vanban.org

Bản án 61/2022/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Tràng Định, tỉnh Lạng Sơn Tuyên án 15/12/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nông Minh P - Bùi Xuân H - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 101 Bộ luật Hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TRÀNG ĐỊNH
TỈNH LẠNG SƠN
–––––––––––––––

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 61/2022/HS-ST
Ngày 15-12- 2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRÀNG ĐỊNH, TỈNH LẠNG SƠN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Hoàng Văn Bình

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Vi Thị Quý; Nghề ngH: Giáo viên nghỉ hưu;

Bà Hoàng Thị Chiểu.

Thư ký phiên toà: Bà Hoàng Mai Hương - Thư ký Toà án nhân dân huyện Tràng Định, tỉnh Lạng Sơn.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tràng Định, tỉnh Lạng Sơn tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Thành Luân - Kiểm sát viên.

Ngày 15 tháng 12 năm 2022 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Tràng Định, tỉnh Lạng Sơn xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 64/2022/TLST-HS ngày 04 tháng 11 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 63/2022/QĐXXST-HS ngày 05 tháng 12 năm 2022 của Toà án nhân dân huyện Tràng Định, tỉnh Lạng Sơn đối với các bị cáo:

1. Nông Minh P; tên gọi khác: Không; Sinh ngày 24/9/2005 tại huyện T, tỉnh L; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở: Thôn B, xã Đ, huyện T, tỉnh L; nghề ngH: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 9/12; dân tộc: Tày; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nông Văn Đ, sinh năm 1975 và bà Nông Thị H, sinh năm 1977; vợ, con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không có; nhân thân: Bị cáo chưa bị xử lý hình sự, chưa bị xử lý hành chính, chưa bị xử lý kỷ luật, là đối tượng nghiện chất ma túy. Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam tại nhà tạm giữ Công an huyện Tràng Định từ ngày 28/7/2022 cho đến nay, có mặt.

Người bào chữa cho bị cáo Nông Minh P: Ông Lâm Xuân Tặng, Luật sư thực hiện trợ giúp pháp lý - Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh Lạng Sơn, có mặt.

2. Bùi Xuân H, tên gọi khác: Không, sinh ngày 26 tháng 5 năm 1989 tại huyện T, tỉnh L; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Thôn Q (trước đây là thôn N), xã H, huyện T, tỉnh L; Nơi tạm trú: Ngõ M, tổ dân phố D, thị trấn B, huyện V, tỉnh B; nghề ngH: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 10/12; dân tộc: Tày; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Bùi Xuân T, sinh năm 1957 (đã chết) và bà Hoàng Thị Bích V (tên gọi khác: Hoàng Thị X), sinh năm 1958; vợ là Hoàng Thị L, sinh năm 1991; con: Có 02 con, con lớn sinh năm 2012, con bé sinh năm 2020; tiền án, tiền sự: Không có; nhân thân: Bị cáo bị Tòa án nhân dân huyện Tràng Định, tỉnh Lạng Sơn xử phạt 08 năm tù về tội: Mua bán trái phép chất ma túy tại Bản án số 09/2012/HS-ST ngày 26/4/2012, bị cáo đã chấp hành xong hình phạt tù các nghĩa vụ của bản án (dã được xóa án tích), bị cáo chưa bị xử lý hành chính, chưa bị xử lý kỷ luật, là đối tượng nghiện ma túy. Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam tại nhà tạm giữ Công an huyện Tràng Định từ ngày 08/8/2022 đến nay, có mặt.

- Người làm chứng:

2. Anh Nông Văn Q, sinh năm 2002, vắng mặt.

3. Anh Lăng Trí T, sinh năm 2003, vắng mặt.

4. Anh Lương Văn T1, sinh năm 1988, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 16 giờ 00 phút ngày 28/7/2022, Tổ công tác Công an huyện Tràng Định, tỉnh Lạng Sơn phối hợp với Công an xã Kháng Chiến, xã Đại Đồng, huyện Tràng Định làm nhiệm vụ tại khu vực gần thôn Đại Nam, xã Đại Đồng, huyện Tràng Định, thì phát hiện tại phòng trọ số 3, nhà trọ Huyền Mạnh có hai nam thanh niên biểu hiện nghi vấn sử dụng trái phép chất ma túy. Tiến hành kiểm tra, hai nam thanh niên khai nhận họ tên gồm: Nông Minh P và Nông Văn Q, tại cửa sổ phòng trọ thu giữ: 01 túi nilon chứa chất bột màu trắng nghi là ma túy Heroine; 02 gói giấy màu vàng và 04 gói giấy màu trắng bên trong đều chứa chất bột màu trắng nghi là ma túy Heroine. Ngoài ra, còn thu giữ của Nông Minh P: Số tiền 1.700.000 đồng; 01 điện thoại di động màn hình cảm ứng nhãn hiệu Vivo màu trắng; 01 điện thoại di động màn hình cảm ứng nhãn hiệu OPPO màu đen; 01 ống hút một đầu vót nhọn màu xanh dài 08 cm, 01 mảnh giấy bạc bị cháy xém, 02 mảnh giấy bạc diện 02cm x 05cm.

