vanban.org

Bản án 61/2022/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Định Hóa, tỉnh Thái Nguyên Tuyên án 12/12/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Trần Văn N phạm tội: “Mua bán trái phép chất ma túy”

Về hình phạt chính: Xử phạt bị cáo Trần Văn N 36 (ba mươi sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị tạm giữ, tạm giam ngày 15/9/2022. Về hình phạt bổ sung: Phạt bổ sung bị cáo Trần Văn N 5.000.000 đồng (năm triệu đồng) sung quỹ Nhà nước. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Văn N - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Trần Văn N phạm tội: “Mua bán trái phép chất ma túy”
  • Căn cứ chính? Điều 251 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN ĐỊNH HÓA
TỈNH THÁI NGUYÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 61/2022/HS-ST
Ngày 12/12/2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT N

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỊNH HOÁ, TỈNH THÁI NGUYÊN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Thiện Hoàng.

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Nguyễn Thị Tâm;

2. Bà Tô Thị Ninh.

- Thư ký phiên tòa: Bà Hà Thị Diễm - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Định Hoá, tỉnh Thái Nguyên.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Định Hoá, tỉnh Thái Nguyên tham gia phiên tòa: Ông Đinh Ngọc Vĩnh - Kiểm sát viên.

Ngày 12/12/2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 68/2022/TLST-HS ngày 08 tháng 11 năm 2022, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 75/2022/QĐXXST - HS ngày 28/11/2022, đối với bị cáo:

Họ và tên: Trần Văn N,(Tên gọi khác: Không),sinh ngày 10/11/1988 tại huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên.

Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và nơi ở hiện nay: Xóm BD, xã ĐM, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên; nghề nghiệp: Làm ruộng; trình độ văn hóa: Lớp 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: N; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt N; con ông Trần Văn Huấn và bà Vũ Thị Chắt; có vợ : La Thị Dung và 02 con; tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 15/9/2022, cho đến nay, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Định Hoá, tỉnh Thái Nguyên, (có mặt).

* Người làm chứng:

- Anh Hoàng Văn Gấm, sinh ngày 09/5/1977. Nơi cư trú: Xóm Đồng Lá 1, xã ĐM, huyện Định Hoá, tỉnh Thái Nguyên, (vắng mặt).

- Anh Lèng Văn Toán, sinh ngày 27/3/1983. Nơi cư trú: Xóm Làng Dạ, xã Tân Thịnh, huyện Định Hoá, tỉnh Thái Nguyên, ( vắng mặt).

- Anh Ma Phúc Được, sinh ngày 20/3/1983. Nơi cư trú: Xóm BD, xã ĐM, huyện Định Hoá, tỉnh Thái Nguyên, ( vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 13 giờ 00 phút ngày 15/9/2022, tổ công tác Công an xã ĐM, huyện Đ đang làm nhiệm vụ tuần tra kiểm soát tại khu vực xóm xóm Bắc Dọoc, xã ĐM thì nhận được tin báo của quần chúng nhân dân cung cấp tại nhà ở của Trần Văn N, có một số đối tượng đang tụ tập có biểu hiện mua bán trái phép chất ma túy nên đã tiến hành kiểm tra hành chính. Khi tổ công tác đến nhà N, có Trần Văn N, Hoàng Văn Gấm và Lèng Văn Toán, đang có mặt tại đây. Quá trình kiểm tra, N tự giác giao nộp cho tổ công tác 02 gói chất bột màu trắng được gói bằng giấy bạc màu vàng từ túi quần phía sau, bên trái đang mặc trên người (N khai là ma túy) và 01 tờ tiền mệnh giá 100.000 đồng. Kiểm tra đối với Gấm và Toán không phát hiện, thu giữ gì. Tổ công tác tiến hành niêm phong vật chứng, lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và chuyển cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đ giải quyết theo thẩm quyền. Cùng ngày Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đ đã tiến hành khám xét nhà ở của N nhưng không thu giữ gì thêm.

