- Tranh chấp gì? án hình sự — "Bị cáo Phạm Quang Đ phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số đ…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Bùi Quang Đ phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIA LỘC, TỈNH HẢI DƯƠNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 61/2022/HS-ST Ngày: 22/9/2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIA LỘC, TỈNH HẢI DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Bùi Thị Giang.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Duy Hiển và bà Nguyễn Thị Phương Minh.
- Thư ký phiên toà: Bà Vũ Thị Thanh Tâm - Thư ký Toà án nhân dân huyện Gia Lộc, tỉnh Hải Dương.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Gia Lộc, tỉnh Hải Dương tham gia phiên toà:
Bà Nguyễn Thị Thanh - Kiểm sát viên tại điểm cầu trung tâm.
Ông Nguyễn Trác Dương - Kiểm sát viên tại điểm cầu thành phần.
Ngày 22/9/2022, tại điểm cầu trung tâm tại phòng xét xử của Tòa án nhân dân huyện Gia Lộc, tỉnh Hải Dương và điểm cầu thành phần tại nhà tạm giữ Công an huyện Gia Lộc, tỉnh Hải Dương, Tòa án nhân dân huyện Gia Lộc, tỉnh Hải Dương xét xử sơ thẩm công khai, trực tuyến vụ án hình sự thụ lý số 56/2022/TLST-HS ngày 07 tháng 9 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 60/2022/QĐXXST-HS ngày 12/9/2022, đối với bị cáo:
Bùi Quang Đ, sinh năm 1990, tại thị trấn GL, huyện GL, tỉnh Hải Dương; Nơi cư trú: Số X NVT, thị trấn GL, huyện GL, tỉnh Hải Dương; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa (học vấn): 9/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Họ và tên cha: Bùi Quang Đ1 (đã chết); Họ và tên mẹ: Nguyễn Thị B, sinh năm 1956; Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Ngày 04/5/2011 Chủ tịch UBND huyện Gia Lộc ra Quyết định về việc áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa người nghiện ma túy vào cơ sở chữa bệnh số 3385/QĐ-UBND đối với Bùi Quang Đ thời hạn 24 tháng (Đ đã chấp hành xong, đã được xóa); Bản án số 67/2019/HS-ST ngày 30/8/2019 của Tòa án nhân dân huyện Gia Lộc xử phạt Đ 14 tháng tù về tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy (ngày 17/6/2020 Đ chấp hành xong bản án; đã được xóa án tích).
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 29/7/2022 đến ngày 01/8/2022, tạm giam từ ngày 01/8/2022 đến nay tại Nhà tạm giữ Công an huyện Gia Lộc. Có mặt.
- Người làm chứng:
1. Anh Phan Văn S, sinh năm 1988. Vắng mặt.
2. Anh Phan Hữu D, sinh năm 1988. Vắng mặt.
3. Bà Nguyễn Thị B sinh năm 1956. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Bùi Quang Đ là người sử dụng ma túy, loại ma túy đá. Tối ngày 28/7/2022, Đ đi xe bus từ nhà đến khu vực cầu LC, thành phố HD để tìm mua túy đá để sử dụng cho bản thân và bán lại kiếm lời. Tại đây Đ đã mua được của một người đàn ông, theo Đ trình bày tên là D1, không rõ tuổi, địa chỉ 01 túi ma túy đá với số tiền 1.500.000 đồng. Sau khi mua được ma túy đá, Đ đem về nhà và lên phòng ngủ tầng hai chia thành 11 túi nilon nhỏ, sau đó đựng vào 01 túi nilon lớn rồi cất giấu dưới