Nông Minh P khai nhận: Toàn bộ số chất bột màu trắng bị thu giữ đều là ma túy Heroine, P mua của Bùi Xuân H để sử dụng và bán kiếm lời. Tổ công tác đã lập biên bản sự việc, đưa Nông Minh P cùng tang vật về trụ sở để điều tra làm rõ.

Căn cứ vào lời khai của Nông Minh P cùng các tài liệu đã thu thập được, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Tràng Định đã khởi tố vụ án, khởi tố bị cáo Đối với Bùi Xuân H. Khám xét khẩn cấp chỗ ở của Bùi Xuân H tại nơi thuê trọ ngõ M, tổ dân phố D, thị trấn B, huyện V, tỉnh B thu giữ được 17 gói giấy chứa chất bột màu trắng nghi là ma túy Heroine; 1.750.000 đồng tiền ngân hàng Nhà nước Việt Nam; 01 điện thoại di động màn hình cảm ứng nhãn hiệu Iphone màu xanh cũ đã qua sử dụng, lắp 01 sim có số thuê bao: 0357.988.559 đã qua sử dụng; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia màu đen cũ đã qua sử dụng, lắp 01 sim có số thuê bao: 0963.977.101; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia màu xanh cũ đã qua sử dụng, lắp 01 sim có số thuê bao: 0346.767.404; 01 cân tiểu ly màu bạc đã qua sử dụng; 10 mảnh giấy trắng diện 03cm x 03 cm; 01 kéo kim loại cán màu đen.

Tại Kết luận giám định số 275/KL-KTHS ngày 30/7/2022 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lạng Sơn kết luận: Chất bột màu trắng thu giữ của Nông Minh P gửi giám định đều là chất ma túy Heroine, có tổng khối lượng 0,118 gam (đã trừ bì).

Tại Kết luận giám định số 288/KL-KTHS ngày 10/8/2022 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lạng Sơn kết luận: Chất bột màu trắng thu giữ của Bùi Xuân H gửi giám định đều là chất ma túy Heroine, có tổng khối lượng 1,619 gam (đã trừ bì).

Tại Kết luận giám định số 317/KL-KTHS ngày 03/8/2022 và Kết luận giám định số 335/KL-KTHS ngày 15/8/2022 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lạng Sơn kết luận: Toàn bộ số tiền Việt Nam được niêm phong trong các phong bì gửi giám định đều là tiền thật.

Tại Cơ quan điều tra, Bùi Xuân H khai nhận: Do nghiện chất ma túy Heroine nên H đã thường xuyên ra khu vực thị trấn Nếnh, huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang mua ma túy với 01 người phụ nữ (không biết tên tuổi, địa chỉ) để sử dụng và bán lại cho các con nghiện khác để kiếm lời, cụ thể như sau:

Lần một, khoảng giữa tháng 06/2022, H mua 1.000.000 đồng tiền ma túy Heroine, về chia thành nhiều gói nhỏ, mang về nhà tại thôn Q, xã H, huyện T, tỉnh L. Bán ma túy cho Lăng Trí T 02 lần tại khu vực đường bê tông cách nhà H khoảng 30 mét: Lần 1, khoảng 10 giờ một ngày giữa tháng 6/2022 bán cho T2 01 gói ma túy với giá 200.000 đồng. Lần 2, khoảng 14 giờ một ngày cuối tháng 6/2022 bán cho T2 01 gói ma túy với giá 200.000 đồng.