Kết quả cân xác định khối lượng 02 gói chất bột màu trắng thu giữ của Trần Văn N ngày 15/9/2022, có tổng khối lượng là 0,150 gam, niêm phong trong phong bì ký hiệu A2 gửi giám định.

Tại Bản kết luận giám định số 1448/KL-KTHS ngày 23/9/2022, của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Nguyên kết luận: Chất bột màu trắng thu giữ của Trần Văn N trong phong bì kí hiệu A2 gửi giám định là chất ma túy loại Heroine, có khối lượng 0,150 gam. Hoàn trả 0,140 gam mẫu A2 còn lại sau giám định và vỏ bao gói mẫu được niêm phong đúng quy định, ký hiệu A2.

Quá trình điều tra, Trần Văn N khai nhận: Bản thân N là đối tượng nghiện chất ma tuý, khoảng 08 giờ ngày 15/9/2022, N đi bộ từ nhà ra đường 264B sau đó bắt xe buýt đến khu vực xã Bình Yên, huyện Định Hoá để tìm mua ma tuý. Khi đến khu vực ngã ba Bình Yên, thuộc xóm Yên Thông, xã Bình Yên, N xuống xe buýt, gặp và hỏi mua của một người đàn ông không quen biết được 03 gói ma tuý, loại Heroine với giá 200.000 đồng. Sau khi về nhà, N đã sử dụng cho bản thân hết 01 gói ma tuý, loại Heroine bằng hình thức “hít”, còn 02 gói ma tuý, N cất giấu trong người, mục đích để có ai hỏi mua sẽ bán lại kiếm lời. Khoảng 12 giờ 45 phút, ngày 15/9/2022 N đang ở nhà thì Hoàng Văn Gấm và Lèng Văn Toán đến nhà gặp N, mục đích mua ma túy của N về sử dụng. Khi nói chuyện, Gấm hỏi N “Có ma túy bán không?”, N trả lời “Có”, ngay sau đó Gấm đưa cho N một tờ tiền mệnh giá 100.000 đồng, N nhận tiền và cất vào túi quần bên phải phía sau. Khi N đang chuẩn bị lấy ma túy để đưa lại cho Gấm thì bị Công an xã ĐM phát hiện bắt quả tang, thu giữ vật chứng như đã nêu trên.

Vật chứng vụ án gồm: 01 bì niêm phong ký hiệu A2 bên trong có 0,140 gam ma túy loại Heroine còn lại sau giám định và vỏ bao gói mẫu; 01 bì niêm phong ký hiệu A3 bên trong là vỏ bì niêm phong vật chứng khi bắt quả tang và 02 mảnh giấy bạc màu vàng và 100.000 đồng đang được bảo quản tại kho vật chứng và tài khoản tiền gửi của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đ chờ xử lý.

Với hành vi nêu trên, tại bản cáo trạng số: 64/CT - VKS ngày 07/11/2022, Viện kiểm sát nhân dân huyện Định Hoá, tỉnh Thái Nguyên đã truy tố bị cáo Trần văn N ra xét xử về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự.

Tại phần tranh luận, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo. Sau khi phân tích tính chất, nội dung, hành vi phạm tội, hậu quả và tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đã đề nghị Hội đồng xét xử:

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Trần Văn N phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Áp dụng khoản 1 và khoản 5 Điều 251, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Về hình phạt chính: Xử phạt bị cáo Trần Văn N từ 36 đến 42 tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 15/9/2022;

Về hình phạt bổ sung: Phạt bổ sung bị cáo từ 5 triệu đồng đến 10 triệu đồng sung quỹ Nhà nước.