chiếu đầu giường ngủ của Đ, mục đích nếu có ai hỏi mua thì bán kiếm lời. Khoảng 20 giờ 20 phút ngày 29/7/2022, Đ đang ở trên phòng ngủ tầng hai nhà mình thì nghe thấy có người gọi “Đ ơi”. Đ nghĩ có người nghiện đến hỏi mua ma túy nên Đ đem theo 01 túi nilon chứa ma túy đá, cầm trong lòng bàn tay phải, đi từ tầng hai xuống cửa ra vào tầng một, mục đích để bán túi ma túy đá. Khi Đ đi xuống cửa tầng một thì thấy có anh Phan Văn S, sinh năm 1988; trú tại: thôn PT, xã TT, huyện GL và anh Phan Hữu D, sinh năm 1988; trú tại: thôn ĐB, xã GX, huyện GL đi đến trước cửa nhà. Đ nghĩ anh S và anh D đến để mua ma túy đá. Ngay lúc đó, khoảng 20 giờ 30 phút cùng ngày, lực lượng Công an huyện Gia Lộc phối hợp với Công an thị trấn GL đã phát hiện bắt quả tang. Thu giữ trong lòng bàn tay phải của Đ đang cầm 01 túi nilon trong suốt, hình chữ nhật, kích thước (1,4x2,2) cm, miệng túi kẹp kín có một đường kẻ ngang màu đỏ bên trong có chứa chất rắn dạng tinh thể màu trắng (niêm phong ký hiệu M), Đ trình bày đó là ma túy đá mục đích để bán kiếm lời. Quá trình bắt giữ có anh Phan Văn S và Phan Hữu D, mẹ đẻ Đ là bà Nguyễn Thị B, sinh năm 1956, trú tại: Số nhà X NVT, khu Y, thị trấn GL, huyện GL, tỉnh Hải Dương là người làm chứng.
Khám xét khẩn cấp chỗ ở của Đ tại số nhà X NVT, Khu Y, thị trấn GL, huyện GL, thu giữ:
- Tại dưới chiếu ở đầu giường ngủ tầng hai 01 túi nilon trong suốt, hình chữ nhật có kích thước (6,3x10) cm, miệng túi kẹp kín có đường kẻ ngang màu đỏ, trong túi có 10 (mười) túi nilon trong suốt, hình chữ nhật kích thước mỗi túi (1,4x2,2) cm, miệng túi kẹp kín có đường kẻ ngang màu đỏ, bên trong mỗi túi có chứa chất rắn dạng tinh thể màu trắng (niêm phong ký hiệu M1). Đ khai nhận ma túy đá, cất giấu để bán kiếm lời.
- Tại mặt bàn gấp, kê cạnh đầu giường gồm:
+ 01 (một) túi nilon trong suốt, hình chữ nhật, kích thước (8x12) cm, miệng túi kẹp kín; bên trong có 39 túi nilon hình chữ nhật, kích thước (1,4x2,2) cm, miệng túi kẹp kín có 1 đường kẻ ngang màu đỏ bên trong không đựng gì. (niêm phong ký hiệu M2). Đ khai dùng để chia nhỏ ma túy ra để bán kiếm lời.
+ 01 (một) cân điện tử, không có nhãn hiệu, vỏ màu bạc, kích thước (2 x 6 x 12) cm (Niêm phong ký hiệu M3). Đ khai dùng cân để chia ma túy sang các túi nilon nhỏ.
Tại kết luận giám định số 442/KL-KTHS ngày 31/7/2022 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hải Dương, kết luận:
- Chất rắn (dạng tinh thể) màu trắng trong túi nilon màu trắng được niêm phong trong phong bì ký hiệu M, gửi đến giám định khối lượng là 0,220g (không phẩy hai trăm hai mươi gam) là ma túy, loại Methamphetamine;
- Chất rắn (dạng tinh thể) màu trắng trong 10 (mười) túi nilon màu trắng, được niêm phong trong phong bì hiệu M1, gửi đến giám định tổng khối lượng là 2,282g (hai phẩy hai trăm tám mươi hai gam) là ma túy, loại Methamphetamine.
Cáo trạng số 59/CT-VKS ngày 05/9/2022, Viện kiểm sát nhân dân (VKSND) huyện Gia Lộc, tỉnh Hải Dương truy tố Bùi Quang Đ về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự (BLHS).