Lần hai, khoảng giữa tháng 7/2022, H mua 2.300.000 đồng tiền ma túy Heroine, về chia thành nhiều gói nhỏ. Tại khu trọ ở Ngõ M, tổ dân phố D , thị trấn B, huyện V, tỉnh B, H được bán ma túy cho Nông Minh P 04 lần: Lần 1, khoảng giữa tháng 7/2022, H bán cho P 01 gói ma túy với giá 200.000 đồng. Lần 2, sau lần 1 khoảng 02-03 ngày, H bán cho P 01 gói ma túy với giá 200.000 đồng. Lần 3, khoảng 10 giờ ngày 22/7/2022, H bán cho P 01 gói ma túy với giá 200.000 đồng. Lần 4, khoảng 17 giờ ngày 27/7/2022, H bán cho P 01 gói ma túy với giá 600.000 đồng.

Lần ba, Khoảng 20 giờ ngày 07/8/2022, H mua 2.300.000 đồng tiền ma túy Heroine về chia thành 20 gói nhỏ, H sử dụng hết 03 gói, 17 gói ma túy bị lực lượng Công an kiểm tra, phát hiện và thu giữ.

Nông Minh P khai nhận: P nhiều lần được mua ma túy của Bùi Xuân H để sử dụng và bán cho các con nghiện để kiếm lời. Khoảng 17 giờ ngày 27/7/2022, sau khi mua của H 01 gói ma túy với giá 600.000 đồng tại khu trọ của H ở Ngõ M, tổ dân phố D, thị trấn B, huyện V, tỉnh B, P chia thành 14 gói ma túy nhỏ cất giấu trong người rồi rủ Nông Văn Q bắt xe khách về huyện Tràng Định, tỉnh Lạng Sơn chơi. Khi xuống khu vực đầu cầu Bản Trại, P thuê phòng trọ số 3, nhà trọ Huyền Mạnh, còn Q đi tìm ăn bánh mỳ. Đến khoảng 23 giờ cùng ngày, khi P đang sử dụng ma túy thì Q về phòng trọ, P rủ Q cùng sử dụng ma túy thì Q đồng ý. P xé 01 mảnh giấy bạc xẻ một ít ma túy đưa cho Q sử dụng, Q nhận lấy số ma túy do P đưa, rồi dùng bật lửa đốt để sử dụng ma túy bằng hình thức hít thỏa mãn nhu cầu bản thân. Ngoài ra, P còn được 03 lần bán ma túy cho các con nghiện tại khu vực trước cổng nhà trọ Huyền Mạnh: Lần 1, khoảng 07 giờ ngày 28/7/2022 bán cho Lương Văn T1 01 gói ma túy với giá 100.000 đồng; Lần 2, khoảng 09 giờ ngày 28/7/2022 bán cho Lăng Trí T 01 gói ma túy với giá 200.000 đồng; Lần 3, khoảng 12 giờ ngày 28/7/2022 bán cho Lăng Trí T 03 gói ma túy với giá 600.000 đồng. Ngoài ra, khoảng 08 giờ ngày 28/7/2022 P còn được bán 01 gói ma túy với giá 200.000 đồng cho 01 người đàn ông không biết tên tuổi, địa chỉ. Đến khoảng 16 giờ ngày 28/7/2022, khi P đang ở trong phòng số 3, nhà trọ Huyền Mạnh thì bị lực lượng Công an kiểm tra, phát hiện, bắt giữ.

Cáo trạng số: 57/CT-VKS ngày 02 tháng 11 năm 2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tràng Định, tỉnh Lạng Sơn truy tố bị cáo: Nông Minh P về các tội: Mua bán trái phép chất ma túy, theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 của Bộ luật Hình sự và tội: Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy, theo quy định tại khoản 1 Điều 255 Bộ luật Hình sự; Truy tố bị cáo Bùi Xuân H về tội Mua bán trái phép chất ma túy, quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên toà các bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi của mình như nội dung cáo trạng đã nêu, lời khai của các bị cáo phù hợp với lời khai của Nông Văn Q, Lương Văn T1, Lăng Trí T và tài liệu có trong hồ sơ vụ án.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tràng Định, tỉnh Lạng Sơn thực hành quyền công tố tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quan điểm đã truy tố về tội danh như Cáo trạng đã nêu và đề nghị Hội đồng xét xử:

