họ, tên và địa chỉ (theo M khai người này gọi tên là G) 01 gói ma túy với số tiền 200.000 đồng; bên ngoài gói ma túy bọc bằng giấy bạc màu vàng, bên trong chứa chất bột màu trắng ngà. Sau khi mua được ma túy, M cầm gói ma túy trong lòng bàn tay trái rồi đi bộ về nhà để sử dụng. Khi M đi đến khu vực tổ 3, phường M, thành phố T) thì bị Tổ công tác Đội CSĐT tội phạm về ma túy, Công an thành phố Tuyên Quang phát hiện lập biên bản bắt người phạm tội quả tang hồi 15 giờ 30 phút cùng ngày và thu giữ gói ma túy (theo M khai nhận là Heroine).

Tiến hành xét nghiệm tìm chất ma tuý đối với Trần Văn M, kết quả (+) dương tính (có chất ma túy trong cơ thể). M khai nhận bản thân đã sử dụng ma túy vào ngày 12/02/2022.

Tại bản Kết luận giám định số 236/GĐKTHS ngày 16/02/2022 của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Tuyên Quang, kết luận: Mẫu vật (thu giữ của Trần Văn M) gửi giám định là chất ma túy, loại Heroine, khối lượng 0,182g (không phẩy một tám hai gam).

Tại bản Cáo trạng số 71/CT-VKSTP ngày 30 tháng 5 năm 2022, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tuyên Quang đã truy tố bị cáo Trần Văn M về tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý theo điểm c, khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Kết thúc phần tranh luận tại phiên toà, đại diện VKSND thành phố Tuyên Quang trình bày luận tội giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo về tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c, khoản 1, Điều 249; điểm s, khoản 1, Điều 51; Điều 38; Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo từ 01 năm 01 tháng tù đến 01 năm 03 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giam 13/02/2022.

Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Áp dụng: Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

- Tịch thu tiêu huỷ: 01 phong bì niêm phong, trên các mép dán có chữ ký của bị cáo Trần Văn M, chữ ký của các thành phần tham gia, có 05 hình dấu của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Tuyên Quang, bên trong có chứa 0,132 gam Heroine (số còn lại sau khi lấy mẫu giám định).

Tình trạng vật chứng thể hiện như trong biên bản giao nhận vật chứng, tài sản giữa cơ quan CSĐT Công an thành phố Tuyên Quang và cơ quan Thi hành án dân sự thành phố Tuyên Quang ngày 02/6/2022.

Buộc bị cáo M phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và tuyên quyền kháng cáo cho bị cáo theo quy định của pháp luật.

Bị cáo không trình bày lời bào chữa, nhất trí với luận tội của đại diện VKSND thành phố Tuyên Quang. Bị cáo chỉ xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng: Trong quá trình điều tra, truy tố Điều tra viên, Kiểm sát viên đã thực hiện nhiệm vụ đúng quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Tại phiên toà Kiểm sát viên đã thực hiện đúng nhiệm vụ, quyền hạn khi thực hành quyền công tố. Bị cáo không khiếu nại, thắc mắc gì. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.

Về tội danh: Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội đúng như nội dung bản cáo trạng đã truy tố. Bị cáo thừa nhận bản thân là người nghiện chất ma túy nên ngày 13/02/2022 bị cáo đã đi tìm mua ma túy (Heroine) ở khu vực tổ 18, phường M, thành phố T với mục đích để sử dụng cho bản thân. Trên đường đi bộ về nhà tại tổ 03, phường M, thành phố T để sử dụng thì bị cơ quan Công an phát hiện và thu giữ vào hồi 15 giờ 30 phút cùng ngày. Bị cáo thừa nhận Kết luận giám định số 236/GĐKTHS ngày 16/02/2022 của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Tuyên Quang kết luận số Heroine thu giữ của bị cáo có khối lượng 0,182g (không một tám hai gam) là khách quan, chính xác. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, vật chứng thu giữ và các tài liệu, chứng cứ khác đã được thu thập lưu trong hồ sơ vụ án. Bị cáo khai bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tuyên Quang truy tố bị cáo về tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý là đúng người, đúng tội, không oan. Như vậy, Hội đồng xét xử thấy có đủ căn cứ kết luận bị cáo Trần Văn M phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý. Tội phạm và hình phạt quy định tại điểm c, khoản 1, Điều 249 của Bộ luật hình sự.

Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và hình phạt:

- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử bị cáo đã thành khẩn khai báo và tỏ rõ thái độ ăn năn hối cải nên áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự cho bị cáo.

- Về hình phạt: Hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm phạm đến việc quản lý độc quyền về chất ma tuý của nhà nước, gây ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự tại địa phương; bị cáo là người có đủ năng lực nhận thức và điều khiển được hành vi của mình song để thỏa mãn nhu cầu sử dụng ma túy của bản thân nên đã cố ý phạm tội. Vì vậy cần áp dụng hình phạt tù tương xứng để cải tạo, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội.

Quá trình điều tra và tại phiên toà xác định bị cáo không có tài sản gì và không có công việc, thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Trong vụ án này còn có người đàn ông theo bị cáo khai tên là G, là người bán ma tuý cho bị cáo tại khu vực tổ 18, phường M, thành phố T nhưng không xác định được tên, tuổi, địa chỉ nên không có căn cứ xem xét, xử lý.

Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý của bị cáo vào ngày 12/02/2022, Công an thành phố Tuyên Quang đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức phạt tiền (số tiền 1.500.000 đồng), HĐXX thấy như vậy là phù hợp.

Về vật chứng: Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra đã thu giữ 01 phong bì niêm phong, trên các mép dán có chữ ký của Trần Văn M, chữ ký của các thành phần tham gia, có 05 hình dấu của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Tuyên Quang, bên trong có chứa 0,132 gam Heroine (số còn lại sau khi lấy mẫu giám định), đây là vật Nhà nước cấm lưu hành và không có giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu huỷ.

Tình trạng vật chứng thể hiện như trong biên bản giao nhận vật chứng giữa cơ quan CSĐT Công an thành phố Tuyên Quang và cơ quan Thi hành án dân sự thành phố Tuyên Quang ngày 02/6/2022.

Về án phí và quyền kháng cáo:

- Về án phí: Bị cáo M phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

- Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm theo quy định tại Điều 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ vào điểm c, khoản 1, Điều 249; điểm s, khoản 1, Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự.

Tuyên bố: Bị cáo Trần Văn M phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý.

Xử phạt: Bị cáo Trần Văn M 01 (một) năm 01 (một) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ, tạm giam 13/02/2022.

2. Căn cứ: Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

- Tịch thu tiêu huỷ 01 phong bì niêm phong, trên các mép dán có chữ ký của bị cáo, chữ ký của các thành phần tham gia, có 05 hình dấu của Phòng Kỹ thuật hình sự

- Công an tỉnh Tuyên Quang, bên trong có chứa 0,132 gam Heroine (số còn lại sau khi lấy mẫu giám định).

Tình trạng vật chứng thể hiện như trong biên bản giao nhận vật chứng, tài sản giữa cơ quan CSĐT Công an thành phố Tuyên Quang và cơ quan Thi hành án dân sự thành phố Tuyên Quang ngày 02/6/2022.

3. Căn cứ: Các Điều 136, 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

Buộc bị cáo phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