Về vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 01 bì niêm phong ký hiệu A2 bên trong có 0,140 gam (không phẩy một trăm bốn mươi gam) ma túy loại Heroine còn lại sau giám định và vỏ bao gói mẫu; 01 bì niêm phong ký hiệu A3, bên trong là vỏ bì niêm phong vật chứng khi bắt quả tang và 02 mảnh giấy bạc màu vàng; tịch thu sung quỹ nhà nước 100.000 đồng (một trăm nghìn đồng) là số tiền N bán Heroine cho Gấm mà có.

Án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Phần tranh luận, đối đáp: Bị cáo không có tranh luận, bào chữa gì.

Lời nói sau cùng: Bị cáo mong Hội đồng xét xử cho hưởng mức án nhẹ nhất, sớm được trở về đoàn tụ với gia đình.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

. Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, đúng trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự và đều hợp pháp.

. Về tội danh và điều luật áp dụng: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa ngày hôm nay, bị cáo Trần văn N đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với các lời khai tại cơ quan điều tra; phù hợp với lời khai của Gấm, Toán về thời gian, địa điểm về số Heroine, số tiền bị cáo N bán Heroine cho Gấm và số Heroine bị thu giữ. Phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, kết luận giám định và các tài liệu, chứng cứ khác Cơ quan điều tra đã thu thập được khách quan có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử thấy có đủ căn cứ kết luận:

N là đối tượng nghiện chất ma tuý, khoảng 08 giờ ngày 15/9/2022, N đi bộ từ nhà ra đường 264B sau đó bắt xe buýt đến khu vực ngã ba Bình Yên, thuộc xóm Yên Thông, xã Bình Yên, gặp và hỏi mua của một người đàn ông không quen biết được 03 gói ma tuý loại Heroine với giá 200.000 đồng. Sau khi về nhà, N đã sử dụng cho bản thân hết 01 gói ma tuý loại Heroine bằng hình thức “hít”, còn 02 gói ma tuý, N cất giấu trong người, mục đích để có ai hỏi mua sẽ bán lại kiếm lời. Khoảng 12 giờ 45 phút, ngày 15/9/2022 N đang ở nhà thì Hoàng Văn Gấm và Lèng Văn Toán đến nhà gặp N để hỏi mua ma túy về sử dụng và được N đồng ý. Gấm đưa cho N một tờ tiền mệnh giá 100.000 đồng, N cất vào túi quần bên phải phía sau và chuẩn bị lấy ma túy để đưa cho Gấm thì bị Công an xã ĐM phát hiện bắt quả tang, thu giữ 02 gói ma tuý loại Heroine của bị cáo N có tổng khối lượng là 0,150 gam, mục đính để bán kiếm lời.

Hành vi nêu trên của bị cáo Trần Văn N đã đủ yếu tố cấu thành tội mua bán trái phép chất ma túy theo khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự .

Điều 251 Bộ luật hình sự quy định:

“1. Người nào mua bán trái phép chất ma túy, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm…”

Do đó, bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Định Hoá, tỉnh Thái Nguyên đã truy tố bị cáo về tội danh và điều luật viện dẫn ở trên và lời luận tội của Kiểm sát viên tại phiên tòa là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.

. Xét tính chất, hậu quả hành vi của bị cáo thấy rằng: Hành vi của bị cáo N là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm quy định của Nhà nước về quản lý, sử dụng chất ma tuý. Hành vi của bị cáo đã tiếp tay cho những người nghiện có ma túy để sử dụng, gây mất trật tự trị an ở địa phương. Hành vi của bị cáo là vi phạm pháp luật, nhưng vì hám lời và để phục vụ nhu cầu sai trái của bản thân nên bị cáo vẫn cố tình thực hiện với lỗi cố ý, cần được xử lý nghiêm minh.

. Xét nhân thân và tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo thấy rằng:

Bị cáo N chưa có tiền án, tiền sự, trong quá trình điều tra và tại phiên tòa ngày hôm nay bị cáo thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, vì vậy bị cáo được hưởng 01 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là người phạm tội thành khẩn khai báo theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo có bố được tặng thưởng Huân chương kháng chiến hạng nhì. Vì vậy bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.