Về hình phạt chính: Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 251; khoản 1 Điều 255; Điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 90, khoản 1 Điều 101, khoản 1 Điều 103, Điều 55 Bộ luật hình sự năm 2015 đề nghị xử phạt bị cáo Nông Minh P mức án từ 05 năm 06 tháng đến 06 năm tù đối với tội: Mua bán trái phép chất ma túy. Xử phạt bị cáo từ 18 (mười tám) đến 24 (hai mươi tư) tháng tù đối với tội: Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy. Tổng hợp hình phạt chung, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt đối với 02 tội là từ 07 năm đến 08 năm tù. Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 251; Điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 58, Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 đề nghị xử phạt bị cáo Bùi Xuân H mức án từ 08 năm đến 09 năm tù về tội: Mua bán trái phép chất ma túy. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với tất cả các bị cáo. Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 1, điểm a, b, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự. Tịch thu tiêu hủy: Phong bì bên trong có chứa ma túy sau giám định cùng các vỏ bao gói, 01 ống hút một đầu vót nhọn màu xanh dài 08 cm, 01 mảnh giấy bạc bị cháy xem, 02 mảnh giấy bạc diện 02 x 05 cm; 01 cân tiểu ly; 10 mảnh giấy trắng diện 03 x 03 cm; 01 kéo kim loại cán màu đen. Tịch thu hóa giá xung quỹ nhà nước: 01 điện thoại di động màn hình cảm ứng nhãn hiệu OPPO màu đen của bị cáo Nông Minh P, tịch thu của bị cáo Nông Minh P số tiền 1.100.000 đồng trong tổng số tiền bị thu giữ là 1.700.000 đồng, trả lại cho bị cáo số tiền còn lại là 600.000 đồng nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án. Tịch thu của bị cáo Bùi Xuân H số tiền 1.400.000 đồng trong tổng số tiền bị thu giữ là 1.750.000 đồng, trả lại cho bị cáo số tiền còn lại là 350.000 đồng nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án. Trả lại cho bị cáo Nông Minh P: 01 điện thoại di động màn hình cảm ứng nhãn hiệu Vivo màu trắng và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Vivo màu đen. Trả lại cho bị cáo Bùi Xuân H: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia màu xanh. 01 điện thoại di động màn hình cảm ứng nhãn hiệu Iphone màu xanh và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia màu đen thu giữ của Bùi Xuân H.

Luật sư bào chữa cho bị cáo Nông Minh P đồng ý với quan điểm của Đại diện viện kiểm sát về tội danh và mức hình phạt, nhưng đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự vì bị cáo là người chưa thành niên nên có phần nhận thức hạn chế về pháp luật.

Tại phần tranh luận các bị cáo, không có ý kiến gì tranh luận, Đại diện viện kiểm sát cho rằng bị cáo Nông Minh P là tuổi vị thành niên Viện kiểm sát đã đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các quy định về việc người thành niên phạm tội. Đối với ý kiến của Luật sư cho rằng bị cáo là người chưa thành niên nên có nhận thức hạn chế về pháp luật nên mới phạm tội đề nghị cho bị cáo hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2, Điều 51 Bộ luật hình sự là không đúng.

Lời nói sau cùng của các bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét, giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo để các bị cáo yên tâm cải tạo sớm được trở về đoàn tụ cùng gia đình và xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án

đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của những người tiến hành tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự và thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của những người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định của những người tiến hành tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về việc vắng mặt của Nông Văn Q; Lăng Trí T; Lương Văn T1, Hội đồng xét xử thấy những người vắng mặt trên đã có lời khai được lưu trong hồ sơ vụ án, việc vắng mặt họ không ảnh hưởng gì đến quá trình giải quyết vụ án. Căn cứ Điều 292 Bộ luật tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử quyết định tiếp tục xét xử vụ án.

Về hành vi phạm tội: Căn cứ các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, kết quả tranh luận tại phiên tòa đủ cơ sở kết luận: Từ khoảng giữa tháng 6/2022 đến ngày 07/8/2022, bị cáo Bùi Xuân H đã có hành vi bán trái phép chất ma túy Heroine 06 lần cho các đối tượng nghiện để kiếm lời, cụ thể: Bán cho Lăng Trí T 02 lần, Nông Minh P 04 lần. Như vậy Bùi Xuân H đã phạm tội: Mua bán trái phép chất ma túy, quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 của Bộ luật Hình sự. Ngày 27/7/2022, sau khi bị cáo Nông Minh P mua trái phép chất ma túy Heroine với Bùi Xuân H, Nông Minh P đã bán trái phép chất ma túy Heroine 03 lần cho các đối tượng nghiện để kiếm lời, cụ thể: Bán cho Lương Văn T1 01 lần, Lăng Trí T 02 lần. Ngoài ra, P còn rủ rê, lôi kéo, cung cấp ma túy, dụng cụ sử dụng ma túy cho Nông Văn Q để Q sử dụng trái phép chất ma túy 01 lần vào khoảng 10 giờ ngày 08/8/2022, tại phòng số 3, nhà trọ Huyền Mạnh, thuộc thôn Đại Nam, xã Đại Đồng, huyện Tràng Định, tỉnh Lạng Sơn, Nông Minh P bị Công an huyện Tràng Định phát hiện, thu giữ 0,118 gam chất ma túy Heroine. Như vậy đủ cở sở kết luận: Nông Minh P phạm các tội: Mua bán trái phép chất ma túy, theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 của Bộ luật Hình sự và tội: Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy, theo quy định tại khoản 1 Điều 255 Bộ luật Hình sự.