Tại phiên tòa, đại diện VKSND huyện Gia Lộc giữ nguyên quyết định truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử (HĐXX): Căn cứ vào khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; điểm a,c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự (BLHS); điểm a, c khoản 2 Điều 106, Điều 135, Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự (BLTTHS); Luật phí và lệ phí năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án đối với bị cáo Bùi Quang Đ. Đề nghị HĐXX tuyên bố bị cáo Bùi Quang Đ phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, xử phạt bị cáo từ 45 tháng đến 48 tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 29/7/2022;
Về xử lý vật chứng: Tịch thu, tiêu hủy:
- 0,170 gam ma túy loại Methamphetamine, 01 vỏ túi nilon màu trắng và 01 vỏ phong bì niêm phong mẫu vật ký hiệu M, được hoàn lại sau giám định (được đựng trong 01 phong bì niêm phong ký hiệu T1);
- 2,172 gam ma túy loại Methamphetamine, 11 vỏ túi nilon màu trắng và 01 vỏ phong bì niêm phong mẫu vật ký hiệu M1, được hoàn lại sau giám định (được đựng trong 01 phong bì niêm phong ký hiệu T2);
- 01 túi nilon và 39 túi nilon nhỏ (được đựng trong 01 phong bì niêm phong ký hiệu M2).
- 01 cân điện tử (được đựng trong 01 phong bì niêm phong ký hiệu M3).
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí HSST.
Bị cáo thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình, xác định nội dung bản kết luận điều tra của Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an huyện Gia Lộc và quyết định truy tố, luận tội của VKSND huyện Gia Lộc đối với bị cáo là đúng và đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng: Trong quá trình điều tra, truy tố Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của BLTTHS. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại gì. Do đó, hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện được xác định là hợp pháp.
Lời khai của bị cáo tại phiên tòa hôm nay phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với nội dung biên bản bắt người phạm tội quả tang, lời khai của người làm chứng, kết luận giám định và một số tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, HĐXX có đủ cơ sở kết luận: Hồi 20 giờ 30 phút ngày 29/7/2022 tại trước cửa số nhà X đường NVT, khu Y, thị trấn GL, huyện GL, Bùi Quang Đ có hành vi cất giấu trái phép trong lòng bàn tay phải 0,220 gam ma túy loại Methamphetamine, mục đích để bán, thì bị phát hiện bắt quả tang. Khám xét khẩn cấp chỗ ở của Đ đã thu giữ 2,282gam ma túy loại Methamphetamine. Tổng khối lượng ma túy loại Methamphetamine Đ cất giấu để sử dụng và bán kiếm lời là: 0,220 gam+ 2,282 gam= 2,502 gam.
Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi mua bán trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật nhưng do lười lao động, bị cáo vẫn cố ý thực hiện để thu lợi bất chính, kiếm tiền tiêu xài cá nhân. Dó đó, VKSND huyện Gia Lộc truy tố bị cáo về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự là hoàn toàn có căn cứ, đúng pháp luật.
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm trực tiếp đến chính sách độc quyền quản lý các chất ma túy của Nhà nước, gây tác hại lớn về nhiều mặt, ảnh hưởng xấu tới tình hình an ninh trật tự tại địa phương. Ma túy có tác hại rất lớn đến con người cũng như toàn xã hội. Nó không chỉ là nguyên nhân lây truyền căn bệnh thế kỷ HIV/AIDS mà còn là nguồn phát sinh các loại vi phạm, tội phạm khác. Do đó cần thiết phải áp dụng một mức hình phạt nghiêm khắc mới đủ tác dụng giáo dục, trừng trị, răn đe và phòng ngừa chung trong xã hội.
Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo là người có nhân thân xấu. Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS.
Căn cứ vào quy định của Bộ luật Hình sự, cân nhắc tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, HĐXX thấy cần thiết phải áp dụng hình phạt tù có thời hạn, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống chung của xã hội một thời gian thích hợp để Nhà nước giáo dục bị cáo trở thành công dân có ích cho xã hội và đảm bảo tính nghiêm minh của pháp luật.
Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có nghề nghiệp và thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Về vật chứng:
- Đối với những vật chứng đựng trong 01 phong bì niêm phong ký hiệu T10, gồm: 0,170 gam ma túy loại Methamphetamine hoàn lại sau giám định, đây là vật thuộc loại Nhà nước cấm tàng trữ, cấm lưu hành nên cần tịch thu, tiêu hủy; Còn 01 vỏ túi nilon màu trắng và 01 vỏ phong bì niêm phong mẫu vật ký hiệu M, xét thấy đây là vật không có giá trị nên cần tịch thu, tiêu hủy ;
- Đối với những vật chứng đựng trong 01 phong bì niêm phong ký hiệu T2, gồm: 2,172 gam ma túy loại Methamphetamine, đây là vật thuộc loại Nhà nước cấm tàng trữ, cấm lưu hành nên cần tịch thu, tiêu hủy; Còn 11 vỏ túi nilon màu trắng và 01 vỏ phong bì niêm phong mẫu vật ký hiệu M1, xét thấy đây là vật không có giá trị nên cần tịch thu, tiêu hủy;
- Đối với những vật chứng đựng trong 01 phong bì niêm phong ký hiệu M2 gồm: 01 túi nilon và 39 túi nilon nhỏ, xét thấy đây là vật không có giá trị nên cần tịch thu, tiêu hủy.
- Đối với vật chứng đựng trong 01 phong bì niêm phong ký hiệu M3, gồm có 01 cân điện tử, xét thấy đây là công cụ mà bị cáo dùng để chia nhỏ ma túy mang đi bán nên cần tịch thu, tiêu hủy.
Về nguồn gốc ma túy: Bị cáo Bùi Quang Đ khai đã mua của một đàn ông tên là D1, không rõ tuổi địa chỉ tại khu vực cầu LC, thành phố HD, quá trình điều tra không xác định được người này là ai, ở đâu nên không có căn cứ xử lý.
Về án phí: Bị cáo có tội nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng khoản 1 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38, điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106, các Điều 135, Điều 136, Điều 331, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án đối với bị cáo Bùi Quang Đ.
1. Tuyên bố: Bị cáo Bùi Quang Đ phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
Xử phạt bị cáo Bùi Quang Đ 45 (Bốn mươi lăm) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 29/7/2022.
Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng.
2. Về xử lý vật chứng: Tịch thu, tiêu hủy:
- 0,170 gam ma túy loại Methamphetamine, 01 vỏ túi nilon màu trắng và 01 vỏ phong bì niêm phong mẫu vật ký hiệu M (được đựng trong 01 phong bì niêm phong dán kín số 442/KL-KTHS của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hải Dương, mặt sau của phong bì có 03 hình dấu đỏ niêm phong của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hải Dương, có ký hiệu T1);
- 2,172 gam ma túy loại Methamphetamine, 11 vỏ túi nilon màu trắng và 01 vỏ phong bì niêm phong mẫu vật ký hiệu M1 (được đựng trong 01 phong bì niêm phong dán kín số 442/KL-KTHS của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hải Dương, mặt sau của phong bì có 03 hình dấu đỏ niêm phong của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hải Dương ký hiệu T2);
- 01 túi nilon và 39 túi nilon nhỏ (được đựng trong 01 phong bì niêm phong dán kín, có đóng dấu của công an thị trấn GL, ký hiệu M2).
- 01 cân điện tử (được đựng trong 01 phong bì niêm phong dán kín, có đóng dấu của công an thị trấn GL, ký hiệu M3).
(Đặc điểm vật chứng theo Biên bản giao nhận vật chứng giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện Gia Lộc và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Gia Lộc ngày 07/9/2022).
3. Về án phí: Bị cáo Bùi Quang Đ phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.
| Nơi nhận: - Bị cáo; - Viện kiểm sát nhân dân huyện Gia Lộc; - Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương; - Cơ quan điều tra Công an huyện Gia Lộc; - Bộ phận hồ sơ nghiệp vụ Công an huyện Gia Lộc; - Cơ quan Thi hành án hình sự Công an huyện Gia Lộc; - Nhà tạm giữ - Công an huyện Gia Lộc; - Chi cục Thi hành án dân sự huyện Gia Lộc; - Sở Tư pháp tỉnh Hải Dương; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Bùi Thị Giang |