- Tranh chấp gì? án hình sự — "Đào Văn N - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: bị cáo Đào Văn N phạm tội “Đánh bạc”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN K TỈNH NINH BÌNH Bản án số: 61/2022/HS-ST | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Ngày: 29/6/2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN K, TỈNH NINH BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Hoàng Ngọc Hưng
Các hội thẩm nhân dân:
Bà Trần Thị Lệ Dung
Ông Trần Văn Nghi
- Thư ký phiên tòa: ông Phạm Văn Thành - Thư ký Tòa án nhân dân huyện K, tỉnh Ninh Bình.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện K, tỉnh Ninh Bình tham gia phiên tòa: ông Trương Minh Tuấn - Kiểm sát viên.
Ngày 29/6/2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện K, tỉnh Ninh Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 58/2022/TLST-HS ngày 10/6/2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 61/2022/QĐXXST-HS ngày 17/6/2022 đối với:
- Bị cáo: Đào Văn N, sinh năm 1989; nơi sinh: huyện K, tỉnh Ninh Bình; nơi cư trú: Xóm 12, xã K, huyện K, tỉnh Ninh Bình; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ học vấn: 12/12; bố đẻ: Đào Văn M; mẹ đẻ: Vũ Thị Q; vợ, con: chưa có; tiền án: không.
Tiền sự: Tại Quyết định xử phạt hành chính số 47/QĐ-XPHC ngày 08/02/2021 của Công an huyện Y, tỉnh Ninh Bình xử phạt Đào Văn N số tiền 1.000.000 đồng về hành vi đánh bạc, chưa được xóa vi phạm
Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 29/3/2022 đến nay, có mặt tại phiên tòa.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: chị Nguyễn Thị T, sinh năm 1972; nơi cư trú: Xóm 6, xã N, huyện K, tỉnh Ninh Bình “vắng mặt”
- Người chứng kiến: anh Trần Văn H “vắng mặt”
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Nguyễn Thị T, sinh năm 1972; trú tại: xóm 6, xã N, huyện K ký hợp đồng làm đại lý cho Công ty TNHH MTV xổ số kiến thiết tỉnh Ninh Bình từ ngày 01/01/2022, địa điểm đặt bàn bán xổ số tại xóm 14, xã H, huyện K, tỉnh Ninh Bình. Quá trình bán xổ số, T còn bán số lô, số đề trái phép cho khách có nhu cầu chơi. Hình thức trả thưởng: số đề sẽ đối chiếu với 02 số cuối của giải đặc biệt kết quả xổ số kiến thiết miền Bắc hàng ngày, nếu khách mua trúng thưởng thì T phải trả gấp 80 lần số tiền người mua bỏ ra; số lô xiên thì đối chiếu với 02 số cuối của tất cả các giải xổ số kiến thiết miền Bắc, nếu trúng thì người mua được gấp 10 lần số tiền người mua đã bỏ ra.
Hồi 17 giờ 50 phút ngày 12/01/2022, Đào Văn N đến bàn xổ số của T hỏi mua số đề 38 với giá 30.000 đồng, số đề 32 với giá 10.000 đồng và 01 cặp lô xiên 54, 55 với giá 60.000 đồng, T đồng ý. Sau đó, T lấy 01 mảnh giấy là cáp đề ghi các số lô xiên, số đề rồi đưa cho N, khi T đang nhận số tiền 100.000 đồng từ N thì bị Công an xã H, huyện K phát hiện, lập biên bản. Thu giữ của T số tiền 100.000 đồng; thu giữ của N 01 mảnh giấy là cáp đề có kích thước (10x7)cm.
Bản cáo trạng số 65/CT-VKS-KS ngày 13/6/2022 Viện kiểm sát nhân dân huyện K, tỉnh Ninh Bình truy tố bị cáo Đào Văn N về tội “Đánh bạc” quy định tại khoản 1, khoản 3 Điều 321 Bộ luật Hình sự. Tại phiên toà Kiểm sát viên tham gia phiên toà giữ nguyên quyết định truy tố như nội dung bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Đào Văn N phạm tội “Đánh bạc”.
Áp dụng: khoản 1 Điều 321; các điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Đào Văn N từ 20 triệu đồng đến 25 triệu đồng để nộp vào ngân sách Nhà nước.
* Về xử lý vật chứng và các biện pháp tư pháp khác: căn cứ khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự và khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước số tiền 100.000 đồng, là tiền bị cáo sử dụng vào việc phạm tội.
Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Buộc bị cáo phải nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật
Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận đã thực hiện toàn bộ hành vi nêu trên và không có ý kiến tranh luận với luận tội của đại diện Viện Kiểm sát. Lời nói sau cùng bị cáo xin HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, tội danh và điều luật áp dụng: Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án như: Biên bản sự việc lập ngày 12/01/2022; vật chứng thu giữ của vụ án; lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án và lời khai người chứng kiến, đã có đủ cơ sở kết luận: bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến trật tự công cộng được pháp luật bảo vệ, nhưng vẫn cố ý thực hiện, hành vi đó gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự ở địa phương, là nguyên nhân phát sinh nhiều loại tội phạm khác; cụ thể: vào hồi 17 giờ 50 phút ngày 12/01/2022 tại bàn xổ số của chị Nguyễn Thị T đặt tại khu vực xóm 14, xã H, huyện K, tỉnh Ninh Bình, bị cáo Đào Văn N có hành vi mua số đề, số lô xiên của chị T, với số tiền sử dụng vào việc đánh bạc là 100.000 đồng, mặc dù số tiền sử dụng vào việc đánh bạc chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự, nhưng trước đó bị cáo đã từng bị xử lý hành chính về hành vi đánh bạc chưa được xóa vi phạm mà còn vi phạm, nên lần vi phạm này đã đủ yếu tố cấu thành tội “Đánh bạc”
“Điều 321. Tội đánh bạc
1. Người nào đánh bạc trái phép dưới bất kỳ hình thức nào được thua bằng tiền hay hiện vật trị giá từ 5.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 5.000.000 đồng nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc hành vi quy định tại Điều 322 của Bộ luật này hoặc đã bị kết án về tội này hoặc tội quy định tại Điều 322 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.
………
3. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng”
Từ sự phân tích nêu trên, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở khẳng định bị cáo Đào Văn N phạm tội “Đánh bạc”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1, khoản 3 Điều 321 của Bộ luật Hình sự như đã được viện dẫn. Do vậy, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện K truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Về nhân thân: bị cáo có tiền sự về hành vi đánh bạc.
Về tình tiết tăng nặng: không có.
Về tình tiết giảm nhẹ: quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo “thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải” và “phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng” được quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo có nhân thân tốt, có nhiều tình tiết giảm nhẹ, có nơi cư trú rõ ràng, có thể tự cải tạo được, số tiền sử dụng vào việc phạm tội ít, nên chỉ cần áp dụng hình phạt chính là phạt tiền đối với bị cáo cũng đủ răn đe, giáo dục bị cáo thành công dân có ích cho gia đình và xã hội.
Về xử lý vật chứng và biện pháp tư pháp: đối với số tiền 100.000 đồng thu giữ của chị T là tiền bị cáo sử dụng vào việc phạm tội, cần tịch thu sung ngân sách nhà nước; đối với 01 cáp đề là tài liệu liên quan trực tiếp đến vụ án, nên lưu trong hồ sơ vụ án.
Về các vấn đề khác: đối với hành vi của chị Nguyễn Thị T bán số lô, số đề cho bị cáo N, do số tiền sử dụng vào việc đánh bạc dưới 5.000.000 đồng; chị Thủy chưa có tiền án, tiền sự về tội “Đánh bạc, Tổ chức đánh bạc hoặc Gá bạc” nên chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự về tội “Đánh bạc”. Công an huyện K đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Đánh bạc” đối với chị Thủy là đúng quy định của pháp luật.
Đối với người đàn ông mà chị T khai là sau khi bán số lô, số đề rồi tổng hợp cho người này, nhưng chị T không biết tên tuổi, địa chỉ của họ. Do đó Cơ quan CSĐT Công an huyện K không có căn cứ để điều tra, xác minh người đàn ông trên để xử lý theo quy định của pháp luật.
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện K, điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện K, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về án phí: buộc bị cáo Đào Văn N phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; khoản 2 Điều 106; khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự, Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
1. Tuyên bố: bị cáo Đào Văn N phạm tội “Đánh bạc”.
Xử phạt bị cáo Đào Văn N số tiền 20.000.000 (hai mươi triệu) đồng, để nộp vào ngân sách Nhà nước
2. Xử lý vật chứng và và biện pháp tư pháp: tịch thu sung vào ngân sách nhà nước số tiền 100.000 đồng.
(Chi tiết như Ủy nhiệm chi ngày 20/6/2022 giữa Cơ quan CSĐT Công an huyện K và Chi cục Thi hành án dân sự huyện K).
3. Án phí: buộc bị cáo Đào Văn N phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Ninh Bình; - VKSND huyện K; - VKSND tỉnh Ninh Bình; - Công an huyện K; - THADS huyện K; - Bị cáo; người LQ; - Lưu hồ sơ, VP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Hoàng Ngọc Hưng |