Về tính chất, hậu quả mức độ của hành vi phạm tội: Các bị cáo là người có năng lực trách nhiệm hình sự nhận thức được hành vi của mình nhưng các bị cáo vẫn thực hiện với lỗi cố ý. Hành vi của các bị cáo các đã xâm phạm đến chế độ quản lý độc quyền của Nhà nước đối với các chất ma túy, gây mất trật tự an toàn xã hội; ảnh hưởng đến đạo đức, thuần phong mỹ tục lâu đời của dân tộc là nguy cơ tiềm ẩn phát sinh các loại tội phạm mới, làm tăng ngân sách nhà nước để giải quyết các hậu quả do ma túy mang lại. Tuy nhiên khi quyết định hình phạt ngoài việc xem xét tính chất, mức độ hành vi của việc phạm tội còn phải xem xét đến nhân thân, tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự để quyết định hình phạt mới tương xứng với hành vi mà các bị cáo gây ra.

Về nhân thân: Các bị cáo không có tiền án, tiền sự nhưng là đối tượng nghiện ma túy do vậy các bị cáo đều là người có nhân thân xấu.

Tình tiết tăng nặng: Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm Hình sự: Trong quá trình điều tra, các bị cáo đã thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội, đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Các bị cáo đều thực hiện hành vi phạm tội độc lập, không có đồng phạm.

Đối với Nông Minh P sinh ngày 24/9/2005 khi phạm tội ngày 28/7/2022 bị cáo chưa đủ 18 tuổi nên cần phải áp dụng quy định về xử lý hình sự đối với người dưới 18 tuổi phạm tội của Bộ luật hình sự đối với bị cáo.

Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo Bùi Xuân H là người không có tài sản, là đối tượng nghiện ma túy, không có thu nhập ổn định; bị cáo Nông Minh P khi phạm tội là người chưa đủ 18 tuổi. Do vậy không phải áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.

Đối với người phụ nữ bán chất ma túy Heroine cho bị cáo Bùi Xuân H tại khu vực thị trấn Nếnh, huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang do không xác định được tên, tuổi địa chỉ nên không có căn cứ để điều tra, xử lý.

Đối với Nông Văn Q, Lương Văn T1, Lăng Trí T là các đối tượng nghiện ma túy, khai nhận phù hợp được mua ma túy với Bùi Xuân H, Nông Minh P để sử dụng. Cơ quan điều tra đã tiến hành xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức Cảnh cáo

Về xử lý vật chứng: Đối với Phong bì bên trong có chứa ma túy sau giám định cùng các vỏ bao gói, 01 ống hút một đầu vót nhọn màu xanh dài 08 cm, 01 mảnh giấy bạc bị cháy xém, 02 mảnh giấy bạc diện 02 x 05 cm; 01 cân tiểu ly; 10 mảnh giấy trắng diện 03 x 03 cm; 01 kéo kim loại cán màu đen là vật cấm lưu hành và không có giá trị sử dụng nên cần tịch thu để tiêu hủy. Đối với 01 điện thoại di động màn hình cảm ứng nhãn hiệu OPPO màu đen sử dụng vào việc mua bán trái phép chất ma túy, số tiền 1.100.000 đồng trong tổng số tiền bị thu giữ là 1.700.000 đồng của bị cáo Nông Minh P; số tiền 1.400.000 đồng trong tổng số tiền bị thu giữ là 1.750.000 đồng của Bùi Xuân H là số tiền do phạm tội mà có cần phải tịch thu nộp ngân sách nhà nước. Trả lại cho Nông Minh P số tiền 600.000 đồng; 01 điện thoại di động màn hình cảm ứng nhãn hiệu Vivo màu trắng và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Vivo màu đen. Trả lại cho Bùi Xuân H số tiền 350.000 đồng, 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia màu xanh, 01 điện thoại di động màn hình cảm ứng nhãn hiệu Iphone màu xanh và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia màu đen do không liên quan đến việc phạm tội. Tạm giữ số tiền của các bị cáo để đảm bảo cho việc thi hành án.