Căn cứ vào tính chất, mức độ hành vi phạm tội, sau khi đánh giá toàn diện về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống chung trong xã hội đối với bị cáo một thời gian, mới có tác dụng răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung trong xã hội. Mức hình phạt tù, hình phạt bổ sung vị đại diện Viện kiểm sát đề nghị đối với bị cáo là phù hợp, cần được xem xét khi lượng mức hình phạt đối với bị cáo.

. Về hình phạt bổ sung: Xét hành vi mua bán trái phép chất ma túy của bị cáo N nhằm kiếm lời, thu nhập bất chính, vì vậy cần áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo, phạt tiền bị cáo ở mức khởi điểm của khung hình phạt là phù hợp.

. Về vật chứng của vụ án: 01 (một) bì niêm phong ký hiệu A2 bên trong có 0,140 gam ma túy loại Heroine còn lại sau giám định và vỏ bao gói mẫu; 01 bì niêm phong ký hiệu A3, bên trong là vỏ bì niêm phong vật chứng khi bắt quả tang và 02 mảnh giấy bạc màu vàng, cần tịch thu tiêu hủy. Số tiền 100.000 đồng (một trăm nghìn đồng), bị cáo N bán Heroine cho Hoàng Văn Gấm mà có, cần tịch thu sung quỹ nhà nước.

. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Về nguồn gốc số Heroine bị cáo N mua của một người đàn ông không biết tên, tuổi, địa chỉ ở khu vực tại xóm Yên Thông, xã Bình Yên, không có đủ cơ sở để xác minh xử lý, khi nào xác định được đối tượng sẽ xử lý sau.

Đối với Hoàng Văn Gấm và Lèng Văn Toán là người mua Heroine của N để sử dụng, tuy nhiên Gấm mới chỉ đưa tiền cho N nhưng chưa nhận được ma túy, Toán đi cùng Gấm, trước đo Toán không biết Gấm đến nhà N là để mua ma túy, Toán không tham gia vào việc mua ma túy cùng Gấm. Vì vậy hành vi không cấu thành tội phạm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ Điều 326 của Bộ luật tố tụng hình sự;

1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Trần Văn N phạm tội: “Mua bán trái phép chất ma túy”

Áp dụng khoản 1 và khoản 5 Điều 251, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự.

- Về hình phạt chính: Xử phạt bị cáo Trần Văn N 36 (ba mươi sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị tạm giữ, tạm giam ngày 15/9/2022.

- Về hình phạt bổ sung: Phạt bổ sung bị cáo Trần Văn N 5.000.000 đồng (năm triệu đồng) sung quỹ Nhà nước.

Tiếp tục tạm giam bị cáo 45 ngày kể từ ngày tuyên án, ngày 12/12/2022 để bảo đảm cho việc thi hành án.

2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sư:

+ Tịch thu tiêu hủy 01 bì niêm phong ký hiệu A2 bên trong có 0,140 gam ma túy loại Heroine còn lại sau giám định và vỏ bao gói mẫu;

Tịch thu tiêu hủy 01 bì niêm phong ký hiệu A3, bên trong là vỏ bì niêm phong vật chứng khi bắt quả tang và 02 mảnh giấy bạc màu vàng;

+ Tịch thu sung quỹ Nhà nước 100.000đ (một trăm nghìn đồng) của bị cáo Trần Văn N.

(Tình trạng vật chứng như tại biên bản giao nhận vật chứng lập ngày 08/11/2022 giữa Công an huyện Đ và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đ và Giấy ủy nhiệm chi ngày 15/11/2022).

3. Về án phí và quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 135,136, 331, 333 của Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị Quyết số:326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

Bị cáo Trần Văn N phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm sung quỹ Nhà nước.

Án xử công khai sơ thẩm, có mặt bị cáo, báo cho biết có quyền kháng cáo trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Cỡ chữ