Những gì khác với nhận định nêu trên của Hội đồng xét xử đều không được chấp nhận.

Từ những phân tích nêu trên Hội đồng xét xử nhận thấy cần cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định cho các bị cáo đi cải tạo tập trung để các bị cáo nhận thức được hành vi của mình, đồng thời giáo dục bị cáo trở thành người công dân có ích cho gia đình và xã hội.

Về án phí: Các bị cáo, phải chịu án phí theo khoản 2 Điều 135, khoản 2, Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Về quyền kháng cáo: Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo quy định tại khoản 1 Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 251; khoản 1 Điều 255; Điều 38; Điều 50; điểm s, khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 55; Điều 90; Điều 91; Điều 98; khoản 1 Điều 101 Bộ luật hình sự đối với Nông Minh P;

Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 251; khoản 1 Điều 255; Điều 38; Điều 50; điểm s, khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự đối với Bùi Xuân H

Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự; khoản 2, 3 Điều 106; khoản 1 Điều 331; khoản 1 Điều 333; khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Căn cứ Điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án đối với tất cả các bị cáo.

1.Về tội danh:

1.1.Tuyên bố các bị cáo Bùi Xuân H phạm tội: Mua bán trái phép chất ma túy.

1.2. Nông Minh P phạm các tội: Mua bán trái phép chất ma túy và tội: Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy

2. Về hình phạt:

2.1. Xử phạt Bùi Xuân H 08 (tám) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 08 tháng 8 năm 2022.

2.2. Xử phạt bị cáo Nông Minh P 05 (năm) năm tù về tội: Mua bán trái phép chất ma túy và 18 (mười tám) tháng tù về tội: Tổ chức sử dụng trái phép ma túy. Tổng hợp chung của cả hai tội bị cáo phải chấp hành là 06 (sáu) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 28 tháng 7 năm 2022.

3. Về vật chứng:

3.1.Tịch thu tiêu hủy: 01 bì thư được niêm phong theo quy định bên trong có 01 gói giấy đựng 0,101 gam Heroine và toàn bộ vỏ bao cũ gồm: 01 túi ni lon; 02 gói giấy bạc; 04 gói giấy màu trắng; 01 bì thư được niêm phong theo quy định bên trong có 01 gói giấy đựng 0,1473 gam Heroine và 17 vỏ gói giấy; 01 ống hút một đầu vót nhọn màu xanh dài 08 cm, 01 mảnh giấy bạc bị cháy xém, 02 mảnh giấy bạc diện 02cm x 05cm; 01 cân tiểu ly màu bạc đã qua sử dụng; 10 mảnh giấy trắng diện 03cm x 03 cm; 01 kéo kim loại cán màu đen.

3.2. Tịch thu nộp ngân sách nhà nước: Tịch thu số tiền 1.100.000 đồng và 01 điện thoại di động màn hình cảm ứng nhãn hiệu OPPO màu đen IMEI: 867316048739850 thu giữ của Nông Minh P; Tịch thu số tiền 1.400.000 đồng thu giữ của Bùi Xuân H;

3.3. Trả lại cho chủ sở hữu:

3.3.1.Trả lại cho Nông Minh P số tiền 600.000 đồng; 01 điện thoại di động màn hình cảm ứng nhãn hiệu Vivo màu trắng số IMEI: 86170203769572 và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Vivo màu đen có số IMEI: 86090040289530.

3.3.2. Trả cho Bùi Xuân H số tiền 350.000 đồng 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia màu xanh, số IMEI: 353776043310943; 01 điện thoại di động màn hình cảm ứng nhãn hiệu Iphone màu xanh và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia màu đen, ốp màu đỏ đã qua sử dụng.

Tạm giữ số tiền của các bị cáo để đảm bảo việc thi hành án.

(Vật chứng nêu trên được lưu giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tràng Định, tỉnh Lạng Sơn theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 04 tháng 11 năm 2022 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tràng Định, tỉnh Lạng Sơn).

4. Về án phí: Buộc các bị cáo mỗi người phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm để nộp ngân sách nhà nước.

5. Quyền kháng cáo: Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.

Cỡ chữ